BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT BA KÍCH TÍM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN THỊ HƯƠNG
PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT BA KÍCH TÍM TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
của các thầy, cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn trường Đại học Nông
nghiệp Hà Nội. Đặc biệt là sự quan tâm giúp đỡ tận tình chỉ dẫn của GS.TS
Nguyễn Văn Song là người hướng dẫn chính trong suốt quá trình thực hiện luận
văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Ba Chẽ, Phòng Nông nghiệp &,
Phòng Tài nguyên và Môi trường. Lãnh đạo các xã và các hộ gia đình trồng ba
kích tím của 3 xã Đồn Đạc, Thanh Lâm, Thanh Sơn, các đại lý thu mua ba kích
tím tại huyện Ba Chẽ, những người đã cung cấp số liệu, tạo mọi điều kiện thuận
lợi giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ, động viên của tất cả bạn bè, đồng nghiệp, gia
đình và những người thân trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Hương
iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
iii
Mục lục
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
3
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
3
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
20
2.3 Bài học và kinh nghiệm rút ra từ tổng quan cơ sở lý luận và thực tiễn cho quá
trình nghiên cứu đề tài và địa phương
29
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
31
3.1. Điều kiện tự nhiên
4.3. Tình hình tiêu thụ ba kích tím của huyện Ba Chẽ qua 3 năm
79
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển sản xuất Ba kích tím
81
iv
4.5 Đánh giá tình hình phát triển sản xuất Ba kích tím của hộ nông dân
89
4.6 Giải pháp phát triển sản xuất Ba kích tím trên địa bàn
93
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
103
5.1. Kết luận
103
5.2. Đề xuất, kiến nghị
LSNG
MP
NN
NLN
PTNT
PTSX
PTBV
SL
SX-KD
T
TC
TM-DV
TNTT
TS
TSCĐ
Tr.đồng
VA
UBND
UICN
WB
Nghĩa đầy đủ
:Chí phí khấu hao
:Sản phẩm bình quân
:Bình quân
:Công nghiệp- Xây dựng
:Diện tích
:Đơn vị tính
:Tổ chức Lương nông thế giới
:Giá trị sản xuất ba kích tím
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
3.1. Hiện trạng sử dụng đất huyện Ba Chẽ
35
3.2. Các nguồn tài nguyên đất đai huyện Ba Chẽ
38
3.3. Phân hạng mức độ thích nghi đất nông nghiệp
40
3.4. Danh mục loài cây thuốc hiện có tại huyện Ba Chẽ
45
3.5. Số lượng, thông tin của các đối tượng tiến hành phỏng vấn
54
4.1. Số lượng hộ trồng Ba kích tím tại các xã của huyện qua 3 năm
4.9. Đầu tư chi phí vật chất bình quân 1 hộ trồng ba kích tím của các hộ điều tra
huyện Ba Chẽ
73
4.10. Tình hình tiêu thụ Ba kích tím của hộ nông dân
74
4.11. Một số chỉ tiêu kết quả và hiệu quả trong sản xuất ba kích tím của hộ dân
huyện Ba Chẽ
76
4.12. So sánh diện tích và số hộ trồng ba kích tím của 3 huyện trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh
78
vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Số Biểu đồ
Tên biểu đồ
Trang
2.1. Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới
2.4. Quả của cây Ba kích
12
3.1. Bản đồ vị trí địa lý huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh
31
4.1. Mô hình trồng giống ba kích tím của HTX Toàn Dân xã Thanh Lâm, huyện
Ba Chẽ
60
4.2. Hộ dân trồng ba kích leo lên dàn
60
4.3. Cây ba kích tím đã trồng được 4 năm
65
viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số đồ thị
Tên đồ thị
Trang
bệnh như bổ thần kinh, trí não, làm mạnh gân cốt, tăng lực, chữa chứng xơ cứng
động mạch, thấp khớp...Nhu cầu về củ ba kích ở thị trường trong nước rất lớn. Củ
nguyên liệu và các sản phẩm chế biến từ củ ba kích là mặt hàng có giá trị kinh tế
cao. Hiện nay, ba kích là một trong những loại cây dược liệu được chú ý đặc biệt để
trồng nhân tạo trong các vườn nhà, vườn rừng và trong rừng nghèo.
Ba Chẽ là một huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Quảng
Ninh, có diện tích tự nhiên là 60.855,56 ha (trong đó đất sản xuất nông nghiệp là
1.346,98 ha chiếm 2,2%; đất lâm nghiệp là 55.273,48 ha, chiếm 90,8% diện tích
tự nhiên) được chia thành 8 đơn vị hành chính gồm 7 xã và 1 thị trấn, dân số
20.906 người (năm 2014), sống rải rác ở 75 thôn, khu. Toàn huyện có 9 dân tộc,
trong đó có 8 dân tộc thiểu số (chiếm 80,2% dân số toàn huyện) (Phòng Nông
nghiệp huyện Ba Chẽ, 2015).
Tuy ba kích mọc tự nhiên trên vùng rừng núi Đông Bắc nhưng củ và rượu
ba kích vẫn được coi là đặc sản huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, giá 1 kg củ ba
kích tươi từ 120.000-150.000 đồng (Nguyễn Viết Đoàn, 2005). Do nhu cầu sử
dụng lớn nên ba kích bị khai thác lạm dụng tùy tiện, đào bới gốc lấy củ mà không
chú ý đến duy trì, nuôi dưỡng tái sinh nên trong tự nhiên số lượng cây còn sót lại
rất ít, thưa thớt, thậm chí có vùng hầu như không còn ba kích.
Chủ động trồng và phát triển sản xuất ba kích, ngoài giá trị bảo tồn còn
mang lại lợi ích kinh tế thiết thực bởi đây là loại cây tốn ít đất, có khả năng sống
chịu bóng, sản phẩm có giá trị, thị trường tiêu thụ rộng. Phát triển sản xuất ba
kích là biện pháp hữu hiệu tạo thêm việc làm tại chỗ, tăng năng suất sinh học trên
một đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người dân miền núi. Để góp phần phát
triển sản xuất và định hướng thị trường tiêu thụ sản phẩm ba kích tím trong thời
gian tới nhằm tăng thu nhập cho hộ nông dân tôi đi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Phát triển sản xuất Ba kích tím trên địa bàn huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng
Ninh”.
1
2
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về phát triển
Có nhiều định nghĩa khác nhau về phát triển, mỗi định nghĩa phản ánh một
cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Theo Ngân hàng thế giới (WB): phát triển trước hết là sự tăng trưởng về
kinh tế, nó còn bao gồm cả những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc
biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do của con
người (World Bank, 1992).
Theo tác giả Raaman Weitz: “Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục
làm tăng trưởng mức sống của con người và phân phối công bằng những thành
quả tăng trưởng trong xã hội” (Raanan Weitz, 1995).
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển, nhưng nhìn chung các
ý kiến cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh
thần, phạm trù về hệ thống giá trị của con người. Mục tiêu chung của phát triển là
nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội và quyền tự do công
dân của mọi người dân.
Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh
tế. Phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất,
nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề kinh tế và
xã hội ở mỗi quốc gia.
Tóm lại, phát triển kinh tế là sự phát triển trong đó bao gồm cả sự tăng
thêm về quy mô số lượng cũng như sự thay đổi cấu trúc theo chiều hướng tiến bộ
của nền kinh tế và việc nâng cao chất lượng của sản phẩm để đạt đến đích cuối
không có sản phẩm dư thừa cung cấp cho thị trường (Ngô Đình Giao, 1995).
Sản xuất cho thị trường tức là phát triển theo kiểu sản xuất hàng hóa, sản
phẩm sản xuất ra chủ yếu trao đổi trên thị trường, thường được sản xuất trên quy
mô lớn, khối lượng sản phẩm nhiều. Hình thức này mang tính tập trung chuyên
canh cao, tỷ lệ sản phẩm hàng hóa cao (Phan Công Nghiệp, 2002).
Tóm lại, sản xuất là quá trình phối hợp và điều hoà các yếu tố đầu vào (tài
nguyên hoặc các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu
4
ra) (Lã Đình Mới, 2001). Nếu giả thiết sản xuất sẽ diễn biến một cách có hệ
thống với trình độ sử dụng đầu vào hợp lý, người ta mô tả mối quan hệ giữa đầu
vào và đầu ra bằng một hàm sản xuất:
Q= f(X1, X2,...Xn)
Trong đó:
Q: là biểu thị số lượng một loại sản phẩm nhất định.
X1, X2, ...Xn : là lượng của một yếu tố đầu vào nào đó được sử dụng trong
quá trình sản xuất.
Ta cần chú ý mối quan hệ giữa yếu tố và sản phẩm
+ Sản phẩm cận biên (MP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đây là sự biến đổi
lượng đầu ra do tăng thêm chút ít yếu tố đầu vào thay đổi được biểu thị bằng đơn vị
riêng của nó. Khi sản phẩm cận biên bằng 0 thì tổng sản phẩm là lớn nhất.
+ Sản phẩm bình quân (AP) của yếu tố đầu vào thay đổi. Đem chia tổng
sản phẩm có số lượng yếu tố đầu vào thay đổi ta sẽ có AP. Khi một yếu tố đầu
vào được sử dụng ngày một nhiều hơn, mà các yếu tố đầu vào khác không thay
đổi thị mức tăng tổng sản phẩm ngày càng nhỏ đi.
Tóm lại: Sản xuất là hoạt động có mục đích của con người nhằm phối hợp
tối ưu các yếu tố tham gia sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm hữu ích phục vụ cho
nhu cầu con người và xã hội
và tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng, góp phần vào sự phát triển kinh tế của
xã hội.
+ Ngoài ra cũng có một số yếu tố khác: Quy mô sản xuất, các hình thức tổ
chức sản xuất, mối quan hệ cân đối tác động qua lại lẫn nhau giữa các ngành,
giữa các thành phần kinh tế, các yếu tố về thị trường nguyên liệu, thị trường tiêu
thụ sản phẩm,v.v...cũng có tác động tới quá trình sản xuất (Lã Đình Mới, 2001).
2.1.1.4 Khái niệm về phát triển sản xuất
Sản xuất là quá trình kết hợp tư liệu sản xuất với sức lao động để tạo ra
sản phẩm. Phát triển sản xuất được coi là một quá trình tăng tiến về qui mô (sản
lượng) và hoàn thiện về cơ cấu (Ngô Đình Giao, 1995).
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp cũng như các tổ chức
kinh tế khi tiến hành phát triển sản xuất phải lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản
đó là: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Những vấn đề này
liên quan đến việc xác định thị trường và phân phối sản phẩm đúng đắn để kích
thích sản xuất phát triển.
6
Phát triển sản xuất (PTSX) có thể diễn ra theo hai xu hướng là phát triển
theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
PTSX theo chiều rộng là nhằm tăng sản lượng bằng cách mở rộng diện
tích đất trồng, với cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ PTSX không đổi, sử dụng kỹ
thuật giản đơn. Kết quả PTSX đạt được theo chiều rộng chủ yếu nhờ tăng diện
tích và độ phì nhiêu của đất đai và sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên.
PTSX theo chiều rộng bao gồm mở rộng diện tích trong cả vùng, có thể
bao gồm việc tăng số hộ dân hoặc tăng quy mô diện tích của mỗi hộ nông dân,
hoặc cả hai.
PTSX theo chiều sâu là giá trị, vốn đầu vào không đổi, áp dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp với điều kiện
con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động nhằm tăng quy
mô về số lượng, đảm bảo hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục
vụ đời sống ngày càng cao của con người (Ngô Đình Giao, 1995).
2.1.2 Khái niệm Lâm sản ngoài gỗ và ba kích tím
2.1.2.1 Khái niệm lâm sản ngoài gỗ
Ba kích tím không phải cây nông nghiệp hay lâm nghiệp mà thuộc giống
lâm sản ngoài gỗ. Để hiểu rõ hơn về ba kích tím nói riêng và lâm sản ngoài gỗ
nói chung đề tài tìm hiểu thêm về khái niệm và phân loại lâm sản ngoài gỗ.
Hiện nay có nhiều định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ đôi khi còn gọi là
(NWFP). Định nghĩa lâm sản ngoài gỗ là các sản phẩm được thu hoạch từ rừng.
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm cả củi, gỗ đồ mộc, bột sợi và gỗ nhỏ để cho kiến trúc
nhẹ. Có lẽ đây là định nghĩa đơn giản nhất và phù hợp với các đối tượng (Vũ Văn
Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002).
J.H.De Beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài gỗ, trong đó
có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam”, tháng 7/2000 là một ấn
phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ đã đưa ra định nghĩa về
lâm sản ngoài gỗ như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-timber forest products) bao
gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ
rừng để phục vụ con người. Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu,
nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật
sống hay các sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, mây
song, gỗ nhỏ và sợi” (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương,
2002).
8
Định nghĩa của J.H.De Beer là đơn giản, dễ sử dụng, nhưng khác với hầu
hết các định nghĩa trước đây là ông ta đã đưa ra củi, gỗ nhỏ vào nhóm lâm sản
ngoài gỗ.
- Nhóm 2. Sản phẩm làm thực phẩm. Các sản phẩm nguồn gốc thực vật:
thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và nấm; Các sản phẩm
nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được,
trứng và côn trùng.
Nhóm 3. Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật.
Nhóm 4. Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa, nhựa dầu, nhựa mủ, ta nanh
và thuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu.
Nhóm 5. Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ,
động vật sống, chim, côn trùng; lông mao, long vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựa
cánh kiến đỏ.
Nhóm 6. Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở
Ấn Độ) (Vũ Văn Dũng, Jenne De Beer và Phạm Xuân Phương, 2002).
2.1.2.2 Đặc điểm cây Ba kích tím
* Tên khoa học: Morinda officinalis How
Họ: Cà phê – Rubiaceae (Lecomte H, 1905-1952). Theo hệ thống phân
loại thực vật APG II họ Cà phê có khoảng 611 chi và hơn 13.000 loài. Sự đa
dạng về số lượng các loài đã đưa họ cà phê đứng vị trí thứ tư về số lượng các loài
thực vật có hoa và đứng thứ năm về số lượng chi. Trong đó có chi Nhàu
(Morinda) có khoảng 80 loài, hầu hết các loài trong chi Nhàu được phân bố ở các
vùng nhiệt đới trên thế giới. Các loài trong chi này bao gồm cả cây thân gỗ, cây
bụi và cây dây leo; hầu hết quả của các loài trong chi này là quả thịt, trong đó có
loài Ba kích. Ở Ấn Độ Ba kích được gọi là “Nhàu Ấn Độ” (Phòng Nông nghiệp
huyện Ba Chẽ, 2015).
Tên khác: Ba kích thiên, dây ruột gà; chẩu phóng xì, thau tày cáy (Tày);
chồi hoàng kim, sáy cáy (Thái); chày kvằng dòi (Dao); Medicinal indian
mulberry (Anh) (Phòng Nông nghiệp huyện Ba Chẽ, 2015).
* Hình thái
Ba kích là cây lâm sản ngoài gỗ, sống lâu năm, dạng dây leo cuốn vào giá
thể. Rễ có thịt dầy, hình trụ tròn, cong queo, thắt thành từng đoạn như ruột gà,
được chế biến sử dụng làm thuốc. Thân hình trụ tròn, phân nhánh nhiều. Cành
nông. Hoa và quả tập trung ở đầu đoạn dây cành thứ cấp. Khi hình thành quả, vỏ
bao hạt dính liền nhau, tạo thành 2-3 quả giả có vách ngăn hạt bên trong. Mỗi
quả có từ 1-2 hạt.
Quả của cây Ba kích hình cầu, màu xanh thẫm. Quả chín vào tháng 12,
màu quả chuyển từ xanh sang hồng, rồi sang màu đỏ (Ban Quản lý dự án phòng
thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt
Nam, 2014).
Hình 2.4. Quả của cây Ba kích
(Nguồn: Thu thập trong quá trình điều tra)
12
* Đặc điểm phân bố
Cây Ba kích mọc hoang ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
như: Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên,
Bắc Cạn, Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình,
Thanh Hóa và Nghệ An. Ở tỉnh Quảng Ninh, ba kích mọc nhiều ở Hoành Bồ, Ba
Chẽ, Vân Đồn. Ngoài ra còn có ở Trung Quốc, Ấn Độ, Lào và Triều Tiên. (Ban
Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa
học và công nghệ Việt Nam, 2014)
* Điều kiện gây trồng
Cây thích ứng rộng với điều kiện sinh thái. Cây ưa sáng ở giai đoạn
trưởng thành, chịu bóng nhất là cây dưới 2 năm tuổi (khi cây non là cây ưa bóng,
khi trưởng thành là cây ưa sáng). Cây tồn tại và phát triển tốt ở điều kiện nhiệt độ
từ 22,5oC – 23,1oC, chịu được nhiệt độ tối thấp tuyệt đối -2,8oC và tối cao tuyệt
đối 41,4oC. Độ ẩm không khí trung bình từ 82-89%. Lượng mưa bình quân năm
từ 1420,7 – 2574,5mm. Ba kích ưa đất feralit đỏ vàng và đất feralit giàu mùn trên
núi, đất thịt ẩm mát. Cây sinh trưởng sau 3 đến 5 năm mới thu dược liệu, năng
áp. Củ Ba kích chiết xuất bằng rượu có tác dụng giảm áp huyết; có tác dụng
nhanh đối với các tuyến cơ năng, tăng cường não, giúp ngủ ngon (Ban Quản lý
dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và
công nghệ Việt Nam, 2014).
Đối với những bệnh nhân nam có hoạt động sinh dục không bình thường,
Ba Kích có tác dụng làm tăng khả năng giao hợp, đặc biệt đối với những trường
hợp giao hợp yếu và thưa. Ba Kích có tác dụng tăng cường sức dẻo dai, mặc dầu
nó không làm tăng đòi hỏi tình dục, không thấy có tác dụng kiểu Androgen. Tuy
không làm thay đổi tinh dịch đồ nhưng trên thực tế có tác dụng hỗ trợ và cải
thiện hoạt động sinh dục cũng như điều trị vô sinh cho những nam giới có trạng
thái vô sinh tương đối và suy nhược thể lực. Còn các trường hợp tinh dịch ít, tinh
trùng chết nhiều, không có tinh trùng, không xuất tinh khi giao hợp thì sử dụng
Ba Kích chưa thấy kết quả. Đối với cơ thể những người tuổi già, những bệnh
nhân có biểu hiện mệt mỏi, ăn kém, ngủ ít, gầy yếu mà không thấy có những yếu
tố bệnh lý gây nên và 1 số trường hợp có đau mỏi các khớp, Ba Kích có tác dụng
tăng lực rõ rệt, thể hiện qua những cảm giác chủ quan như đỡ mệt mỏi, ăn ngon,
ngủ ngon và những dấu hiệu khách quan như tăng cân nặng, tăng cơ lực. Còn đối
với bệnh nhân đau mỏi các khớp thì sau khi dùng Ba Kích dài ngày, các triệu
14
chứng đau mỏi giảm rõ rệt (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành
hóa dược – Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, 2014).
- Giá trị kinh tế
Giá trị kinh tế hiện nay của củ Ba kích khô đã qua sơ chế biến động từ
300-350 nghìn đồng/kg. Củ tươi có giá từ 120-150 nghìn đồng/kg tùy theo chất
lượng củ. Nếu trồng với mật độ 5.000 cây/ha, sau 5 năm thu hoạch, mỗi gốc cây
thu 2-3 kg củ thì tương ứng là 10-15 tấn củ tươi/ha, giá trị tương đương là hàng
trăm triệu đồng/ha. (Ban Quản lý dự án phòng thí nghiệm chuyên ngành hóa