DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM - Pdf 40

Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần I

DỊCH VỤ NGÂN HÀNG VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN, HỘ
GIA ĐÌNH Ở MỘT SỐ NƯỚC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
CHO VIỆT NAM
TS. Nguyễn Thị Thúy
Khoa Kinh tế Quản lý - Đại học Thăng Long
Email: [email protected]
Tóm tắt: Bài viết tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về tiếp cận dịch vụ ngân hàng
(DVNH). Các nghiên cứu này cho thấy tiếp cận DVNH chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác
nhau, với các mức độ khác nhau, tựu lại có những nhân tố chính sau: (1) Đặc điểm của khách
hàng như quy mô hộ gia đình, giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi, vùng, miền, khoảng cách
địa lý, nghề nghiệp, thu nhập - chi tiêu, mối quan hệ với ngân hàng; (2) Đặc điểm của ngân
hàng như mạng lưới hoạt động, mạng lưới thông tin, thủ tục và điều kiện sử dụng dịch vụ, lợi
thế của từng loại hình ngân hàng, mức độ đa dạng hóa sản phẩm đối với nhóm khách hàng.
Trên cơ sở tổng hợp đó, bài viết đưa ra một số kinh nghiệm mà hệ thống ngân hàng Việt Nam
cần học hỏi để đảm bảo gia tăng tiếp cận DVNH.
Từ khóa: Tiếp cận dịch vụ ngân hàng, nhân tố ảnh hưởng, dịch vụ ngân hàng.
1. Đặt vấn đề
Dịch vụ ngân hàng với khách hàng cá nhân, hộ gia đình phát triển từ lâu trên thế giới
và hiện nay được các ngân hàng thương mại (NHTM) tại nhiều nước rất quan tâm phát triển.
Đây là phân khúc thị trường tín dụng đem lại nguồn thu nhập quan trọng và tạo điều kiện cho
NHTM bán trọn gói sản phẩm dịch vụ cho khách hàng. Các NHTM hướng mục tiêu kinh
doanh của mình sang các khách hàng cá nhân và hộ gia đình như là một nguồn tăng trưởng
cho vay và lợi nhuận.
Bài viết này đề cập đến thực tiễn tiếp cận dịch vụ ngân hàng với khách hàng cá nhân,
hộ gia đình tại một số nước, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc gia
tăng số lượng khách hàng, tăng dư nợ và doanh số,... cho phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh
cụ thể về kinh tế, về văn hóa - xã hội của Việt Nam
2. Cơ sở lý thuyết về dịch vụ ngân hàng
Trước tiên, cần thống nhất khái niệm DVNH để xác định đúng đối tượng cần tác động.

chuyển tiền và thanh toán, séc, bão lãnh, và cam kết mua bán các công cụ thị trường tài chính,
phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung
cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư vấn và trung gian hỗ trợ về tài chính. Vì
vậy, theo tác giả nên hiểu DVNH theo quan điểm thứ hai cho phù hợp với thông lệ quốc tế.
Để làm được điều này, NHNN cần phối hợp với Tổng cục Thống kê xây dựng danh mục
DVNH theo chuẩn mực quốc tế. Việc này vừa đáp ứng nguyên tắc 2 của Basel II, vừa cho
phép các NHTM chủ động trong phát triển dịch vụ, vừa tạo điều kiện cho NHNN quản lý các
NHTM trong việc mở các dịch vụ mới và làm cơ sở thống nhất các bảng biểu thống kê phục
vụ cho áo cáo định kỳ và giám sát. Khi xây dựng danh mục dịch vụ này, NHNN cần chú trọng
sự phù hợp với tình hình thực tế về nhu cầu phát triển, khả năng cung cấp dịch vụ của NHTM,
tác động của triển khai dịch vụ đến ổn định kinh tế vĩ mô, khả năng giám sát của các cơ quan
quản lý và lộ trình thực hiện cam kết quốc tế trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Ngoài ra,
NHNN cần ban hành kèm theo các quy trình, quy chế hoạt động chung của ngân hàng cùng
những hướng dẫn cụ thể để các ngân hàng có thể triển khai một cách thống nhất.
Tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Trên thế giới, nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến việc tiếp cận DVNH đã được
thực hiện và công bố thể hiện hiều quan điểm khác nhau về thế nào là tiếp cận DVNH. Theo
Beck (2005), "Tiếp cận với các dịch vụ tài chính không phải là đồng nghĩa với việc sử dụng
các DVNH. Tác nhân kinh tế có thể có tiếp cận với các dịch vụ tài chính, nhưng có thể quyết
định không sử dụng chúng, hoặc do các lý do văn hoá - xã hội, hoặc bởi vì chi phí cơ hội là
quá cao". Tuy nhiên trong nghiên cứu này, tiếp cận DVNH được hiểu là có sử dụng DVNH.
Đây là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu trong các công trình được tổng hợp dưới đây
đồng thuận.
Nhân tố quyết định tiếp cận dịch vụ ngân hàng
Vaessen (2001) nghiên cứu về tầm quan trọng của mạnh lưới và các khuyến nghị đến
khả năng tiếp cận tín dụng nông thôn ở miền Bắc Nicaragua, cụ thể tại Ngân hàng Fondo de
Desarrollo Local (FDL) - một ngân hàng Nông nghiệp. Với mô hình hồi quy Logit nghiên cứu
đã đi đến kết luậ trên hai góc độ: hộ gia đình và NH. Trên quan điểm hộ gia đình, năng lực,
mức độ sẵn lòng vay nợ và tiếp cận với mạng lưới thông tin cũng như khuyến nghị liên quan
đến nhân viên NH hoặc khách hàng hiện tại có ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng

kiện hội đủ. Cụ thể:
- Đối với dịch vụ tiền gửi, rào cản tiếp cận vật lý thể hiện ở việc tiếp cận đến các
DVNH thường có thể bị cản trở bởi khoảng cách xa đến một điểm giao dịch ngân hàng. Dù
cho mạng lưới các điểm thực hiện nghiệp vụ tiền gửi có rộng rãi, thì không phải tất cả đều
cung cấp những dịch vụ như nhau. Rào cản về khả năng chi trả của dịch vụ tiền gửi được thể
hiện ở việc yêu cầu số dư tối thiểu để mở tài khoản cộng với phí duy trì tài khoản đó. Giữa
các quốc gia với nhau có sự khác nhau đáng kể về tỷ lệ giữa tổng số dư tối thiểu để mở tài
khoản trên GDP bình quân đầu người cũng như mức phí để duy trì tài khoản. Tỷ lệ số dư tối
thiểu canà thiết để mở một tài khoản tiết kiệm dao động từ con số 0% ở 9 quốc gia (Úc, Bỉ,
Đan mạch, Ai Cập, Israel, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, và Thổ Nhĩ Kỳ), đến 40% ở Cameroon,
Kenya, Nepal, Sierra Leone và Uganda. Giá trị trung bình của chỉ số này là 1,2% GDP. Về
tiêu chuẩn mở tài khoản, trên thế giới, các ngân hàng chỉ yêu cầu bằng chứng về nhận dạng
chứng minh để mở tài khoản cho khách hàng mới, tuy nhiên ở nhiều nước, các NH còn yêu
cầu thêm thư giới thiệu, phiếu lương và cả bằng chứng về nơi cư trú.
- Đối với dịch vụ tín dụng, sự tiếp cận vật lý là rào cản, thể hiện ở địa điểm có thể
nộp các hồ sơ xin vay vốn của khách hàng. Trong khi khách hàng ở Armenia, Ethiopia, Nepal,
Sierra Leone, Thái Lan và Uganda chỉ có thể áp dụng cho các khoản vay tại trụ sở chính của
NH và chi nhánh thì khách hàng ở Úc, Chile, Đan Mạch, Hy Lạp, Nam Phi và Tây Ban Nha
không chỉ có thể sử dụng chi nhánh và các cửa hàng không chi nhánh mà còn có thể nộp đơn
qua điện thoại và internet. Khả năng chi trả khoản vay được tính bằng số tiền nhỏ nhât cho
một khoản tiêu dùng của khách hàng cá nhân và phí tính trên khoản vay đó. Số tiền nhỏ nhất
cho mỗi khoản vay tiêu dùng của khách hàng dao động ở mức nhỏ hơn 1% trên GDP đầu
người ở Đan Mạch và Thụy Sĩ cho đến mức 1,152% ở Nepal. Số tiền cho vay tiêu dùng cá
nhân trung bình là 76% GDP. Đối với khách hàng là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), trong
Trường Đại học Thăng Long

283


Kỷ yếu công trình khoa học 2015 - Phần I

banking. Bằng việc rút ra bài học và các hướng dẫn từ các nước New ZeaLand, Úc, Hoa Kỳ,
Canada, Hà Lan, nghiên cứu đã đưa ra các khuyến nghị và giải pháp cho vấn đề trên.
Trong nước cũng có nhiều nghiên cứu về tiếp cận DVNH nhưng chỉ dừng lại ở một
dịch vụ hoặc phạm vị hẹp trog huyện, tỉnh. Cụ thể: Nguyễn Minh Hà vàLại Thị Thu Huyền
(2012) xác định các nhân tố ảnh huởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nông hộ
huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, từ đó đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao việc tiếp
cận nguồn vốn tín dụng cho các hộ nông dân. Nghiên cứu sử dụng các số liệu được thu thập
thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 220 hộ nông dân. Bằng việc sử dụng mô hình Binary
Logistic để phân tích, kết quả nghiên cứu cho thấy 6 nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận
nguồn vốn tín dụng của nông dân. Cụ thể: biến lãi suất có ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn tín
dụng của hộ ở mức ý nghĩa 5% và dấu hệ ước lượng của biến ngược với dấu kỳ vọng ban đầu,
nghĩa là khi lãi suất tăng lên thì việc vay được vốn của hộ tăng. Biến thủ tực vay vốn ở các
TCTD có ảnh hưởng đến việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ ở mức ý nghĩa 5% và dấu
tham số ước lượng giống như kỳ vọng. Khi thủ tục vay vốn phức tạp hơn thì khả năng tiếp
cân tín dụng của hộ giảm. Biến xã hội có ảnh hưởng đến việc tiếp cận tín dụng của hộ ở mức
ý nghĩa 5% và dấu của tham số ước lượng cùng với kỳ vọng. Nếu số lượng thành viên tham
gia tổ chức chính trị - xã hội tăng thì việc tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của hộ cũng sẽ
tăng lên. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (số đỏ) có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc ở mức
ý nghĩa 5%. Dấu hệ số ước lượng của biến số đỏ cùng với dấu kỳ vọng, tức là những hộ có số
đỏ có khả năng vay vốn từ các TCTD cao hơn những hộ không có số đỏ và số tiền vay cũng
nhiều hơn những hộ vay tín chấp. Biến đáp ứng nhu cầu có ảnh hưởng đến việc tiếp cận
nguồn vốn tín dụng của hộ ở mức ý nghĩa 10% và dấu của hệ số ước lượng cùng với kỳ vọng
ban đầu, nghĩa là khi số tiền vay của hộ quá ít hay không đủ đáp ứng nhu cầu của hộ thì việc
vay của hộ giảm trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Biến tuổi chủ hộ cho thấy, nếu
tuổi chủ hộ tăng thêm thì việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng của hộ sẽ tăng.
Nguyễn Quốc Oánh và Phạm Thị Mỹ Dung (2010) đánh giá ảnh hưởng của các nhân
tố đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức của hộ nông dân ở cận ngoại thành ở
Hà Nội. Mô hình hồ quy hai bước của Heckman được sử dụng để ước lượng ảnh hưởng của
các biến độc lập đến biến phụ thuộc dựa trên các thông tin đặc trưng của hộ và các nhân tố
ngoại sinh khác. Kết quả hồi quy chỉ ra rằng, độ tuổi và địa vị xã hội của chủ hộ, tín dụng

hạn chế so với chủ hộ là nữ.
3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Các nghiên cứu trên cho thấy việc nghiên cứu và tìm cách để mở rộng mức độ tiếp cận
DVNH là việc làm rất có ý nghĩa, được nhiều nguời quan tâm, nhiều quốc gia quan tâm bởi
thực sự mức độ tiếp cận DVNH là giảp pháp tích cực hỗ trợ cho việc giảm nghèo đói, nâng
cao đời sống cộng đồng "tăng cường cao về số lượng tài khoản ngân hàng đi kèm với việc
giảm nghèo", hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng. Việc nghiên cứu vấn đề này đã được tiếp cận từ
nhiều góc độ khác nhau, nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau, vì vậy những kinh nghiệm có
thể rút ra thành bài học cho Việt Nam phải được nhìn từ những kết quả vừa mang tính phổ
biến song vừa phải phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể về kinh tế, về văn hóa - xã hội
của Việt Nam. Với nhận thức như vậy, tác giả xin đề xuất những bài học kinh nghiệm như
sau:
Thứ nhất, tiếp cận DVNH cần phải hiểu đó là sự tiếp cận từ cả hai phía, cả phía ngân
hàng và cả phía khách hàng. Sự cố gắng đơn phương cho dù từ phía nào thì cũng khó có thể
mở rộng khả năng tiếp cận DVNH hay nói cách khác là khó có thể phổ cập DVNH trong cộng
đồng.
Thứ hai, mức độ tiếp cận DVNH nhìn từ phía năng lực khách hàng của ngân hàng phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố về trình độ học vấn, quy mô hộ gia đình, độ
tuổi, địa vị của chủ hộ cũng như việc hộ gia đình có những hoạt động liên quan đến thương
mại, đến sản xuất, chăn nuôi...là những yếu tố tác động tích cực, thuận chiều với khả năng
tiếp cận DVNH. Khả năng tiếp cận tín dụng không chính thức làm giảm mức độ sử dụng dịch
vụ tín dụng của ngân hàng.
Thứ ba, khoảng cách về không gian và thời gian giữa ngân hàng và khách hàng là yếu
tố mang tính trung dung - nếu mạng lưới của ngân hàng phủ khắp thì khoảng cách không gian
và thời gian được rút ngắn; hoặc công nghệ phát triển, cả NH và KH đều có khả năng thỏa
thuận với nhau về việc cung cấp (NH) và sử dụng (KH) DVNH thì khoảng cách về thời gian
Trường Đại học Thăng Long

286


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status