Phân tích giá trị của các kỹ thuật Y học hạt nhân trong chẩn đoán và điều trị bệnh Ung thu biểu mô tế bào gan - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƯỢC
BỘ MÔN KỸ THUẬT Y HỌC

PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ CỦA CÁC KỸ THUẬT
Y HỌC HẠT NHÂN
TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH
UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN
MÔN : Y HỌC HẠT NHÂN
Nhóm thực hiện: nhóm 2

Mã sinh viên

Nguyễn Việt Dũng
Hoàng Ngọc Cảnh
Phí Thị Tú Anh
Hoàng Ánh Dương
Vũ Thị Mai Anh
Đặng Tuấn Anh

12100171
12000072
12100103
12100154
12100105
12100101

Người hướng dẫn: Gs.TSKH. Phan Sỹ An
Ths. Bs. Doãn Văn Ngọc
HÀ NỘI – 2016


3

Chữ viết
tắt
SUV
cs.
TNM

4
5
6
7
8
9
10
11

MDCT
HBV
HCV
FNH
DCPX
CT
MRI
TACE

12
13
14
15

M: Di căn xa (Metastase).
Multi detector CT
CT đa dãy đầu dò
Hepatitis B Virus
Virus viêm gan B
Hepatitis C Virus
Virus viêm gan C
Focal Nodular hyperplasia
Tăng sản nốt khu trú
Dược chất phóng xạ
Computer Tomography
Cắt lớp vi tính
Magnetic Resonance Imaging Cộng hường từ
transarterial
Gây tắc động mạch khối u
chemoembolization
bằng hóa chất
portal vein thrombosis
Thuyên tắc tĩnh mạch cửa
Barcelona Clinic Liver Cancer Viện ung thư gan Barcelona
Portal vein embolization
Gây tắc tĩnh mạch cửa
Transarterial
Tiêu diệt khối u bằng cách
Radioembolization
tiêm dược chất phóng xạ qua
động mạch
Alpha – fetoprotein
Xét nghiệm nồng độ AFP
trong huyết thanh

Phần lớn số trường hợp phát hiện HCC ở giai đoạn tiến triển hoặc giai đoạn
muộn, không phù hợp với các phương pháp điều trị triệt căn như phẫu thuật cắt gan,
ghép gan, phá hủy khối u qua da. Cho tới nay, phẫu thuật vẫn được xem là phương
pháp điều trị tối ưu cho HCC. Tuy nhiên phương pháp này chỉ có thể áp dụng cho
khoảng 20-30% số trường hợp tại thời điểm chẩn đoán, do tình trạng khối u gan cùng
với bệnh lý gan tiềm tàng làm cản trở đến chỉ định phẫu thuật và kết quả cũng không
cao [6],[7].
Trong chẩn đoán và điều trị ung thư biểu mô tế bào gan, y học hạt nhân đang
dần nâng cao vai trò của mình với các kỹ thuật ghi hình phóng xạ (PET, PET/CT,
SPECT…) cùng các liệu pháp điều trị bằng dược chất phóng xạ hứa hẹn cho kết quả
điều trị khả quan khi góp phần làm thay đổi tiến triển bệnh, kéo dài thời gian sống cho
bệnh nhân và giảm các biến chứng nặng [8]. Tuy nhiên đứng trước các kỹ thuật đa

1


dạng và phong phú trong chẩn đoán và điều trị HCC, việc phân tích và dánh giá đúng
đắn giá trị của chúng là cần thiết để có thể lựa chọn và thiết lập một chiến lược áp
dụng trong chẩn đoán, điều trị một cách hợp lý và hiệu quả.
2. NỘI DUNG
2.1. Ung thư biểu mô tế bào gan (HCC – Hepatocellular carcinoma)
2.1.1. Định nghĩa
Ung thư biểu mô tế bào gan là một bệnh ung thư nguyên phát chính của gan, xảy
ra chủ yếu ở những bệnh nhân với bệnh gan mãn tính và xơ gan. Các tế bào có nguồn
gốc được cho là từ tế bào gan, mặc dù điều này vẫn là chủ đề đang nghiên cứu. Khối u
phát triển với sự lan rộng của khu vực trong gan và di căn xa. [9].
2.1.2. Các yếu tố nguy cơ [5]
- Virus viêm gan B (HBV): nguy cơ của những người mang HBV mạn tính bị ung
thư gan cao hơn ở người bình thường rất nhiều – từ hàng chục đến hàng trăm lần.
- Virus viêm gan C (HCV): Tỷ lệ ung thư gan ở người xơ gan do HCV sau 25 –

* Thực thể
- Gan to, thường không đều, mặt có thể nhẵn hoặc lổn nhổn, mật độ chắc cứng, ấn
có thể đau, một số trường hợp nghe thấy có tiếng thổi. Các triệu chứng đi kèm: cổ
trướng, tuần hoàn bàng hệ, vàng da, xuất huyết dưới da.
2.1.5.2. Cận lâm sàng
- Alpha – fetoprotein (AFP): là một protein bào thai. Ở người bình thường trong
huyết tương < 10 ng/ml. Khi > 20 ng/ml được coi là cao. Có giá trị chẩn đoán xác định
khi > 400 ng/ml.
- Siêu âm: là một kỹ thuật khá phổ biến và tin cậy trong chẩn đoán ung thư biểu
mô tế bào gan. Hình ảnh khối u khu trú trong gan có các dạng giảm âm, tăng âm hay
hỗn hợp.
- Chụp cắt lớp vi tính (CT) và cộng hưởng từ (MRI): cho phép phát hiện các khối
ung thư có kích thước nhỏ. Đặc điểm trên CT và MRI của các khối u gan > 2 cm ngấm
thuốc rất mạnh ở thì động mạch và thoát thuốc nhanh ở thì tĩnh mạch.
- Chụp cản quang động mạch gan (Angiography): thường được sử dụng để chẩn
đoán khối u gan bé, chẩn đoán phân biệt và kết hợp với điều trị nút mạch hóa chất.

3


- Ghi hình cắt lớp bằng positron (PET) : PET sử dụng dược chất phóng xạ Flo18-fluorodeoxyglucose (FDG) hoặc gần đây là

11

C-acetate toàn thân kết hợp với CT

(PET-CT) có thể đóng một vai trò trong việc đánh giá một số bệnh nhân bị HCC.
- Sinh thiết gan có hướng dẫn của: siêu âm, CT hoặc MRI bằng kim .
2.1.6. Chẩn đoán và tiên lượng
2.1.6.1. Chẩn đoán

Chiếu tia gamma từ bên ngoài vào ổ ung thư; dùng các dòng điện cao tần, sóng
cực ngắn, tia laser hoặc tiêm nước nóng, rượu ethanol hoặc acid acetic vào giữa ổ ung
thư để diệt tế bào bệnh.
2.1.7.3. Hoá chất trị liệu toàn thân
Tiêm truyền qua đường tĩnh mạch các hoá chất diệt ung thư, các kháng sinh chống
ung thư để kéo dài được thời gian sống cho bệnh nhân nhưng gây độc cho cơ thể.
2.1.7.4. Gây tắc động mạch gan bằng kỹ thuật đặt ống thông, bơm chất gây tắc
mạch nuôi khối u
Thông thường, người ta kết hợp với chụp mạch ở gan để xác định vị trí. Sau đó gây
tắc mạch nuôi dưỡng khối u để tiêu diệt tổ chức ung thư. Nếu tiêm hoá chất vào động
mạch gây tắc mạch gọi là phương pháp TACE (Transarterial Chemoembolization).
2.1.7.5. Kỹ thuật y học hạt nhân
Thay vì tiêm các chất gây tắc mạch hoặc hoá chất tại chỗ, người ta tiêm dược chất
phóng xạ qua các ống thông vào động mạch gan (Transarterial RadioembolizationTARE). Các dược chất phóng xạ này đến được tổ chức ung thư, lưu lại đó nhiều mà
thoát ra rất ít. Tia Beta từ các hạt nhân phóng xạ sẽ tiêu diệt các tế bào bệnh. Đồng
thời ở thời điểm đó, liều phóng xạ tối đa đối với tổ chức gan lành, phổi, tuỷ xương là
chấp nhận được. Hiện nay chủ yếu sử dụng hai loại DCPX là Lipiodol đánh dấu phóng
xạ và vi cầu (microsphere) đánh dấu phóng xạ.
2.1.7.6. Liệu pháp phân tử nhắm trúng đích :
- Có nhiều loại thuốc đang được nghiên cứu. Loại đã được công nhận và đưa vào sử
dụng tương đối rộng rãi là Sorafenid [5]. Thuốc tác động lên sự phát triển của tế bào
ung thư gan và ức chế sự tăng sinh mạch của khối u.

5


2.2. Giá trị của các kỹ thuật y học hạt nhân trong chẩn đoán ung thư biểu mô tế
bào gan (HCC)
2.2.1. Các kỹ thuật ghi hình phóng xạ
Hiện nay trong chẩn đoán ung thư tế bào biểu mô tế bào gan (HCC), người ta chủ

đặc biệt có thể quét toàn thân (ghi hình toàn thân), chức năng này không ở máy CT và

6


máy cộng hưởng từ.Với hình ảnh SPECT, người thầy thuốc có thể tìm thấy những tổn
thương, biến đổi bất thường rất nhỏ trong cơ thể người bệnh. Do đó ảnh SPECT cho
phép phát hiện sớm bệnh ung thư, tái phát và di căn trước các phương pháp khác như
CT, cộng hưởng từ và siêu âm. Đặc biệt là dùng để đánh giá hiệu quả điều trị, ví dụ
sau một đợt điều trị hóa chất hoặc tia xạ, người ta sử dụng SPECT kiểm tra xem có
hiệu quả không và mức độ đến đâu để giúp cho thầy thuốc xem xét cần tiếp tục điều trị
hay thay đổi loại hóa chất, liều xạ để cho kết quả tốt hơn
Hiện nay ở nước ta, ứng dụng SPECT trong chẩn đoán ung thư gan nguyên phát
chủ yếu sử dụng DCPX là Technetium 99mTc Sulfur Colloid. Để chụp SPECT gan cần
đưa

99m

Tc Sulfur Colloid vào cơ thể qua đường tĩnh mạch. Các hạt keo phóng xạ theo

dòng máu đến gan sẽ được tế bào Kuffer hệ liên võng nội mô của gan bắt giữ, tập
trung và phân bố đều trong gan. Với máy SPECT ta có thể ghi hình gan giúp đánh giá
vị trí, hình dáng, kích thước và cấu trúc gan. Nếu có sự phá hủy cấu tạo bình thường
của nhu mô gan, thì các tế bào liên võng nội mô ở đó cũng bị tổn thương hoặc bị thay
thế, vì vậy tại vùng tổn thương sẽ giảm hoặc không tập trung thuốc phóng xạ biểu hiện
bằng vùng “lạnh” hay vùng “khuyết” hoạt độ phóng xạ trên xạ hình, đây cũng chính là
dấu hiệu chủ yếu để phát hiện ung thư gan nguyên phát (HCC).
Trong một nghiên cứu của Mai Trọng Khoa và cs [13] thực hiện chẩn đoán ung
thư gan bằng kỹ thuật SPECT với Tc99m Sunfur Colloid (liều 7 -10 mCi, tiêm tĩnh
mạch), trên 619 bệnh nhân tại bệnh viên Bạch Mai, trong thời gian 2 năm đã cho thấy


thuốc cản quang [14]

2.2.1.2. Kỹ thuật PET và PET/CT
18

2.2.1.2.1 PET và PET/CT sử dụng 18F-FDG ( F - Fludeoxyglucose) :
Gan là nguồn sản xuất glucose chính của cơ thể, với tốc độ khoảng 2.0 mg/kg/min,
điều này giúp duy trì cân bằng glucose nội môi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có sự
biến thiên giữa các mức nồng độ của glucose-6-phosphatase hoạt động và chất chuyển
vận glucose trong HCC, điều này dẫn tới sự biến đổi trong việc hấp thụ 18F-FDG [15].
Torizuka và cs. đã chỉ ra rằng sự hấp thụ FDG bởi các tổn thương trong HCC có tương
quan với các mức độ biệt hóa HCC khác nhau; những người mắc HCC ở giai đoạn
nặng có sự tăng hấp thụ FDG (giá trị hấp thụ đã chuẩn hóa – SUV trung bình : 6.89 +
3.39) so với HCC ở giai đoạn nhẹ (3.21+ 0.58) (p
10


Hình 3: BN 56 tuổi mắc viêm gan C và HCC
[15]. A-C. PET với cường độ chiếu tối đa (A),
CT mặt phằng ngang (B), và kết hợp PET/CT
(C) cho thấy hình ảnh đa tổn thương gan (mũi
tên ở B và C), bao gồm tổn thương rõ rệt ở
mức 5/8 với giá trị SUV(SUVmax) tối đa bằng
3.6 . D-F. PET với cường độ chiếu tối đa (D),
CT mặt phằng ngang (E), và kết hợp PET/CT
(F) cho thấy hình ảnh hạch lympho cạnh tụy
tăng chuyển hóa và hoại tử (mũi tên ở E và F)
với giá trị SUVmax= 8.5

Hình 4. BN 47 tuổi mắc viêm gan B và C có nồng độ AFP huyết thanh tăng cao.[15]
A, Hình ảnh chụp MRI lát cắt ngang T1 cho thấy tổn thương (mũi tên) kích thước 4.5 x 3.5 cm ở đoạn
2 của gan. BN chưa điều trị hóa-tắc mạch. PET/CT tiến hành 20 ngày sau đó cho kết quả hình ảnh tổn
thương ở gan và di căn phổi. B, Hình ảnh lát cát ngang PET/CT cho thấy khối hoại tử lớn KT
9.9x4.7x9.9 cm (mũi tên) ở thùy trái của gan với bờ viền tăng chuyển hóa. Kết quả phù hợp với tiền sử
điều trị hóa-tắc mạch cho khối u HCC lớn của bệnh nhân.C, PET/CT cho thấy hình ảnh tổn thương
tăng chuyển hóa (mũi tên) ở thùy giữa của phổi phải với SUVmax = 2.6, biểu hiện 1 di căn phổi. BN đã
thực hiện hóa trị liệu trong 3 tháng và sau đó kết quả PET/CT cho thấy sự tiến triển xấu đi ở cả gan
và phổi. D, Hình ảnh lát cát ngang PET/CT cho thấy khoảng lan rộng và sự tăng chuyển hóa với
SUVmax = 6.6 , bao quanh một khối khuyết sáng lớn ở thùy trái của gan. E và F, Hình ảnh CT phổi ở
của sổ nhu mô (E) và kết hợp PET/CT (F) cho thấy nhiều hạch tăng chuyển hóa biểu hiện một di căn
phổi đang tiến triển.

11



C-acetate PET / CT trong việc phát

hiện HCC tái phát.
Hình 5: Ảnh chụp 11C-acetate PET của một bệnh nhân HCC đã cắt
gan một phần. Chúng ta có thể thấy sự hấp thụ bất thường ở vùng
hạ sườn phải của bệnh nhân, ngay dưới gan. Đây là một dấu hiệu
tái phát của HCC [17].

Trong năm 2009, Park đã kiểm tra ứng dụng của 11C-acetate PET / CT trong phát
hiện HCC nguyên phát và di căn (Hình 6) trên 112 bệnh nhân và so sánh độ nhạy với
18

F-FDG [17]. Kết quả thu được: độ nhạy của 18F-FDG, 11Cacetate, và khi sử dụng cả

hai chất đánh dấu (Dual tracer) với PET / CT ở bệnh nhân HCC nguyên phát lần lượt
là: 60,9%, 75,4% và 82,7%, trong khi ở những bệnh nhân có di căn, kết quả lần lượt là
85,7%, 77,0%, và 85,7%. Các tác giả kết luận rằng

12

11

C-acetate PET nhạy hơn trong


việc phát hiện HCC nguyên phát, trong khi

18


Hiện nay, kỹ thuật định lượng phóng xạ được sử dụng để xác định nồng độ
Alpha-fetoprotein (AFP) trong huyết thanh nhằm mục đích chẩn đoán ung thư biểu mô
tế bào gan (HCC).
Alfa-fetoprotein (α-fetoprotein, AFP) là glycoprotein lớn trong huyết thanh, một
protein phát triển khối u. Trong điều kiện bình thường, AFP là một glycoprotein đặc
hiệu của phôi thai với khối lượng phân tử 70kD. Về bệnh học, những bệnh nhân mắc
bệnh gan mạn tính có thể có AFP nhưng không mắc HCC. AFP tăng trong HCC, ung
thư tế bào mầm, ung thư phổi và ung thư dạ dày [19].
AFP được tổng hợp trong gần một nửa số trường hợp HCC, và được dùng để
chẩn đoán phân biệt cũng như theo dõi bệnh nhân bị u gan, nhưng không phát hiện bất
kỳ liên quan nào giữa biểu hiện lâm sàng với lượng AFP được tổng hợp trong HCC
[19]. AFP huyết thanh liên quan đến hai vấn đề; một là AFP tăng thoáng qua ở những

13


bệnh nhân mắc bệnh gan mạn tính, đặc biệt là trong các đợt viêm gan tiến triển (nồng
độ trong huyết thanh >100 ng/ml) (độ đặc hiệu thấp), thường tăng nhẹ trong viêm gan
cấp, viêm gan mạn và xơ gan. Hai là trên các bệnh nhân được chẩn đoán HCC. Tuy
nhiên, AFP không tăng ở tất cả bệnh nhân HCC, nồng độ AFP có thể bình thường ở
khoảng 40% số bệnh nhân, đặc biệt trong giai đoạn sớm của HCC (độ nhạy thấp) vì
vậy nó có thể gây ra âm tính giả [19].
Các yếu tố như tuổi, giới tính, nhiễm HBV và HCV, xơ gan và viêm gan cấp hoại
tử, đặc biệt là kích thước và hình dạng khối u có thể ảnh hưởng tới nồng độ AFP. Theo
một nghiên cứu đã công bố, xét nghiệm này có độ nhạy 39-65%, độ đặc hiệu 76-94%
khi chẩn đoán HCC [19]. Mặc dù vai trò của AFP trong chẩn đoán tiến triển của HCC
đã được ghi nhận, tối thiểu 1/3 số trường hợp HCC kích thước nhỏ và 30% HCC tiến
triển vẫn bị bỏ sót khi sử dụng xét nghiệm AFP trừ khi có thêm một công cụ chẩn
đoán khác [19]. Đánh giá AFP và siêu âm gan có thể là yếu tố chẩn đoán trong tầm
soát và theo dõi các bệnh nhân có nguy cơ HCC. Độ nhạy của xét nghiệm AFP khác

là Iodine-131 131I và gần đây là Rhenium-188 (188Re).
2.3.1.1. Iodine-131(131I)-Lipiodol
Iodine-131 (131I)-Lipiodol, thương phẩm là Lipiocis (hãng Cis Bio International,
Gif sur Yvette, Pháp). Dược phẩm thường được sản xuất với liều lượng 60 mCi (2220
MBq). Tác dụng không mong muốn ít gặp, bao gồm sốt thoáng qua mức độ vừa
(29%), rối loạn tạm thời các xét nghiệm sinh học của gan mức độ vừa (20%) và đau
vùng tiêm (12.5%), giảm bạch cầu vừa phải có hồi phục (7%) và các bệnh viêm phổi
xâm nhập khuếch tán (2%) hiếm thấy hơn [23].
131

I-Lipiodol để điều trị giảm nhẹ với HCC không có khả năng phẫu thuật

Tỷ lệ sống được tăng lên đã được ghi nhận ở những người điều trị với

131

I-

Lipiodol, so với những người chỉ dùng các phương pháp nội khoa khác [23]. Phương
pháp này tỏ ra có hiệu quả với những khối u nhỏ, đơn độc và khu trú rõ, tỷ lệ đáp ứng
cũng giảm đi theo kích thước khối u tăng lên. Hạn chế của phương pháp này là kém
hiệu quả với những khối u lớn (> 5 cm). Tuy nhiên liệu pháp

131

I-Lipiodol vẫn tỏ ra

vượt trội hơn so với các liệu pháp điều trị toàn thân khác với những khối u đường kính
đến 5 cm [24].
Các dữ liệu về hiệu quả điều trị vẫn còn chưa đồng nhất. Sự giảm kích thước


Đáp ứng

Đáp ứng

Bệnh ổn

Bệnh tiến

AFP

năm, số tài liệu

tham gia

hoàn toàn

một phần

tối thiểu

định

triển

giảm

(CR)

(PR)

18

4

6

2

22/29

Leung 1994

22

1

3

-

12

6

13/25

Bhattacharya

22


23

0

3

-

12

8

-

Risse 2000

13

0

2

3

4

4

-


2/24

Risse 2006

17

0

4

1

7

5

-

Boucher 2007

40

1

18

-

19


Không giống như TACE bị hạn chế bởi thuyên tắc tĩnh mạch cửa (PVT), 131I-Lipiodol
đã cho thấy là lựa chọn hiệu quả trong điều trị bệnh nhân HCC có kèm theo PVT [24].
Raoul và cs. đã so sánh

131

I-Lipiodol với các biện pháp chăm sóc hỗ trợ khác tốt nhất

trên bệnh nhân HCC kèm PVT. Tỷ lệ sống sau 3, 6 và 9 tháng lần lượt là 71%, 48% và
7% ở nhóm được điều trị; và ở nhóm không điều trị là 10%, 0% và 0%. Tác giả kết
luận rằng 131I-Lipiodol là phương pháp điều trị giảm nhẹ có hiệu quả và an toàn [23].
131

I-Lipiodol trong điều trị hỗ trợ cho bệnh nhân HCC sau phẫu thuật cắt gan

Người ta đã cho rằng gan sau phẫu thuật bắt đầu tự tái tạo, những khối u rất nhỏ
trước kia có thể được kích thích phát triển. Nếu khả năng này được loại bỏ từ trước,
khả năng tái phát sẽ thấp hơn. Do đó

131

I-Lipiodol được sử dụng điều trị hỗ trợ sau

phẫu thuật cắt gan.Trong một nghiên cứu của Lau và cs., bệnh nhân HCC điều trị cắt
gan và phục hồi trong vòng 6 tuần được ngẫu nhiên chỉ định dùng

131

I-Lipiodol 1,850



I-Lipiodol trong điều trị hỗ trợ trước khi ghép gan . Các

kết quả lâu dài nên được dựa trên phân tích theo mục tiêu điều trị, và vai trò thực sự
của điều trị bổ trợ có thể nằm trong việc ngăn ngừa bệnh nhân tiến triển nặng thêm và
bị loại bỏ khỏi danh sách ứng viên khi thời gian chờ ghép quá lâu .
131

I-Lipiodol so với TACE

131

I-Lipiodol ở bệnh nhân có HCC và xơ gan có hiệu quả tương tự như liệu pháp

TACE. Tuy nhiên

131

I-Lipiodol có nhiều lợi ích hơn trên bệnh nhân ở giai đoạn bệnh

tiến triển, ví dụ giai đoạn III Okuda hoặc giai đoạn D theo BCLC cũng như bệnh nhân
có PVT. Những bệnh nhân PVT dùng

131

I-Lipiodol có thời gian sống trung bình dài

hơn 1 năm so với những người điều trị bằng TACE [24]. Hơn nữa,

131



beta của

188

Re cũng tương tự

90

Y và đủ cao đối với hiệu lực huỷ diệt tế bào ung thư

[26].
Nhiều ý kiến ủng hộ sử dụng phương pháp dùng

188

Re-Lipiodol để điều trị các

bệnh nhân bị ung thư biểu mô tế bào gan không có khả năng phẫu thuật [7]. Trong một
thử nghiệm tại BV Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh, các tác giả tiến hành 84 lần điều trị cho
51 bệnh nhân với liều trung bình khoảng 139 mCi, liều tối đa lên đến 678 mCi (4 lần
tiêm) đã thu được kết quả khả quan và rút ra nhận xét là "điều trị bằng

188

Re-HDD-

Lipiodol là phương pháp an toàn và tiết kiệm trong điều trị ung thư gan tiên phát quá
khả năng phẫu thuật" [27].

h). Hai loại vi cầu hiện hành có tên là TheraSphere® làm bằng thủy tinh, và SirSpheres®, làm bằng nhựa và có hiệu quả điều trị tương đương. Nghiên cứu thực
nghiệm cho thấy kỹ thuật vi cầu Ytrium-90 có thể đạt được khoảng 4.104 microsphere/
1cm3 nhu mô gan. Người ta có thể phối hợp cả 90Y và macro-aggreat albumin(MAA)
đánh dấu 99mTc, hoặc với các hóa chất như 5-Fluorouracil để điều trị [8].
Các nghiên cứu đầu tiên về Yttrium90 để điều trị bệnh lý ung thư đã có từ những
năm 1960. Tuy nhiên, phương pháp vi cầu Ytrium-90 mới chỉ được đưa vào ứng dụng
lâm sàng trong thập kỳ gần đây. Nhờ tính linh hoạt của nó, vi cầu Ytrium-90 đã được
ứng dụng và đánh giá trong các tình huống lâm sàng khác nhau :
Vi cầu Ytrium-90 điều trị HCC giai đoạn sớm
Bệnh nhân HCC ở giai đoạn sớm (BCLC giai đoạn A) là ứng cử viên cho
phương pháp điều trị chữa bệnh như ghép gan. Tuy nhiên, số lượng hiến tạng còn ít và
danh sách chờ đợi khá dài khiến cho bệnh nhân có nguy cơ tiến triển bệnh thêm, và có
thể bị loại bỏ khỏi danh sách chờ ghép. Vì vậy, bệnh nhân trong danh sách chờ được
thường xuyên điều trị bằng phương pháp tại chỗ, chẳng hạn như cắt đốt qua da hoặc
TACE, và gần đây là vi cầu Ytrium-90 để hạn chế nguy cơ tiến triển [28], Mặc dù
phương pháp này không được thực hiện rộng rãi do chi phí của nó.
Vi cầu Ytrium-90 điều trị HCC giai đoạn trung bình
Bệnh nhân có HCC giai đoạn trung bình (BCLC-B) biểu hiện thường không
đồng nhất . TACE thường được xem là lựa chọn điều trị trong các trường hợp này,
mặc dù điều trị tại chỗ và nội khoa (Sorafenib) đã cho thấy có hiệu quả. Ngoài ra, việc
sử dụng TACE bị giới hạn bởi một số chống chỉ định tương đối và tuyệt đối. Đối với
bệnh nhân, vi cầu Ytrium-90 có thể là một liệu pháp hữu hiệu, do tỷ lệ thấp của các tác
dụng phụ nghiêm trọng.

20


Cho đến nay, không có thử nghiệm ngẫu nhiên nào trực tiếp so sánh vi cầu
Ytrium-90 và TACE ở bệnh nhân HCC giai đoạn trung gian, do đó chủ yếu dựa trên
những đánh giá hồi cứu. Salem và cộng sự [22] đã so sánh 123 bệnh nhân được điều

giảm kích thước khối u trên hình ảnh CT
(74.5mm sau 6 tháng) tuy nhiên sau đó tiếp
tục tiến triển trở lại (83.3mm sau 12 tháng)
[29].

Vi cầu Ytrium-90 cũng cho thấy tiềm năng điều trị ở những bệnh nhân với mức
độ nặng và không đủ điều kiện để phẫu thuật. Ở những bệnh nhân này, phương pháp
gây tắc tĩnh mạch cửa (PVE) đã được đề xuất để gây phì đại thùy bên đối diện và
khiến cho phẫu thuật cắt bỏ có thể thực hiện được. Tuy nhiên, PVE lại liên quan tới
một số nguy cơ tiến triển khối u trong các thùy gan phì đại. Vi cầu Ytrium-90 có thể
gây ra sự giảm sản rõ rệt ở thùy gan được điều trị, kết hợp với dấu hiệu phì đại của
thùy bên đối diện [22]. Do đó, vi cầu Ytrium-90 đã được đề xuất thay thế cho PVE
trong điều trị bổ trợ trước khi cắt gan. Ngoài ra, vi cầu Ytrium-90 còn là lựa chọn phù
hợp cho bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch do tăng sinh. Thời gian 6-12 tuần là cần thiết
để đạt được hiệu quả phá hủy thùy gan của bức xạ .
Vi cầu Ytrium-90 điều trị HCC giai đoạn tiến triển
Sorafenib đại diện cho các lựa chọn điều trị ở những bệnh nhân HCC giai đoạn
tiến triển (BCLC-C), và có tỷ lệ sống khoảng 11 tháng [22]. Tỷ lệ sống nói chung khi
điều trị với vi cầu Ytrium-90 trong các trường hợp này là khoảng 6-10 tháng [22]; Tuy
nhiên nhờ tính an toàn cao hơn, vi cầu Ytrium-90 có thể là một thay thế cho sorafenib
ở bệnh nhân được lựa chọn nhưng không đáp ứng hoặc không dung nạp điều trị này.
Theo một kết quả sơ bộ của thử nghiệm ngẫu nhiên SORAMIC, trong đó so sánh vi
cầu Ytrium-90 kết hợp sorafenib và chỉ điều trị sorafenib đơn thuần trên bệnh nhân

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status