MÔN VĂN HÓA NÔNG THÔN
Câu 1: Nhân tố xã hội và nhân tố con người liên quan đến xã hội của nông
thôn truyền thống ảnh hưởng như thế nào đến phát triển xã hội và quản lý xã
hội trong điều kiện hiện nay ở nước ta?
Trả lời
Để hiểu một cách rõ ràng nhân tố xã hội và nhân tố con người liên quan đến
xã hội của nông thôn truyền thống ảnh hưởng như thế nào đến phát triển xã hội và
quản lý xã hội trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam chúng ta cùng tìm hiểu một số
thuật ngữ cơ bản.
Xã hội
Ở Việt Nam, thuật ngữ “xã hội” là để chỉ chung về xã hội theo cả nghĩa hẹp
và nghĩa rộng. Còn trong ngôn ngữ nhiều nước châu Âu, mỗi nghĩa hẹp và rộng
như vậy có riêng một thuật ngữ để xác định; thí dụ trong tiếng Anh “sociality” là xã
hội theo nghĩa hẹp, còn “society” là xã hội theo nghĩa rộng.
Dù theo nghĩa hẹp hay rộng thì đối với C.Mác, “xã hội không phải gồm các
cá nhân, mà xã hội biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các
cá nhân đối với nhau”.
Phát triển xã hội
Phát triển xã hội không chỉ thuần túy là sự phát triển của riêng lĩnh vực xã
hội, mà là sự phát triển đồng thời của phương diện xã hội thuộc các lĩnh vực khác
nhau của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, y tế, môi trường, an
ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế,...) nhằm bảo đảm cho con người được phát
triển toàn diện và xã hội phát triển bền vững. Chỉ báo đánh giá sự phát triển xã hội
cơ bản là sự vận động lên một chất lượng mới cao hơn của nền sản xuất xã hội, mà
theo quan niệm C.Mác và Ph. Ăngghen trong Hệ tư tưởng Đức (1845), gồm: sản
xuất vật chất, sản xuất tinh thần, sự tái sản sinh các thế hệ người, sự phát triển nhu
cầu và phát triển ý thức (kiến thức) của con người. Đây là một phức hợp 5 loại chỉ
báo, cho nên để đạt được sự phát triển xã hội, không thể không quản lý quá trình
phát triển này.
Về “quản lý phát triển xã hội”
Quản lý xã hội cũng như quản lý các lĩnh vực khác, nhìn chung đều gồm hai
có một “gien” riêng, di truyền qua các đời. Gien đó về mặt sinh học, được biểu hiện
qua thể chất, tư chất; còn về mặt xã hội được thể hiện qua phong cách giao tiếp, cư
xử, qua dáng đi, điệu nói…
Dòng họ của phần lớn các tộc người ở nước ta là một thiết chế bền chặt. Do
tư hữu phát triển nên dòng họ từ lâu đã không còn là một đơn vị sản xuất, đơn vị
kinh tế mà từ lâu đã “vỡ” ra thành nhiều gia đình nhỏ (gia đình hạt nhân) với với
thân phận kinh tế - xã hội riêng (Anh em kiến giả nhất phận). Song, dòng họ vẫn
tồn tại như một sức mạnh tâm lý, tạo ra sự cố kết rất chặt chẽ theo nguyên tắc và
tinh thần Giọt máu đào hơn ao nước lã, Họ chín đời hơn người dưng. Cơ sở của sự
gắn kết và cố kết đó là gia phả, bằng các thiết chế tín ngưỡng (nhà thờ họ hay nhà
thờ chi họ), ngày giỗ họ (hay giỗ chi họ) và mộ tổ; cùng một cơ sở kinh tế để duy
trì các hoạt động thờ cúng đó là ruộng họ và quỹ họ. Sự cố kết trong dòng họ càng
được bền chặt trong trường hợp họ có người làm quan to, hay nắm giữ được các
chức vụ quan trọng trong bộ máy quản lý làng xã.
2
Vì sự cố kết trong dòng họ tương đối bền chặt nên dòng họ được coi là công
cụ để quản lý con người. Với tinh thần Một người có công cả họ được cậy, một
người làm bậy cả họ mang nhơ, lệ của nhiều làng quy định, một cá nhân vi phạm lệ
làng thì cha mẹ, chú bác, có khi cả dòng họ phải liên đới chịu trách nhiệm. Pháp
luật của nhà nước phong kiến cũng quy định trách nhiệm của dòng họ với các thành
viên của nó, coi thân tộc như một con người, buộc nó cũng như làng xã phải chịu
trách nhiệm về hành động cá nhân.
Sự cố kết của cộng đồng dòng họ có nhiều tác động tích cực, nhất là trong
việc tổ chức khai hoang lập làng, khuyến học, đào tạo công chức, viên chức, nhân
tài, trong đánh giặc ngoại xâm, làm xuất hiện các dòng họ “khai làng”, được tôn
vinh làm “tiên công” hay “tiền hiền, hậu hiền”, họ “khoa bảng”, họ “cách mạng”…
Tuy nhiên, dòng họ cũng ẩn chứa nhiều tác động tiêu cực. Với tinh thần Cửu
đại hơn ngoại nhân (họ chín đời hơn người dưng), Phi nội tắc ngoại hay Máu
gặp những trường hợp nhiều người có quan hệ anh em họ hàng, thông gia cùng làm
xã trưởng thì giữ lại một người đủ tiêu chuẩn nhất cho giữ chức, những người còn
lại phải về làm dân. Còn với các cơ quan nhà nước, cũng từ thời Vua Lê Thánh
Tông (1460 - 1497), triều đình đã áp dụng “Luật Hồi tỵ”, tức luật không cho phép
quan lại được về nhậm trị tại quê đẻ, quê mẹ, quê vợ; những người có quan hệ
huyết thống (và cả quan hệ hôn nhân, thầy trò, bạn bè…) cùng được làm việc tại
một công sở, nếu gặp những trường hợp đó thì phải điều chuyển họ đi các công sở
khác, nơi khác (trừ các cơ quan về thiên văn, y tế). Luật “Hồi tỵ” cũng áp dụng
trong thi cử, trong thanh tra. Nhờ có luật “Hồi tỵ” mà những tiêu cực của quan hệ
huyết thống được ngăn chặn.
Từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay, những yếu tố tiêu cực trên đây của
quan hệ huyết thống vẫn tồn tại, thậm chí, có lúc, có nơi được “phát huy” cao độ,
tạo ra những căng thẳng, phức tạp, gây khó khăn cho quản lý xã hội, như hiện
tượng kéo bè kéo cánh trong làng, nhất là trong việc đưa người vào nắm các chức
danh trong bộ máy quản lý hay những chức danh liên quan đến kinh tế, tạo ra các
“chi bộ dòng họ, chính quyền dòng họ”, từ đó, các họ đông người có thế lực luôn
tìm cách chèn ép các dòng họ khác để vun vén quyền lợi, nâng cao uy thế của dòng
họ mình. Còn trong các cơ quan nhà nước, không hiếm các hiện tượng “con ông
cháu cha” chiếm đầy các vị trí quan trọng, cả khi họ kém đức và không có tài, học
hành chắp vá, thậm chí không được đào tạo đúng chuyên môn.
2. Ảnh hưởng của truyền thống tự quản, dân chủ làng xã và tâm lý làng
Truyền thống tự quản của các cộng đồng buôn làng được nảy sinh từ các đặc
điểm kinh tế - xã hội của làng. Truyền thống đó giúp cho từng cộng đồng cư dân
chủ động trong tổ chức các công việc, giải quyết các vấn đề nảy sinh của cộng đồng
trên các mặt : khai hoang, sản xuất, bảo vệ an ninh, cứu tế tương trợ khi gặp thiên
tai, giặc giã; giúp cho làng gắn bó với nước trong công cuộc gìn làng giữ nước, mở
mang bờ cõi; làm cho làng xã trở thành cơ sở kinh tế - xã hội - văn hóa trọng yếu,
là địa bàn để bảo tồn văn hóa và sức sống của dân tộc.
Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực là nổi bật, truyền thống tự quản cũng hàm
chức những mặt trái của nó.
nhất là tầng lớp “bạch đinh”, “thấp cổ bé họng”; làm cho những tục lệ của làng xã
càng thêm tính xiết chặt, tính nghiệt ngã - nhiều khi đến vô lý, thậm chí thiếu nhân
văn mà người chịu hậu quả của sự giám sát, sự can thiệp và sự phán xét đó không
còn biết kêu vào đâu được. Nói một cách khác, làng xã không có đủ những cơ sở và
những quy chế để tạo điều kiện và đảm bảo dân chủ thật sự đối với cá nhân, với tư
cách là một công dân của một nước.
Từ giữa thế kỷ XV trở đi, khi nhà nước phong kiến đưa hệ thống “đẳng cấp”
vào làm cho quyền lực cộng đồng của công xã dần dần bị phân tán. Cơ quan quyền
(
5
lực công xã nằm trong tay những quan lại Nhà nước về hưu có bằng cấp, phẩm
hàm, chức tước, tạo ra sự “lấn quyền” của những người thuộc “đẳng cấp” trên
(thường là người của một hai dòng họ có “máu mặt”) trong làng và sự “nhường
quyền”, theo kiểu “im lặng là vàng” của số đông những người thuộc tầng lớp “bạch
đinh”, những dòng họ “thấp cổ bé họng”, làm cho quyền lực và trí tuệ tạp thể bị
phân tán và giảm sút.
Tóm lại, từ những điều trình bày trên đây, cho thấy, từ giữa thế kỷ XV trở đi,
thể chế dân chủ được hình thành từ công xã nông thôn của làng ở hầu hết các tộc
người đã mất dần, thay thế bằng thể chế tự trị - tự quản trong khuôn khổ của Nhà
nước chuyên chế, thiếu dân chủ hay như. Nhà Dân tộc học Trần Từ nhận xét, đó là
thứ dân chủ hình thức hay dân chủ theo “đẳng cấp” (1). Thực chất là sự mất dân
chủ nghiêm trọng hay không có dân chủ. Sau này, khi đặt được ách đô hộ lên đất
nước ta, thực dân Pháp đã lợi dụng ngay thiết chế làng xã (ở người Việt) và thiết
chế mường - bản với tất cả tính chuyên chế, không dân chủ của nó để dễ dàng
thống trị, đàn áp và bóc lột nhân dân các tộc người.
Tính dân chủ hình thức hay “dân chủ đẳng cấp” hoặc mất dân chủ (tùy mức độ
theo từng vùng) trên đây đã để lại những hậu quả nặng nề cho làng xã và cho người
quyền lợi của đồng mình (1). Trong thời bình dưới thời phong kiến, mọi chủ trương,
chính sách của nhà nước muốn vào được làng phải chịu một sự “khúc xạ”, để phù
hợp với lợi ích của làng, nếu không, có thể bị phản ứng, chống trả. Để giảm bớt
những tác động tiêu cực của tâm lý làng, tư tưởng cục bộ làng xã này, dưới thời
phong kiến, nhà nước chủ trương thiết lập các xã có quy mô một làng là chính
(chiếm khoảng trên 75 %), chỉ có 25 % số xã có quy mô 2 - 3 làng, song số xã
‘Nhất xã nhị thôn, tam thôn” này vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX từng diễn ra
cả một “phong trào” chạy biệt xã” (tách ra thành các xã độc lập), cả những làng có
dân số ít (2).
Tư tưởng cục bộ làng xã được duy trì lâu bền suốt quá trình lịch sử đất nước,
từ thời phong kiến, qua thời thực dân nửa phong kiến và được đẩy lên mức cao
hơn, khi Nhà nước ta thiết lập các xã với quy mô nhiều làng, thậm chí có nơi các xã
gồm các làng thuộc các tổng, huyện khác nhau dưới đó thời phong kiến, có phong
tục, tập quán, tâm lý, tính cách khác nhau, vì thuộc các “vi tiểu vùng văn hóa” khác
nhau, từ đó nảy sinh rất nhiều bất cập cho công tác quản lý kinh tế - xã hội. Hiện
tượng các làng tranh giành nhau lúc âm thầm, khi gay gắt trên đủ các mặt : từ gọi
tên xã bằng tên của làng nào trước, đặt trụ sở xã tại địa phận làng nào, đến việc cử
người vào nắm giữ các chức danh chủ chốt của hệ thống chính trị, trong việc xây
dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư sản xuất, trong thực hiện các chủ trương, chính sách….
diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương. Rất nhiều nơi, các làng nhỏ bị cán bộ các làng
lớn chèn ép, khiến cho hàng mấy chục năm trời không thể có được một cán bộ “kha
khá” trong Đảng ủy, chính quyền và các đoàn thể quần chúng. Còn trong các cơ
quan nhà nước, không hiếm hiện tượng người có chức có quyền tìm mọi cách để lôi
kéo, nâng đỡ không chỉ người cùng họ hàng, mà còn cả người cùng quê (cùng làng,
cùng xã, cùng huyện), vào các cương vị khác nhau, trong khi trên thực tế, họ không
có đức, không thực tài, thậm chí vị trí được nâng đỡ không đúng với chuyên môn
được đào tạo.
Những bất cập của tư tưởng cục bộ làng xã trên đây đặt ra cho Nhà nước cần
thận trọng trong việc thiết lập các đơn vị hành chính các cấp, nhất là cấp xã cho
phù hợp; đặc biệt xem xét lại để chia tách một số xã được “lắp ghép” không hợp lý
chí, có khi, người có năng lực, tài năng bị ghen ghét, có thể bị trù úm, khômg có
điều kiẹn phát triển. Như vậy, nếu năng lực, tài năng của nhiều cá nhân bị “triệt
tiêu” sẽ làm chậm sự phát triển của đất nước.
Tính cộng đồng còn làm cho con người sợ, thiếu dũng khí cá nhân trước các
hiện tượng tiêu cực của xã hội, sợ trách nhiệm cá nhân trước một sự cố xảy ra
trong công việc tập thể, tìm cách “đổ vấy” cho người khác, cho khách quan và cho
cộng đồng; từ đó, xử lý các tiêu cực qua loa, xuề xòa, không tìm ra được nguyên
nhân đích thực của vụ việc
2. Đố kỵ tiểu nông, ghen ghét với người khác hơn mình (níu kéo) : đố kỵ
(không muốn người khác bằng mình và hơn mình; khi thấy có người bằng, hơn
mình thì ghen ghét) là một trong những hạn chế, có thể coi là tính xấu của con
người, thuộc mọi thành phần kinh tế- xã hội ở trong các xã hội có giai cấp. Tuy
nhiên, với người Việt, tính đố kỵ là hạn chế căn bản nhất, tính xấu lớn nhất vì là
đố kỵ tiểu nông, được nảy sinh trên cơ sở kinh tế thấp kém, dựa trên nền tư hữu
nhỏ, manh mún và phân tán, trong lòng một xã hội làng xã luôn tồn tại mâu thuẫn
ngầm giữa các phe phái, lại chịu tác động của một cơ chế xã hội mang tính “đẳng
cấp” do nhà nước phong kiến áp đặt. Tính chất “cá đối bằng đầu” giữa những con
người sản xuất nhỏ, sở hữu nhỏ, giữa các phe phái ngầm làm cho người Việt
“không chịu nhau”, đối xử với nhau theo phương cách “Bằng mặt nhưng không
bằng lòng”, bề ngoài thì xởi lởi, vui vẻ với nhau, nhưng bên trong thì tìm cách để
làm giảm uy tín và sự đi lên của “đối thủ”. Điểm khác biệt lớn nhất của đố kỵ tiểu
nông với đố kỵ đại công nghiệp hay đại thương nghiệp là cách giải quyết sự chênh
lệch, hơn kém nhau, hay phương cách vượt lên “đối thủ”. Nếu cư dân đại công
8
nghiệp, hay đại thương nghiệp “đánh sập” đối thủ bằng các quy luật cạnh tranh (tìm
mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm so với đối
thủ) thì người sản xuất tiểu nông lại giải quyết sự đố kỵ không theo quy luật đó, mà
bằng các biện pháp nói xấu, cố tình phủ nhận năng lực của người khác, nhiều khi
5. Tùy tiện, dễ làm bừa, làm càn, dễ vi phạm pháp luật do những nhân tố
sau :
- Cơ sở kinh tế của các tộc người đều là nông nghiệp, làm ăn theo mùa vụ,
yếu tố “thì” (cấy, gieo hạt, thu hoạch đều phải đúng hạn, trong điều kiện khí hậu
thay đổi thất thường, sản xuất dựa vào lao động thủ công và kỹ thuật cơ bắp); nên
nhiều khi phải giải quyết tình thế, hay giải quyết lấy được, do vậy, người nông dân
dễ tùy tiện, phá rào, vượt các nguyên tắc thường lệ và nguyên tắc chung.
9
- Với nền kinh tế tự cấp tự túc, cộng đồng buôn làng cổ truyền là nơi sinh
sống truyền đời của các thế hệ người nông dân các tộc người. Các cộng đồng đó
được quản lý chủ yếu bằng phong tục, luật tục (với các tộc người thiểu số, nhất là
vơứi các tộc người ở Tây Nguyên thì pháp luật hoàn toàn vắng bóng), bằng lệ làng
và hương ước (với người Việt, pháp luật chỉ can thiệp khi làng xã không giải quyết
được). Các tầng lớp cư dân của các tộc người đều không được trực tiếp tiếp xúc
với các văn bản pháp luật mà chỉ được biết luật thông qua những giảng giải của các
chức dịch trong các kỳ hội làng hay những dịp đầu năm,.
Đây là những nhân tố chính yếu làm cho người Việt Nam chỉ biết, chỉ quen
sống với lệ làng, với luật tụ, coi lệ làng là giá trị cao hơn (“Phép vua thua lệ
làng”); không biết, không hiểu và không quen sống với luật pháp (hiện tượng mù
lụât), dễ vi phạm pháp luật với những biểu hiện từ những biểu hiện nhỏ nhất là
thiếu ý thức nơi công cộng, vi phạm luật giao thông; đến những biểu hiện lớn và
trầm trọng hơn. Mặt trái này đang hàng ngày hàng giờ tác động xấu đến sự bình ôn
của xã hội, đến vịêc quản lý xã hội và sự phát triển của đất nước.
Cần nhận rõ những đặc điểm, những mặt trái này, tham khảo kinh nghiệm
của cha ông để có có hướng xử lý hiệu quả.
10
truyền thống đối với kinh tế và quản lý kinh tế trong điều kiện hiện nay ở nước
ta
1. Cơ sở kinh tế
1. 1. Nông nghiệp
Là nền nông nghiệp ruộng nước, mang các đặc điểm :
Được thực hiện trong điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiều yếu tố
bất thường xảy ra, nên yếu tố “thì” (thời vụ rất quan trọng, mỗi năm có 24 tiết, mỗi
tiết ứng với một công đoạn của sản xuất nông nghiệp, buộc phải tuân thủ; nếu
không sẽ ảnh hưởng tới năng suất của mùa vụ).
CÁC TIẾT VÀ LỊCH TRèNH LÀM RUỘNG CỦA NGƯỜI VIỆT
11
Tháng Ngày Tiết
(DL)
1
7
Tiểu hàn
22 Đại hàn
2
3
4
6
Lập Xuân
20
6
7
Tiểu thử
21
Đại thử
8
7
23
Lập Thu
Xử thử
9
8
22
10
8
Bạch lộ
Thu phân
(Giữa thu)
Hàn lộ
Cày vỡ ruộng
Mở đầu mù-a Hạ
Có cơn lũ đầu tiên để Gặt chiêm,
cày, bừa ải cho ruộng
Sao Tua rua mọc
Gặt xong lúa chiêm,
Gieo mạ mùa
Giữa mùa Hạ, mặt Làm đất cấy mùa
trời đi vào chuẩn quỹ
đạo
Nóng oi, bức, thường Cấy mùa
có gió Lào khô
Rất nóng
Cấy mùa
(xong trước tiết Lập Thu)
Mở đầu mùa Thu
Hoàn thành cấy mùa
Mưa nhiều
(mưa Làm cỏ lúa
ngâu)
Nắng nhạt, trời mát
Trời trong sáng
Chăm sóc lúa
(Rằm tháng Tám ÂL)
Mát mẻ
Bắt đầu làm đất cho vụ
chiêm, gieo mạ chiêm
Sương xuống,
106 năm bị lụt, 84 năm bị hạn, 13 năm bị sâu bệnh nặng, 29 năm bị động đất, 19
năm bị dịch bệnh, 69 năm mất mùa lớn dẫn đến đói to, chỉ có 21 năm được mùa.
Trước năm 1989, an ninh lương thực không đảm bảo, người nông dân luôn phảI đối
phó với miếng cơm manh áo thường ngày; đời sống vật chất rất thấp.
1. 2.. Thủ công nghiệp: là một bộ phận không tách rời của nông nghiệp, số
làng nghề (thủ công chuyên nghiệp) rất ít và cũng mang những đặc điểm của sản
xuất nông nghiệp, nên không hình thành các công trường thủ công để tiến lên sản
xuất tư bản chủ nghĩa.
1. 3. Thương nghiệp: chủ yếu là nội thương với hệ thống chợ quê (chợ làng,
họp theo phiên) và luồng buôn bán tiểu thương. Ngoại thương nằm trong tay Nhà
nước và không phát triển do:
- Biển Việt Nam xa đường hành thương quốc tế, không hình thành các cảng
biển thuận lợi cho buôn bán (một số tỉnh miền Trung có nhưng là những vũng, vịnh
nhỏ hẹp).
- Người Việt không có kỹ thuật vượt biển (thuyền nhỏ, thuyền dọc);
- Nhà nước phong kiến ức chế do yêu cầu phòng thủ đất nước (đường biển là
một trong hai mũi tấn công của ngoại xâm Trung Quốc, phải ngăn chặn từ bên
ngoài và không cho người Việt Nam đi buôn bán ở nước ngoài, nếu vi phạm bị xử
rất nặng.
Do vậy, không hình thành các trung tâm thương nghiệp lớn, không có sức
công phá nền kinh tế- xã hội truyền thống. Có thể ví kinh tế trồng trọt của người
Việt như một cây cổ thụ tỏa bóng rợp che hết ánh sáng của các cây - ngành khác,
làm cho các cây ngành này chỉ là những cây leo bám quanh cây cổ thụ, cố kết rất
vững bền nhưng lại vươn lên rất chậm chạp.
Nhìn nhận chung về kinh tế của người Việt (những yếu tố ảnh hưởng đến
tâm tính, tính cách và sự phát triển):
13
Tính chất mùa vụ của sản xuất nông nghiệp ảnh hưởng đến tác phong, tính
Gia đình người Việt chủ yếu là tiểu gia đình phụ quyền, gồm 2 thế hệ (bộ mẹ
- con cái), một số trường hợp có 3 thế hệ (ông bà), số ít bốn thế hệ (Tứ đại đồng
đường).
Gia đình là một đơn vị xã hội cơ bản, đảm nhận các chức năng :
14
- Đơn vị tổ chức sản xuất, kinh tế tự chủ
- Tái sản xuất sức lao động,
- Duy trì nòi giống và thờ cúng tổ tiên,
- Đơn vị giáo dục
- Trao truyền văn hóa
- Điều hòa tình cảm.
Do dựa trên cơ sở kinh tế là nền nông nghiệp ruộng nước và chịu ảnh sâu sắc của
Nho giáo, gia đình người Việt mang tính gia trưởng cao (đề cao vai trò của người
chồng, người cha); song vẫn tôn trọng vai trò của người phụ nữ (người vợ) với vai trò
"nội tướng", "tay hòm chìa khóa" (Của chồng công vợ), đề cao sự hòa hợp vợ chồng
(Chồng là cái giỏ, vợ là cái hom; Thuận vợ thuận chồng, biển Đông tát cạn).
b. Dòng họ
Phân biệt các khái niệm :
Dòng họ (Tộc) là tập hợp của những thành viên có cùng một tổ tiên (hay dòng
máu hay huyết thống; trong chế độ phụ hệ được biểu tượng bằng một ông tổ
(thủy tổ, khởi tổ, triệu tổ v. v..), gắn kết các cá nhân với nhau, chịu sự ràng buộc
theo một quy tắc nhất định; chi phối mạnh mẽ quan hệ hôn nhân và gia đình.
Tính (.........) : cũng là một họ (Bách tính = trăm họ). Xã hội cổ đại theo họ mẹ,
nên chữ “Tính” gồm bộ Nữ và bộ Sinh.
Thị (.......... ): một tông tộc, hay một họ. Xa xưa, Thị là phân chi của Tính, đời
Hán - Nguỵ, Tính và Thị hợp làm một. Nữ giới thời cổ đại gọi là “Thị”.
Những trường hợp cùng tên họ nhưng khác huyết thống vốn có hoặc do đổi
họ vì các nguyên nhân:
c.. Xóm
Là một phân thể của làng gòm những gia đình có quan hệ láng giềng kết hợp
với quan hệ huyết thống. Người nông dân ứng xử với nhau theo nguyên tắc “Bán
anh em xa mua láng giềng gần”.
Xóm là một cộng đồng về tín ngưỡng - phong tục ở dưới cấp làng qua việc
thờ thần thổ địa ở điếm xóm (cúng vào hè, ra hè) và qua tục đặt hậu xóm (thường là
những phụ nữ không con hoặc không chồng con đặt hậu).
Trên bình diện việc làng, xóm chỉ có một chức năng duy nhất là tổ chức các
đội tuần phiên để bảo vệ an ninh. Làm phiên (hay ra phiên) là nghĩa vụ bắt buộc
của nam giới từ 18 - 49 tuổi. Họ phải canh gác “nội hương ấp, ngoại đồng điền”,
được hưởng lúa sương túc theo đầu sào ruộng (mỗi sào 1 lượm).
d. Giáp
Thiết chế của nam giới (đinh nam hay trai đinh) từ bé trai mới sinh đến cụ
ông cao tuổi nhất trong làng. Mỗi giáp gồm nam giới của một số gia đình thuộc
nhiều dòng họ. Nhiều trường hợp, giáp phân theo địa vực (Giáp Nhất, Giáp Nhị ở
Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội). Song một số ít làng không có giáp (làng Kim Sơn,
Gia Lâm, Hà Nội); hoặc theo dòng họ.
Giáp được tổ chức theo nguyên lý lớp tuổi:
16
- Mỗi giáp gồm một số mâm (hay bàn), mồi bàn gồm 4 (hay 5, 6 người) cùng
một độ tuổi,
- Cùng độ tuổi thì bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ,
- Tuổi tác là nguyên tắc, điều kiện để tiến thân xã hội trong lòng giáp: mỗi
năm , mỗi người được chuyển lên mâm cao hơn, theo trình tự : ti ấu - đinh (giai
đinh, giai rốt), lềnh - lão.
Điều hành giáp là trưởng giáp (thôn trưởng, lềnh trưởng hoặc lềnh nhất)
cùng 3 hoặc 4 mâm lềnh (trước tuổi lên lão.)
Với nguyên lý lớp tuổi, giáp đã tạo ra một ảo giác về một xã hội bình đẳng,
đồng kỳ hào, đến năm 1941, lại xoá bỏ HĐTB, chỉ còn HĐKM.
+ Bộ máy chức dịch : là đại diện của Nhà nước phong kiến ở xã, có trách
nhiệm giữ gìn an ninh, thu thuế, điều động binh dịch. Đứng đầu bộ máy này thời
Trần là các xã quan (quan lại Nhà nước cử về), đến 1466, bỏ xã quan, cử xã trưởng
(3- 5 người, do làng bàu từ người trong làng, song không được là người có quan hệ
an hem ruột, cha con, chúa cháu, bác cháu ruột, người có quan hệ thông gia), năm
1828 chỉ còn 1 người gọi là lý trưởng và 1 - 2 phó lý tuỳ theo số suất đinh nam và
tùy số thôn hợp thành. Ngoài ra, còn có các tay chân giúp việc như : hộ lại (phụ
trách giấy tờ hộ tịch, hộ khẩu), chưởng bạ (phụ trách giấy tờ về ruộng đất), thủ quỹ,
trương tuần (khán thủ, hương trưởng).
f. Các phường hội, gồm nhiều loại, theo mục đích tập hợp:
- Các phường, hội, họ vì mục đích tương trợ (phường gạo, thóc, tiền …),
- Các phường hội vì mục đích sản xuất, kinh doanh của người làm nghề thủ
công, làm nghề buôn,
- Các phường hội vì mục đích tín ngưỡng : hội tư văn, hội chư bà …
Trong các hội này, hội tư văn có vị trí quan trọng trong làng xã : là tổ chức
truyền bá, bảo vệ tư tưởng Nho giáo, bảo vệ địa vị kẻ sĩ; chịu trách nhiệm tế lễ
trong các lễ tiết, kỳ hội.
Hệ thống các thiết chế cùng các quan hệ xã hội được vận hành nhờ hương
ước. Hương ước vốn là các phong tục, lệ tục hay các quy định của làng được tuân
thủ thành lệ tục được văn bản hóa (giữa thế kỷ XV). Hương ước qua ba giai đoạn
phát triển :
+ Hương ước cổ (từ thế kỷ XV – tháng 8/ 1921): viết bằng chữ Hán, do các
làng tự soạn thảo, đa dạng về tên gọi, nội dung, phụ thuộc vào đặc điểm các mặt
của từng làng. Nhìn chung gồm các điều khoản liên quan đến các mặt sau :
- Cơ cấu tổ chức và các quan hệ xã hội,
- Bảo vệ an ninh
- Khuyến học, cứu tế, tương trợ
- Tổ chức thờ cúng, hội,
- Bảo đảm các nghĩa vụ với nhà nước
- Sở hữu tư nhân nhỏ bé và manh mún, không có tầng lớp nào khống chế
được xã hội bằng thế lực kinh tế của mình mà phải dựa vào quyền lực chính trị.
Người Việt muốn khá giả phải nhờ quyền lực chính trị để có các nguồn thu khác
ngoài công việc làm kinh tế.
- Trong khi vấn đề giai cấp nhạt hoà thì vấn đề “đẳng cấp” lại nổi lên, thể
hiện sự phân chia cư dân thành nhiều tầng lớp (quan viên - bạch đinh), dựa trên tiêu
chuẩn về bằng cấp (học vị), phẩm hàm (từ nhất phẩm đến cửu phẩm), chức tước,
tuổi tác, tài sản, thành phần xuất thân, được biểu hiện cụ thể ở hệ thống ngôi thứ tại
đình (mỗi cấp bậc có vị trí ngôi thứ riêng, quyền lợi riêng trong họp hành tế lễ), tuỳ
tập tục từng làng. Làng Yên Sở (Hoài Đức, Hà Tây) chia dân cư thành 12 hạng,
trong đó 11 hạng có ngôi thứ ở đình.
19
Ngoài ngôi thứ chính nhờ các tiêu chuẩn do phấn đấu mà có, còn có ngôi thứ
do bỏ tiền ra mua (ngôi trùm, trưởng, xã nhiêu, lý phó trưởng…) để lấy một cái
danh và không phải phu phen tạp dịch.
Ảnh hưởng của xã hội làng xã với sự phát triển, tới CNH - HĐH :
- Không tạo ra sự đồng thuận xã hội :
+ Tạo ra tâm lý cục bộ (cục bộ dòng họ, cục bộ làng xã), không vì mục đích,
lợi ích chung, lớn hơn (của vùng, của nước), mà chỉ vì lợi ích của dòng họ, của làng
xã (đối lập giữa các dòng họ với nhau, giữa họ với làng, giữa làng với các làng
khác và với nước).
+ Sở hữu tiểu nông, manh mún đẻ ra sự đố kỵ tiểu nông, tâm lý “cá đối bằng
đầu” (không thừa nhận tài năng của nhau), giải quyết sự đố kỵ không vì sự phát triển
chung mà vì giải quyết mâu thuẫn cá nhân. Bên cạnh đó là sự tồn tại những mâu
thuẫn giữa các phe phái (từ phe phái trong làng đến phe phái vùng miền, kết hợp với
tư tưởng cục bộ, tạo ra sự không đồng thuận xã hội “bằng mặt không bằng lòng).
- Do không có lực lượng xã hội có thế lực kinh tế, kết hợp với hệ thống quan
các làng xã ven đô để xây dựng cơ sở hạ tầng, khu đô thị, các khu công nghiệp, cụm
công nghiệp, song các xã và các làng vẫn giữ nguyên vị thế hành chính. Tại địa bàn
Hà Nội, điển hình cho xu hướng này là các xã : Phú Thị (huyện Gia Lâm), Kim
Chung (huyện Đông Anh), An Khánh, Kim Chung, Di Trạch.... (huyện Hoài Đức),
Thanh Liệt, Tứ Hiệp (huyện Thanh Trì)...
- Hướng thứ hai, gắn với việc chuyển các xã ven đô thành phường, được
nhiều nhà nghiên cứu gọi là “đô thị hóa cưỡng bức” hay đô thị hóa theo con đường
hành chính, tức là, người nông dân chỉ sau một đêm, thông qua một quyết định hành
chính đã trở thành “thị dân”, chưa được qua một quá trình chuẩn bị về tinh thần, tâm
lý, làm quen với sự thay đổi về nghề nghiệp, lối sống... Tại địa bàn Hà Nội, con
đường phát triển đô thị này thể hiện ở việc chuyển một loạt các xã của các huyện :
Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm thành phường để thành lập các quận : Tây Hồ (1995),
Cầu Giấy, Thanh Xuân (1996) và Hoàng Mai, Long Biên (2003). Ngoài ra, còn có
các xã được chuyển thành phường ở các thị xã, các thị trấn ở các huyện.
Những đặc điểm và tác động đến các mặt của đời sống làng xã của quá trình
phát triển đô thị theo hai phương thức trên được thể hiện qua bảng so sánh ở trang bên.
Những thay đổi trên đây là cơ sở cho sự thay đổi về văn hóa gia đình, dòng
họ, làng xã. Đây là vấn đề lớn cần có sự đầu tư nghiên cứu trên nhiều điểm (các loại
hình làng khác nhau), với sự tham gia của nhiều ngành : Nhân học, Xã hội học, Văn
hóa học... Dưới góc độ Nhân học/ Dân tộc học, từ những nghiên cứu ở một số làng,
chúng tôi nêu một số nhận xét sơ bộ dưới đây.
Một số biến đổi cơ bản của quan hệ làng xã trước tác động của phát triển
đô thị
“Văn hóa” là một khái niệm rộng, bao hàm nhiều mặt. Trong bài này, chúng
tôi tập trung trình bày một trong những khía cạnh nổi bật của văn hóa là quan hệ xã
hội. Nếu các yếu tố vật chất của làng chịu tác động đầu tiên, “trực diện” của quá
trình phát triển đô thị, hậu quả không thật sự nặng nề, thì các quan hệ xã hội tuy chịu
21
cái về đất đai, tài sản thừa kế ngày
mạnh mẽ, “khốc
càng gia tăng
liệt hơn”
6 Thời gian “không đoàn tụ” hàng Diễn ra phổ biến
Ít phổ biến hơn
ngày, hàng tháng của gia đình gia
tăng do yêu cầu mưu sinh
7 Chức năng của gia đình về :
- Tái sản xuất sức lao động
Suy giảm ít hơn
Suy giảm nhiều
- Thờ cúng, khát vọng có con trai
Mạnh mẽ hơn
hơn
- Giáo dục
Suy giảm
Ít mạnh mẽ
- Trao truyền văn hóa
Suy giảm
Suy giảm mạnh
hơn
Suy giảm mạnh
hơn
8 Tác động tiêu cực của xã hội với Hậu quả ít hơn
Hậu quả nặng nề
22
9
họ (nhà thờ, mộ tổ, gia phả, quỹ
họ...) được phục hồi, nâng cấp, do
điều kiện kinh tế khá hơn
Tổ chức sinh hoạt dòng họ đi vào
quy củ hơn, song có nhiều cải biến
cho phù hợp với thực tế cuộc sống
Sự gắn kết trong dòng họ suy giảm
(do nhu cầu mưu sinh, do cư dân
trong làng ngày càng bác tạp, do
“tính thiêng” về tâm linh và chỗ dựa
về vật chất, tinh thần của dòng họ
suy giảm
Các bậc cao niên (nhất là người về
hưu, có trình độ, có điều kiện có
nhiều nỗ lực và vai trò củng cố gia
tộc; song lớp trẻ ít gắn bó với các
hoạt động của dòng họ
Tranh chấp đất đai hương hỏa khi bị
thu hồi đất gia tăng
Hướng thứ nhất
Hướng thứ hai
Rõ nét hơn
Ít rõ nét hơn
Rõ nét hơn
T
1
Biểu hiện của biến đổi
Tính cố kết cộng đồng làng xã suy
giảm do cơ sở để duy trì không còn
hoặc suy giảm
- Nông nghiệp
Hướng thứ nhất
Không còn hoặc
chỉ còn tỷ trọng rất
nhỏ
- Cư dân phải “ly hương” để mưu Đông, mạnh và
sinh
thường xuyên
2
3
Hướng thứ hai
Không còn (trừ một
vài làng)
Không xảy ra hoặc
có với mức độ kém
hơn
tin nhau là chính sang cư dân đô thị,
ít quen biết, nặng về lý - luật, quan
hệ “tiền trao cháo múc”, quan hệ
hợp đồng, khế ước
Lối sống cá nhân được đề cao, nhất
là trong thanh niên
Mâu thuẫn, tranh chấp làng xóm về
đất đai gia tăng (“Giá đất tăng lên,
tình người suy giảm”)
Mâu thuẫn giữa các dòng họ, nhất là
trong tranh chấp quyền lực
Quan hệ chính cư - ngụ cư
Chưa mạnh mẽ
Mạnh mẽ
Chưa mạnh mẽ,
Chưa gay gắt
Mạnh mẽ, gay gắt
Còn, nhưng không
gay gắt
Suy giảm, quan hệ
chính -ngụ cư
tương đối hòa
đồng,
nhưng
không rõ nét
sang đất công nghiệp dịch vụ, nhà ở đô thị và
hạ tầng đô thị
Kết cấu kinh tế, gắn với Diễn ra từ từ, nông Diễn ra nhanh chóng, tuyệt
chuyển
đổi
nghề nghiệp còn tồn tại ở đại đa số người nông dân
nghiệp, lao động (của các mức độ khác nhau không còn “dính dáng” đến
cư dân làng xã): từ
sản xuất nông nghiệp
nông nghiệp là chính
25