SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"HƯỚNG DẪN HỌC SINH TỰ HỌC, TỰ ĐỌC THÔNG QUA BÀI
GIẢNG TRÊN LỚP"
1
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
“Biết cách học là chứng tỏ bạn thông thái”
(Henrry Brooks Adams)
Vấn đề tự học của học sinh là một vấn đề quan trọng vì đó là một khâu trong quá
trình thống nhất của việc dạy học nhằm phát huy năng lực học tập tư duy của các em trên
lớp cũng như ở nhà. Vì vậy, vấn đề tự học của học sinh hiện nay hết sức cấp thiết. Vậy
xuất phát từ cơ sở nào mà vấn đề tự học hiện nay lại trở nên quan trọng và cần thiết như
vậy ?
I. Cơ sở lý luận
Trước thực trạng và tình hình thực tiễn của giáo dục Việt Nam, nhu cầu của người
học và sự bùng nổ tri thức của thế giới. Đảng ta đã xây dựng chiến lược phát triển giáo
dục và đào tạo giai đoạn 2001 – 2010. Trong đó vấn đề “đổi mới và hiện đại hóa phương
pháp giáo dục. Chuyển từ truyền đạt tri thức thụ động thầy giảng - trò ghi sang hướng
dẫn người đọc chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người học
phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống, có tư duy phân tích,
tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủ động, tính tích cực
chủ động của học sinh trong quá trình học tập”. (Báo giáo dục thời đại, số 25 ngày
26/3/2002).
Vấn đề phát huy tính tích cực của học sinh đã được đặt ra trong ngành giáo dục Việt
Nam từ những năm 1960. Ở thời điểm này các trường sư phạm đã có khẩu hiệu: “Biến
quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo” Trong cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai
3
Giáo dục trong thế kỷ XXI phải thực hiện được sứ mệnh nhân văn, giáo dục đóng
một vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng của mỗi đất
nước và tạo cơ hội học tập cho mỗi người dân. Trong xu thế dạy học ngày nay, thực hiện
dạy học theo phương pháp hiện đại người ta nghĩ ngay đến đổi mới trong nhà trường phổ
thông . Đổi mới phưong pháp dạy học là một trọng tâm của đổi mới giáo dục THPT
(trung học phổ thông). Luật Giáo dục điều 28 yêu cầu: “Phương pháp giáo dục phổ
thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động , sáng tạo của HS, phù hợp với đặc
điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận
dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập
cho học sinh”. Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là việc làm rất quan trọng và cần
thiết trong điều kiện hiện nay. Có thể khẳng định thời gian tự học là lúc học sinh có điều
kiện tự nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với tốc độ
thích hợp, điều đó không chỉ giúp các em nắm vấn đề một cách chắc chắn và bền vững
mà còn là dịp tốt để các em rèn luyện ý chí và năng lực hoạt động sáng tạo. Đây là phẩm
chất mà không ai cung cấp được nếu các em không thông qua hoạt động bản thân, nó là
vấn đề cần thiết cho sự phát triển và thành đạt lâu dài của mỗi con người. Trong quá trình
dạy học phải hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, duy trì sự hứng thú lôi cuốn các
em say mê trong học tập, tạo ra những tiết học thoải mái, có nhiều hoạt động kích thích
học sinh tư duy, thực hành, áp dụng kiến thức vào cuộc sống thông qua các câu hỏi gợi
mở, những thí nghiệm hướng cho người đọc sự tìm tòi, nghiên cứu để rút ra các kết luận.
Ngoài ra, phải động viên khen ngợi học sinhh đúng lúc, tạo mối quan hệ thân thiết với
người học, tình cảm với học sinh chia sẻ những khó khăn, vướng mắc tâm tư nguyện
vọng của học sinh, tạo cho học sinh các hoạt động vui chơi lồng nghép với trang bị kiến
thức, lắng nghe và trao đổi với học sinh. Có thể nói, hướng dẫn học sinh phương pháp tự
học cho học sinh trong giờ giảng dạy đã thu được nhiều kết quả và tạo nên sự chuyển
4
đề, thu thập xử lý thông tin, tái hiện kiến thức cũ, xây dựng các giải pháp, giải pháp vấn
đề, xử lý tình huống, thử nghiệm các giải pháp, kết quả kiến thức mới đã tự lực mình tìm
ra, tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”.
Chu Mạnh Nguyên cho rằng : “Tự học, tự nghiên cứu là một quá trình, trong đó
mỗi người tự suy nghĩ, tự sử dụng các năng lực trí tuệ và các phẩm chất của bản thân,
khai thác vận dụng những điều kiện vật chất có thể để biến một kiến thức nào đó của
người khác thành kiến thức sở hữu của mình, vận dụng một kiến thức nào đó của người
để làm cho công việc của bản thân có hiệu quả hơn”
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn đã đưa ra một quan niệm về tự học có thể xem khá
hoàn chỉnh : “Tự học là tự mình dùng các giác quan để thu nhận thông tin rồi tự mình
động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp và có khi
cả cơ bắp khi phải sử dụng công cụ) cùng với các phẩm chất của mình, rồi động cơ, tình
cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh cho được một lĩnh vực hiểu biết nào
đó, một số phẩm chất nào đó của nhân loại hay cộng đồng biến chúng thành sở hữu của
mình”.
Tự học có ba cấp độ:
+ Tự học không có thầy hoặc có thầy nhưng không gặp mặt thầy trong phần lớn thời
gian học tập.
+ Tự học có hướng dẫn, tức là học không giáp mặt thầy nhưng nhận được sự hướng
dẫn giúp đỡ từ xa.
+ Tự học, học mà không có thầy
Trong nhà trường phổ thông nói chung tự học là vấn đề hết sức quan trọng. Rèn
luyện năng lực tự học cho học sinh đặt lên vai người giáo viên, nhà trường, không chỉ
6
dạy cho học sinh kiến thức mà còn dạy cho các em cách tự học. Vậy tựu chung lại vấn đề
tự học xuất phát từ cơ sở lý luận nào ?
Xuất phát từ nguyên tắc dạy học nhà trường gắn liền với đời sống và nguyên tắc
tưởng chiến lược cơ bản của Đảng, lấy nội lực, năng lực tự học làm nhân tố quyết định sự
phát triển của bản thân người học và giáo dục đào tạo, làm cho giáo dục đào tạo sớm trở
thành khâu phát huy năng lực nội sinh của dân tộc đưa đất nước tiến nhanh lên công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Xuất phát từ nguyên tắc dạy học nêu vấn đề : Một trong những
con đường nhằm khắc phục tình trạng dạy học nhồi nhét kiến thức, phát huy trí thông
minh, năng lực độc lập trong nhận thức của học sinh là dạy học nêu vấn đề. Nhà giáo dục
Distervery người Đức đã nói : “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý, người thầy giáo
giỏi dạy cách tìm ra chân lý”, phương pháp dạy học nêu vấn đề chủ yếu nắm kiến thức,
song không phải chỉ để ghi nhớ thuộc lòng, mà tự sự kiện cần biết tự tạo nên tình huống
có vấn đề để giải quyết. Như vậy sẽ nhớ lâu, hiểu kĩ sự kiện hơn. Phương pháp nêu vấn
đề sẽ gây hứng thú học tập, phát huy tích cực tư duy học sinh và tạo cho học sinh biết tư
duy, suy nghĩ.
Theo M.I. Macmutop: “Dẫn dắt học sinh vào tình huống có vấn đề đó là trở ngại về
trí tuệ của con người, xuất hiện khi anh ta chưa biết cách giải thích hiện tượng, sự kiện,
quá trình của thực tế, khi chưa thể đạt tới mục đích bằng cách thức hành động quen
thuộc. Tình huống này kích thích con người tìm tòi cách giải thích hay hành động mới,
tình huống có vấn đề là quy luật của hoạt động nhận thức sáng tạo có hiệu quả”. “Nhiệm
vụ của người thầy giáo không phải là truyền đạt kiến mà dạy cho học sinh biết suy nghĩ”.
8
II. Cơ sở thực tiễn
Nhìn rộng ra thế giới chúng ta cũng thấy rằng: Không phải ngẫu nhiên Singapore chỉ
có khoảng 2 triệu dân mà dám chi ra hàng tỷ đô la cho việc cải cách giáo dục ở nhà
trường phổ thông. Cũng không phải tùy hứng mà Pie Lena, giáo sư vật lý thiên văn, viện
sĩ Viện hàn lâm Khoa học Pháp được Giải thưởng Noben năm 1992 đã đề xướng phong
trào “bàn tay nặn bột” nhằm phát triển tư duy sáng tạo ngay từ bậc tiểu học.
Đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường để xóa bỏ phương pháp dạy học
giáo điều là một đòi hỏi cấp bách nhằm giải phòng và phát huy tiềm năng sáng tạo cho
động, chỉ biết thuộc lòng không biết cách đặt vấn đề, tìm hiểu sâu hơn những kiến thức
trong sách giáo khoa.
Học sinh ngồi nghe giảng bài mà không biết tiến hành những hoạt động tư duy độc
lập trong việc lựa chọn những điều nghe được để ghi chép, nảy sinh những vấn đề mới
cần giải quyết hay có nhu cầu tìm hiểu sâu hơn những điều giáo viên trình bày.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài về vấn đề việc tự học hiện nay là hết sức cần thiết. Tự học
trong quá trình học tập của học sinh là việc các em độc lập hoàn thành những nhiệm vụ
được giao, với sự giúp đỡ, hướng dẫn, kiểm tra của giáo viên. Việc tự học như vậy bao
gồm cả việc tập dượt nghiên cứu (tìm tòi, nghiên cứu từng phần). Nó gây hứng thú học
tập, sự cố gắng của học sinh (nhất là học sinh cuối cấp) và đóng góp phần nào với xã hội
(chủ yếu là công tác xã hội). Việc tự học của học sinh diễn ra dưới nhiều hình thức khác
nhau :
- Những hoạt động tự nhận thức khi nghe giảng trên lớp (biết tự điều chỉnh để nghe
giảng, chọn lọc kiến thức để ghi chép, tự trả lời câu hỏi của giáo viên nêu ra...)
10
- Tự học sách giáo khoa theo các bước:
+ Đọc và tự ghi tóm tắt những vấn đề cơ bản của bài viết
+ Ghi lại những nội dung khó hiểu, đặc biệt là các thuật ngữ, khái niệm
+ Hoàn thành bài tập, câu hỏi sách giáo khoa
+ Tự làm việc với bản đồ, tranh ảnh ngoài sách giáo khoa
+ Tự đọc thêm các tài liệu, văn học trong các sách tư liệu tham khảo, sách đọc
thêm...nhằm hiểu rõ hơn kiến thức đã học, mở rộng sự hiểu biết.
+ Tự ôn tập dưới sự hướng dẫn của thầy.
Như thế chuyện tự học của học sinh không phải là vấn đề mới lạ. Có lạ chăng là sự
khôn ngoan đã từng giúp ích cho con người khôn lớn nhưng nhiều khi chính con người
lại bỏ quên những kinh nghiệm quý giá đó, biến nó thành thứ kho báu chìm lãng trong
lớp bụi thời gian.
PHẦN II : NỘI DUNG ĐỀ TÀI
Sau đây chúng tôi trình bầy những nội dung nghiên cứu của các tổ chuyên môn về các
nội dung yêu cầu của đề tài.
CHƯƠNG I
Các hình thức tổ chức dạy học nhằm hình thành năng lực tự học cho học sinh (Thực
nghiệm ở Tổ Văn)
1. Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài ở nhà
1.1. Hướng dẫn học sinh đọc sách giáo khoa và trả lời câu hỏi trong sách giáo
khoa
Sách giáo khoa là sự cụ thể hóa chương trình, là nguồn tri thức thống nhất và là chỗ
dựa cơ bản cho giáo viên khi dạy học. Ở nước ta sách giáo khoa có vai trò vô cùng quan
trọng. Điều 25 của Luật Giáo dục đã khẳng địnhh: “Sách giáo khoa để sử dụng chính
thức, thống nhất, ổn định trong giảng dạy, học tập ở nhà trường và các cơ sở giáo dục
khác”. Đã từ lâu, các nhà nghiên cứu lí luận dạy học đã khẳng định vai trò quan trọng của
Sách giáo khoa trong quá trình học tập của học sinh. Sách giáo khoa là nguồn cung cấp
tri thức đúng đắn, khoa học và thống nhất trong nền giáo dục quốc dân. Tri thức được
đưa vào Sách giáo khoa có tính tinh giản, cô đọng, súc tích phong phú. Để giúp học sinh
có phương pháp tự học tự nghiên cứu giáo viên cần có những định hướng cho học sinh
trong các hoạt động tiếp xúc với Sách giáo khoa, tập trung cho các em biết gia công tìm
tòi, sáng tạo trong quá trình lĩnh hội tri thức. Đối với học sinh, việc soạn bài ở nhà yêu
cầu không thể thiếu là phải đọc văn bản nhưng cốt yếu giáo viên hướng dẫn HS khi đọc
phải thực hiện các công việc sau:
- Đọc âm vang và cả đọc thầm để tưởng tượng
- Đọc và ghi lại những cảm nhận, những ấn tượng ban đầu về tác phẩm
13
2)………….
-Trình bày dưới dạng bảng biểu
Ví dụ :
Tác phẩm
Nội dung
Nghệ thuật
-Trình bày dưới dạng sơ đồ:
Ví dụ: Bài Trích đoạn Chí khí anh hùng-Truyện Kiều của Nguyễn Du
15
Nhân vật Từ Hải
Ngôn ngữ tác giả
Khát vọng lớn lao
Thủ pháp ước lệ
Tầm vóc vũ trụ
Ngôn ngữ nhân vật
Phẩm chất phi thường
của bài học sẽ được mổ xẻ một cách sâu sắc hơn. Quan trọng khi thực hiện điều này, GV
phải nắm sát đối tượng để khuyến khích, động viên một cách kịp thời, chân thành kể cả
học sinh làm tốt và học sinh chưa làm tốt
1.4 Hướng dẫn, phân công học sinh sưu tầm và khai thác nguồn tài liệu học tập
khác.
Ngoài Sách giáo khoa, tài liệu học tập cho môn Ngữ văn vô cùng phong phú. Đây
là phương tiện rất cần thiết đối với người học văn, ngoài các loại sách tham khảo như :
Học tốt Ngữ văn, Các bài văn hay lớp 10,11,12 HS còn có thể tìm thấy những tài liệu về
văn học trên các tờ báo, tạp chí văn học, trên mạng Internet… Các tài liệu này là nguồn
17
tri thức bổ sung vô cùng quan trọng đối với người học. Tìm các tài liệu liên quan đến bài
học một mặt giúp HS tìm hiểu và giải quyết các vấn đề trong quá trình soạn bài, mặt khác
nó góp phần rèn luyện, trau dồi và năng cao ý thức tự học, tự nghiên cứu ở các em. Dưới
đây, chúng tôi xin nêu ra một số cách để giúp HS tìm và sử dụng tài liệu vào việc chuẩn
bị bài cho giờ đọc văn
- Giới thiệu cụ thể tên sách tham khảo, các bài viết, các tài liệu có liên quan trực tiếp
đến bài học. Hướng dẫn học sinh tìm sách, tài liệu tham khảo ở những địa chỉ: thư viện
trường, nhà sách trên địa bàn, ở thầy cô giáo…..
- Cung cấp cho HS một số địa chỉ (trang Web) trên mạng Internet. Với Internet, HS có
thể khai mở kho thông tin khổng lồ và phong phú nhất trong lịch sử nhân loại ở nhiều
lịnh vực khác nhau của đời sống. Chẳng hạn chỉ cần vào một số trang Web như:
www.vietnamwebsite.net / ebook /vanhocvietnam
www/thưquan.net;
www.thovn.vn...
Là học sinh đã có thể tìm kiếm những thông tin văn học mình cần sử dụng chúng vào
việc học tập.
- Hướng dẫn học sinh xử lí tài liệu bằng cách đọc kĩ, tóm tắt ý chính, tách nội dung liên
- Phối hợp chặt chẽ hoạt động của thầy và của trò
Hoạt động của thầy
Hoạt động của trò
19
- Tạo tình huống để HS rõ vấn đề,
thấy mâu thuẫn cần giải quyết
-Nghe, tiếp thu, chuyển mâu thuẫn
bên ngoài thành mâu thuẫn bên
trong, có nhu cầu giải quyết mâu
thuẫn
- Giao nhiệm vụ học tập(đặt câu hỏi,
ra bài tập…)
- Tiếp nhận nhiệm vụ qua câu hỏi,
bài tập…
- Hướng dẫn HS hoạt động( đọc giáo
- Đọc giáo trình, tái hiện , suy
trình, nghiên cứu tài liệu, tổ chức thảo nghĩ, sáng tạo, trả lời câu hỏi, thảo
luận
luận….
qua các thủ thuật như: đặt câu hỏi;
thuyết trình; nêu vấn đề để các em trao
20
đổi tìm cách giải quyết.
2.Tự đọc
- HS đọc giáo trình, tài liệu.
- Viết tóm tắt, lập sơ đồ, bảng biểu.
3. Thảo luận nhóm
- HS được chia thành nhiều nhóm để
thảo luận một vấn đề do GV nêu lên.
- Đại diện các nhóm trình bày trước
lớp
- Gv định hướng, tổng kết.
4. Phương pháp trực quan
- Xem băng hình.
- Thảo luận.
- GV định hướng, tổng kết.
5. Làm bài tập, thực hành
- Làm bài tập, thực hành
- Thảo luận, kết luận.
- Cử chỉ:
+ Vỗ về, an ủi lúc cô gái bị nhà chồng đánh đập, hắt hủi.
+ Làm thuốc cho cô gái uống.
- Tâm trạng:
+ Nỗi xót xa, niềm thương cảm mà chàng trai dành cho cô gái.
+ Ý chí mạnh liệt của chàng trai nhất quyết giành lại tình yêu để đoàn tụ cùng cô gái.
Về nghệ thuật
22
- Kết hợp nghệ thuật trữ tình ( mô tả cảm xúc, tâm trạng) với nghệ thuật tự sự (kể sự
việc, hành động).
- Sử dụng nhiều biện pháp tu từ đặc sắc: ẩn dụ, so sánh tương đồng, điệp từ, điệp ngữ…
2.4 Hướng dẫn học sinh tự đánh giá kết quả của mình
Tự đánh giá kết quả học tập của mình sau mỗi buổi học là việc làm vô cùng cần thiết
đối với bản thân mỗi học sinh. Thông qua hoạt động này các em sẽ tự nhận biết được khả
năng của mình: thấy được điểm mạnh, điểm hạn chế để phát huy và khắc phục. Cũng tự
việc làm này mà HS sẽ tự lớn lên trên con đường học tập của mình. Các em sẽ tự biết
được năng lực của mình đạt đến đâu so với mục tiêu bài học đặt ra ở cả ba phương diện:
kiến thức, kĩ năng, thái độ.. Ở đây, các em sẽ có một lượng thời gian nhất định để so
sánh, đối chiếu giữa cái mình đã hệ thống qua tiết học ở lớp và bài soạn của chính mình ở
nhà. Với việc làm này, học sinh sẽ có cái nhìn sâu sắc và khách quan hơn về tác phẩm,
đồng thời cũng tự mình rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân khi đứng trước công
việc tìm hiểu và khám phá một tác phẩm văn học.
II - ÁP DỤNG MỘT GIÁO ÁN CỤ THỂ
Yêu cầu chuẩn bị
a. Đối với giáo viên
Quá trình chuẩn bị bài giảng của giáo viên bao gồm hai việc chính : tìm hiểu tác
phẩm và soạn giáo án.
hỏi trong sách giáo khoa; đặc biệt là các câu hỏi hướng đến việc xây dựng những nội
dung đối thoại do giáo viên yêu cầu.
24
Qua sự chuẩn bị này, học sinh sẽ nắm được một phần nội dung của tác phẩm, làm
cơ sở để tham gia đối thoại về tác phẩm trên lớp dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo
viên.
Tiết 52+53 Đọc văn
CHÍ PHÈO
(Nam Cao)
A. Mục tiêu bài học : Giúp học sinh
1. Về kiến thức
- Hiểu được hình tượng nhân vật Chí Phèo (những biến đổi về nhân hình, nhân tính sau
khi ở tù; nhất là tâm trạng và hành động của Chí sau khi gặp thị Nở cho đến lúc tự sát).
- Giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của tác phẩm;
- Những nét đặc sắc trong nghệ thuật truyện ngắn Nam Cao như điển hình hóa nhân vật,
miêu tả tâm lí, nghệ thuật trần thuật, ngôn ngữ nghệ thuật...
2. Về kĩ năng
- Rèn luyện kĩ năng đọc - hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại.
- Rèn luyện kĩ năng phân tích nhân vật trong tác phẩm tự sự.
3. Về thái độ
- Phê phán xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với đầy rẫy những bất công,
tàn bạo.
- Bồi dưỡng tinh thần nhân đạo, biết yêu thương và trân trọng nhân vật Chí Phèo nói riêng
và người nông dân Việt Nam trong xã hội cũ nói chung.
25