BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
----------
BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI:
BÌNH LUẬN VỀ QUY TRÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH XÓA
ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở CÁC TỈNH TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2020
Giảng viên hướng dẫn : Lê Hồng Hạnh
Sinh viên
: Phùng Công Tráng
Lớp
: KH14 – Quản lý công 1
Hà Nội, tháng 1 năm 2017
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Bước vào thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, các nước trên thế giới cũng như
Việt Nam đang đứng trước những thay đổi lớn lao có ý nghĩa bước ngoặt. Những
thay đổi ấy tạo ra những cơ hội và thách thức đối với đường lối, chính sách phát
triển, trong đó có chính sách xóa đói, giảm nghèo. Xuất phát từ quan điểm vấn đề đói
nghèo không được giải quyết thì không có mục tiêu nào đặt ra như tăng trưởng kinh
Chính sách công bao gồm các quyết định chính trị để thực hiện các chương trình nhằm
đạt được những mục tiêu xã hội (Charle L. Cochran and Eloise F. Malone, 1995).
Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính
phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của
công dân (B. Guy Peters, 1999).
Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và
những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh
trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E. Cochran, et al, 1999).
Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm
theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (James Anderson, 2003).
4
Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để
đáp lại một vấn đề công cộng. Nó được kết hợp với các cách thức và mục tiêu chính sách đã
được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan
chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004).
Từ các quan niệm trên, chính sách công có thể được nhìn nhận như sau:
Trước hết, là một chính sách của nhà nước, của chính phủ (do nhà nước, do chính phủ
đưa ra), là một bộ phận thuộc chính sách kinh tế và chính sách nói chung của mỗi nước.
Thứ hai, về mặt kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện hoạt động cũng như
quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cộng cho nền
kinh tế.
Thứ ba, là một công cụ quản lý của nhà nước, được nhà nước sử dụng để: (i) Khuyến
khích việc sản xuất, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, khuyến khích cả với
khu vực công và cả với khu vực tư; (ii) Quản lý nguồn lực công một cách hiệu quả, hiệu lực,
thiết thực đối với cả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài
hạn. Nói cách khác chính sách công là một trong những căn cứ đo lường năng lực hoạch
định chính sách, xác định mục tiêu, căn cứ kiểm tra, đánh giá, xác định trách nhiệm trong
việc sử dụng nguồn lực công như ngân sách nhà nước, tài sản công, tài nguyên đất nước.
giúp chúng ta nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thực thi chính sách công, từ đó chủ
động tích cực tham gia vào tổ chức thực thi chính sách công một cách hiệu quả.
Trên cơ sở nhận thức về vị trí vai trò của thực thi chính sách công trên đây cho thấy
hoạt động này có những ý nghĩa to lớn sau đây:
Thứ nhất, trong quản lý, điều hành nền kinh tế nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước phải đối xử với nhiều đối tượng có quan
hệ khác nhau nên việc thực thi chính sách nhằm biến ý đồ chính sách thành hiện thực là rất
quan trọng. Trên thực tiễn, có những đối tượng quan hệ với Nhà nước là đồng sở hữu như
các đối tượng thuộc thành phần kinh tế nhà nước; có những đối tượng mà tính chất sở hữu
gần với sở hữu nhà nước, được nhà nước kết hợp với thành phần kinh tế nhà nước để xây
dựng thành nền tảng của nền kinh tế... Trong hệ thống các thành phần hiện có, kinh tế nhà
nước giữ vai trò chủ đạo. Do địa vị chính trị, kinh tế, xã hội và pháp lý của từng đối tượng
6
thuộc các thành phần này không giống nhau, nên vai trò của chúng đối với sự nghiệp phát
triển xã hội ở nước ta cũng khác nhau. Để phát huy tác dụng của các đối tượng trong quá
trình vận động đến mục tiêu, nhà nước có thái độ ứng xử một cách thích hợp với mỗi vấn đề
phát sinh thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Trong quản lý xã hội, công cụ được nhà
nước dùng để chuyển tải thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là chính sách.
Tuỳ theo yêu cầu quản lý phát triển nền kinh tế ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban hành
các chính sách công để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế theo định
hướng. Như vậy có thể nói, thực thi chính sách công là giai đoạn biến thái độ ứng xử của
nhà nước với các đối tượng quản lý thành hiện thực.
Thứ hai, mục tiêu chính sách công có liên quan đến nhiều hoạt động chính trị, kinh tế,
xã hội theo những cấp độ khác nhau, nên không thể cùng một lúc giải quyết tất cả các vấn đề
có liên quan và cũng không thể đốt cháy giai đoạn của mỗi quá trình. Tổ chức thực thi chính
sách công để giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu cơ bản nhất
để thúc đẩy quá trình vận động của cả hệ thống đến mục tiêu chung. Mục tiêu chính sách
công chỉ có thể đạt được thông qua thực thi chính sách, đồng thời giữa các mục tiêu chính
3. Các bước thực thi chính sách
Trong thực thi chính sách gồm 7 bước cơ bản sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách, đây là bước cần thiết và
quan trọng vì tổ chức thực thi chính sách là quá trình phức tạp, lại diễn ra trong thời gian dài
do đó phải có kế hoạch. Kế hoạch này phải được xây dựng trước khi đưa chính sách vào
cuộc sống, các cơ quan triển khai từ Trung ương đến địa phương đều phải lập kế hoạch bao
gồm các bước sau:
+ Kế hoạch về tổ chức, điều hành như hệ thống các cơ quan tham gia, đội ngũ nhân sự,
cơ chế thực thi
+ Kế hoạch cung cấp nguồn vật lực như tài chính, trang thiết bị
+ Kế hoạch thời gian triển khai thực hiện + Kế hoạch kiểm tra, đôn đốc thực thi chính
sách
+ Dự kiến về quy chế, nội dung về tổ chức và điều hành thực thi chính sách
Bước 2: phổ biến, tuyên truyền chính sách. Đây là công đoạn tiếp theo sau khi chính
sách đã được thông qua. Nó cũng cần thiết vì giúp cho nhân dân, các cấp chính quyền hiểu
8
được về chính sách và giúp cho chính sách được triển khai thuận lợi và có hiệu quả Để làm
được việc tuyên truyền này thì chúng ta cần được đầu tư về trình độ chuyên môn, phẩm chất
chính trị, trang thiết bị kỹ thuật.... Vì đây là đòi hỏi của thực tế khách quan. Việc tuyên
truyền này cần phải thực hiện thường xuyên liên tục, ngay cả khi chính sách đang được thực
thi, và với mọi đối tượng và trong khi tuyên truyền phải sử dụng nhiều hình thức như tiếp
xúc trực tiếp, gián tiếp trao đổi...
Bước 3: phân công phối hợp thực hiện chính sách. Một chính sách thường được thực
thi trên một địa bàn rộng lớn và nhiều tổ chức tham gia do đó phải có sự phối hợp, phân
công hợp lý để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Mặt khác các hoạt động thực thi mục tiêu là hết sức
đa dạng, phức tạp chúng đan xen, thúc đẩy lẫn nhau, kìm hãm bởi vậy nên cần phối hợp giữa
các cấp, ngành để triển khai chính sách. Nếu hoạt động này diễn ra theo tiến trình thực hiện
chính sách một cách chủ động khoa học sáng tạo thì sẽ có hiệu quả cao, và duy trì ổn định.
PHẦN II. QUY TRÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở CÁC
TỈNH TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2020
1. Giới thiệu chung về chính sách xóa đói giảm nghèo
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm chính sách xóa đói giảm nghèo (XĐGN)
Chính sách xóa đó giảm nghèo ( XĐGN) là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của
Đảng bằng những quyết định, quy định của nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề về đói
nghèo. Nó phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng, của các nhóm xã hội nhằm tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến bộ phận dân cư nghèo đói, đảm bảo quyền con người và an
toàn xã hội cho người nghèo, tạo sự phát triển bình thường cho người nghèo cũng như cho
toàn xã hội.
Chính sách XĐGN được thiết kết theo một cấu trúc cụ thể, bao gồm các bộ phận cơ
bản sau:
- Phạm vi và đối tượng của chính sách.
- Mục tiêu của chính sách.
- Giải pháp của chính sách. - Nguyên tắc chỉ đạo thực hiện chính sách.
- Nguồn vốn thực hiện chính sách.
10
- Cơ quan quản lý và thực hiện chính sách.
- Thời gian triển khai chính sách.
1.1.2. Khái niệm thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo.
Thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo là toàn bộ quá trình đưa chính sách vào đời
sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm giải quyết vấn đề đói
nghèo đang diễn ra đối với những đối tượng cụ thể trong một phạm vi không gian và thời
gian nhất định.
1.2. Các bên tham gia thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo
Chính sách XĐGN tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của con người, có
liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức
dân tộc. Trình độ sản xuất lạc hậu chủ yếu là tự cung tự cấp, tập quán lao động sản xuất của
đồng bào chậm được thay đổi, sản xuất thuần nông tự sản, tự tiêu là phổ biến, chậm thích
ứng với cơ chế của kinh tế thị trường.
Thứ ba, Tây Bắc có hệ thống cơ sở hạ tầng vào loại yếu và thiếu nhất ở nước ta. Mặc
dù hệ thống cơ sở hạ tầng của vùng đã có nhiều thay đổi đáng kể theo hướng hiện đại và
hoàn thiện hơn, song so với nhịp độ phát triển chung của cả nước Tây Bắc vẫn là vùng chậm
phát triển hơn cả.
Thứ tư, vấn đề giảm nghèo của Tây Bắc đang đứng trước nhiều khó khăn, mang tính
đặc thù của vùng do bất lợi về vị trí địa lý, dân cư phân bố phân tán chủ yếu là đồng bào các
DTTS, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng thiếu thốn. Chính những bất lợi trên, đòi hỏi Nhà
nước , lãnh đạo các tỉnh Tây Bắc cần phải có những chủ trương, biện pháp giảm nghèo bền
vững nhằm đưa KT-XH Tây Bắc phát triển trong thời gian tới.
2. Quy trình thực thi chính sách xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Tây Bắc
2.1. Ban hành văn bản và kế hoạch tổ chức thực hiện
Lai Châu ban hành 61 văn bản để tổ chức triển khai thực hiện chính sách XĐGN trong
đó Tỉnh ủy ban hành 7 văn bản, HĐND tỉnh ban hành 3 Nghị quyết chuyên đề, UBND tỉnh
ban hành 51 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện.
12
Điện Biên, Tỉnh ủy đã ban hành 05 văn bản, HĐND ban hành 03 Nghị quyết chuyên
đề, UBND tỉnh ban hành 14 Quyết định liên quan đến công tác XĐGN và hàng chục văn bản
của các Sở, Ban, Ngành liên quan để hướng dẫn, chỉ đạo quá trình thực hiện chính sách
XĐGN.
Sơn La, Tỉnh Ủy ban hành 8 văn bản, HĐND ban hành 2 Nghị quyết chuyên đề,
UBND tỉnh ban hành 16 Quyết định.
Hòa Bình, tỉnh Ủy ban hành 04 Nghị quyết, UBND tỉnh ban hành 11 Quyết định cùng
hàng chục văn bản của các Sở, Ban ngành và của UBND các huyện, thị xã, thành phố để tổ
chức triển khai thực hiện chính sách XĐGN.
mình đồng thời đôn đốc, chỉ đạo các ban, ngành, đoàn thể của địa phương tích cực tham gia
vào công tác kiểm tra giám sát quá trình thực hiện chính sách.
3. Đánh giá về công tác thực thi chính sách XĐNG ở các tỉnh Tây Bắc
3.1. Những ưu điểm
Quá trình tổ chức triển khai thực thi chính sách XĐGN ở Tây Bắc có một số ưu điểm
sau:
Thứ nhất, các tỉnh Tây Bắc đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai thực hiện
chính sách giảm nghèo ở địa phương mình.
Thứ hai, các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương và đội ngũ làm công tác giảm
nghèo đã chú trọng việc tuyên truyền chính sách, pháp luật đến cộng đồng dân cư và trực
tiếp đến với người nghèo.
Thứ ba, việc phân công phối hợp thực hiện chính sách đã được các địa phương chú
trọng triển khai thực hiện.
Thứ tư, trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, ngoài sự nỗ lực của chính quyền
các cấp từ tỉnh xuống tới xã đã biết vận dụng, tập hợp và huy động sự tham gia có kết quả và
hiệu quả của các tổ chức đoàn thể vào quá trình thực hiện chính sách từ khâu lên kế hoạch
cho đến kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức triển khai thực hiện.
14
Thứ năm, huy động mọi nguồn lực cho việc thực hiện chính sách XĐGN nhanh và bền
vững.
Thứ sáu, đa số người nghèo đã nâng cao ý thức, có trách nhiệm hơn với cuộc sống của
mình.
Thứ bảy, tăng cường phân cấp quản lý giữa tỉnh, huyện và cấp xã, đi đôi với nâng cao
năng lực và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành.
Thứ tám, công tác kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thực hiện chính sách đã được
thực hiện thường xuyên với sự tham gia của nhiều cấp, nhiều ngành
Thứ chín, quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách XĐGN đã đạt được những
dân tộc nội trú, bán trú nhằm đáp ứng đủ nguồn cán bộ tại chỗ.
Thứ hai về xây dựng phát triển cơ sở hạ tần (CSHT):
- Tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình tổ chức triển khai xây dựng
CSHT;
- Huy động và phân bổ có hiệu quả nguồn lực thực hiện;
- Thực hiện có hiệu quả chủ trương phân cấp xã làm chủ đầu tư;
- Thiết lập các tổ chức quản lý, theo dõi và giám sát ở cấp xã;
- Thực hiện có hiệu quả mục tiêu xã có công trình, người dân có việc làm tăng thu
nhập.
4.1.2. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa chính quyền với các tổ chức Chính
trị - xã hội trong thực hiện chính sách XĐGN.
Trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách XĐGN ở địa phương, chính quyền và các
tổ chức chính trị xã hội cần phải phối hợp với nhau trong những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, phối hợp trong phổ biến, tuyên truyền về chính sách XĐGN tại địa phương.
Thứ hai, phối hợp trong việc tìm kiếm các biện pháp thực hiện chính sách XĐGN.
16
Thứ ba, phối hợp trong phân công thực hiện chính sách XĐGN.
Thứ tư, phối hợp trong theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách XĐGN.
Thứ năm, phối hợp trong việc đánh giá quá trình thực hiện chính sách XĐGN.
4.1.3 Tập trung thực hiện có kết quả và hiệu quả các chính sách có tác động trực
tiếp đến đời sống và sinh hoạt của người nghèo
Cụ thể như sau:
Thứ nhất; tăng cường năng lực cho người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các
công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư, từng bước phát huy lợi thế của từng địa
phương, khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên. Bước đầu phát triển sản xuất theo
hướng sản xuất hàng hoá quy mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận các dịch vụ sản xuất và thị
trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi.
Thứ hai; Thực hiện đồng bộ các chính sách của Nhà nước đã ban hành để hỗ trợ cho
vững mối đoàn kết toàn dân trong các cuộc đấu tranh cứu nước trước đây. Do đó, trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, các thế lực thù địch đã và đang chống phá, thì còn phải nâng cao hơn
nữa tinh thần và truyền thống đoàn kết quý báu này. Hoạt động dân tộc, tôn giáo ở Tây Bắc
đang còn diễn biến phức tạp.
Đề cao vai trò của trưởng bản, trưởng thôn, trưởng các dòng họ, người có uy tín trong
đồng bào dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, theo chúng tôi để các chủ trương của Đảng, chính
sách của Nhà nước mang 21 lại hiệu quả cao hơn nữa, thì ngay cả người dân cũng phải vượt
qua tâm lý ỷ lại, trông chờ và tự ti. Và do đó, vai trò của những người cao tuổi, trưởng bản
càng quan trọng hơn.
4.2. Nhóm những giải pháp cụ thể áp dụng cho các bước trong quy trình thực thi
chính sách
4.2.1. Đổi mới công tác ban hành văn bản và kế hoạch tổ chức thực hiện
Thứ nhất, về công tác xây dựng, ban hành văn bản:
Thứ hai, về xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện:
18
- Tăng cường sự tham gia tích cực có hiệu quả của các đối tượng chính sách (người
nghèo) vào quá trình xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện.
- Tạo cơ chế phối hợp giữa chính quyền tỉnh, huyện, xã trong việc xây dựng kế hoạch
thực hiện.
4.2.2. Tăng cường công tác phổ biến tuyên truyền về chính sách xóa đói giảm
nghèo và trợ giúp pháp lý cho người nghèo
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác truyền thông về XĐGN để mọi người cùng hiểu rõ
XĐGN là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và của mọi người dân.
Thứ hai, nêu cao tinh thầm xung kích và trách nhiệm của các cấp ủy đảng của Mặt trận
tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội Phụ nữa, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh…các cấp trong
công tác vận động,tuyên truyền về thực hiện chính sách.
Thứ ba, tăng cường trợ giúp pháp lý cho người nghèo, người DTTS để họ nâng cao
nhận thức, kiến thức về pháp luật tránh rơi vào nhóm yếu thế trong xã hội.
4.2.5. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện
Thứ nhất, công khai các chương trình, dự án, nhất là nguồn lực tài chính để thực hiện
chính sách.
Thứ hai, trong quá trình thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá nhất thiết phải có sự
tham gia của đại diện các tổ chức đoàn thể ở địa phương đặc biệt là sự tham gia của đại diện
người dân như già làng, trưởng bản hoặc đại diện người nghèo, hộ nghèo.
20
KẾT LUẬN
Thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo là toàn bộ quá trình đưa chính sách vào đời
sống xã hội theo một quy trình, thủ tục chặt chẽ và thống nhất nhằm giải quyết vấn đề đói
nghèo đang diễn ra đối với những đối tượng cụ thể trong một phạm vi không gian và thời
gian nhất định. Đặc biệt là ở các tỉnh Tây Bắc – nơi có điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội
đặc biệt thì việc thực thi chính sách này trong thực tế là vô cùng cần thiết.
Chính sách XĐGN tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của người dân và có
liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội. Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức
triển khai thực hiện chính sách XĐGN ở các tỉnh Tây Bắc, cần huy động sự tham gia của các
bên vào quá trình thực hiện chính sách. Các bên tham gia vào quá trình thực hiện chính sách
XĐGN bao gồm: các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các tổ chức Chính trị, tổ chức Chính
trị- Xã hội, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền
và các cá nhân, công dân trong xã hội...nhằm đưa chính sách vào thực tế.
21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình đại cương về Phân tích chính sách công
2. Trang wep: thanhtra.edu.vn