MỤC LỤC
Lời cam đoan
ii
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng
iii
iv
vi
vii
Danh mục sơ đồ
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
ix
1
1
1.2
1.2.1
1.2.2
1.3
2
2
2
13
14
15
15
17
2.1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của công đồng trong quản lý rừng 21
2.2 Cơ sở thực tiễn
23
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về cộng đồng tham gia quản lý rừng 23
2.2.2 Thực tiễn quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
27
41
41
41
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
42
50
50
iv
76
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cộng đồng tham gia quản lý rừng trên địa bàn
huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
82
4.2.1 Các yếu tố bên ngoài tác động sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc
82
4.2.2 Các yếu tố bên trong tác động đến sự tham gia của cộng đồng trong quản
4.3
83
lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc
Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên
địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
86
4.3.1
4.3.2
4.3.3
4.3.4
Quan điểm
Định hướng
Mục tiêu
Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
86
87
87
trên
Đơn vị tính
GĐGR
Giao đất giao rừng
LNCĐ
Lâm nghiệp cộng đồng
LNXH
Lâm nghiệp xã hội
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SL
Sản lượng
TTCN
Tiểu thủ công nghiệp
2.4
9
12
Rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp do cộng đồng
nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các
tổ chức nhà nước
13
3.1
Tình hình sử dụng đất đai của huyện Ngọc Lặc qua 3 năm (2011 - 2013)
43
3.2
Tình hình dân số, lao động trên địa bàn huyện Ngọc Lặc (2011 – 2013)
45
3.3
Tình hình phát triển kinh tế của huyện Ngọc Lặc trong 3 năm (2011 - 2013)
47
4.6
Mô hình cộng đồng tham gia quản lý rừng ở xã Phùng Giáo
62
4.7
Sự tham gia của cộng đồng trong xây dựng quy hoạch, kế hoạch bảo
vệ và phát triển rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
63
4.8
Cộng đồng tham gia họp thôn lần thứ nhất
66
4.9
Cộng đồng tham gia họp thôn lần 2
67
4.10
Diện tích rừng cộng đồng tham gia quản lý trên địa bàn huyện Ngọc
Lặc, tỉnh Thanh Hóa
Tình hình tập huấn phòng chống cháy rừng cho cộng đồng trên địa
bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
4.15
73
Kết quả khai thác gỗ thương mại trong ba năm (2011-2013 ) của
cộng đồng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
4.17
72
Cộng đồng tham gia khai thác gỗ phục vụ nhu cầu gia dụng của các
hộ trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa
4.16
71
74
Cộng đồng thôn tham gia hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá
việc thực hiện bảo vệ và phát triển rừng
75
Tình hình mua sắm tài sản của hộ gia đình ở 3 xã điều tra
Số sơ đồ
4.1
Tên sơ đồ
Trang
Cây vấn đề về nguyên nhân cộng đồng không tham gia quy hoạch
bảo vệ và phát triển rừng
64
ix
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Rừng vừa
là nguồn tài nguyên quý giá cung cấp nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất
của con người, rừng lại giữ vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu, chống xói
mòn, cung cấp oxy đảm bảo cho sự sống. Thế nhưng hiện nay hiện tượng suy
thoái rừng lại đang diễn ra mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng. Diện tích suy
giảm từ 43% xuống còn 28,2% ở năm 1943 - 1995. (Nguyễn Bá Ngãi, 2009).
Mặc dù gần đây Việt Nam đã có các chương trình, dự án nhằm phủ xanh đồi trọc,
trồng rừng thì diện tích rừng có tăng lên nhưng diện tích rừng nguyên sinh không
còn nhiều. Nhận thấy rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của rừng như vậy nhà
nước ta luôn coi trọng công tác trồng rừng và bảo vệ rừng, và đưa rừng trở thành
một trong những yếu tố phát triển kinh tế.
Có rất nhiều tổ chức cũng như đơn vị sự nghiệp của nhà nước tham gia
Thanh Hóa.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia của cộng đồng
trong quản lý rừng.
- Đánh giá thực trạng sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên
địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong
quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường sự tham gia của
cộng đồng trong quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Cộng đồng tham gia quản lý rừng như thế nào?
- Sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng trên thế giới và Việt Nam
như thế nào?
- Trên địa bàn các chủ trương, chính sách và hoạt động trồng rừng và bảo
vệ rừng cũng như công tác kiểm tra giám sát của cộng đồng trong những năm
qua như thế nào?
- Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
như thế nào?
2
- Những giải pháp nào nhằm tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong
quản lý rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rừng,
chủ thể mà đề tài tập trung hướng tới là sự tham gia của cộng đồng trong quản lý
rừng trên địa bàn huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
nhau thành một xã hội nhỏ có những tương đồng với nhau về các mặt như: văn
hóa, kinh tế, xã hội, phong tuc tập quán, truyền thống, có các quan hệ trong sản
xuất và đời sống và thường có ranh giới không gian trong một nhóm thôn bản.
Hay nói cách khác cộng đồng chính là “ cộng đồng dân cư thôn bản”.
Thứ hai: Trong quản lý tài nguyên rừng khi nói đến cộng đồng chính là
nói đến nhóm người có các mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau.
Như vậy cộng đồng có thể là cộng đồng toàn làng bản, cộng đồng sắc tộc trong
thôn, cộng đồng dòng họ, cộng đồng các nhóm hộ. Còn có ý kiến cho rằng cộng
đồng có thể là hợp tác xã, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội - nghề
nghiệp ở cấp làng bản (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012).
Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng
một thôn bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Quốc hội, 2004).
4
Như vậy: Cộng đồng theo thực thể xã hội nước ta có thể hiểu một cách
tổng quát nhất là bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có những
điểm giống nhau và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Tuy tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau về cộng đồng nhưng phần lớn các ý kiến đều cho rằng thuật ngữ
được dùng trong quản lý tài nguyên rừng chính là nói đến cộng đồng dân cư làng
bản. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài thì cộng đồng được hiểu theo quan
điểm thứ hai.
2.1.1.2 Lý luận về quản lý và cộng đồng tham gia quản lý rừng
a, Lý luận về quản lý
Quản lý được xem là quá trình “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo
những yêu cầu nhất định”, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương
diện điều hành. Dưới góc độ chính trị: Quản lý được hiểu là hàng chính, là cai trị;
nhưng dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Dù dưới góc
độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định
* Các cấp độ tham gia của cộng đồng:
Tham gia thụ động: Người trong cộng đồng sẽ được người ngoài cộng
đồng cho biết những cái gì sẽ, đang và sẽ xảy ra. Cho nên đây chỉ là những thông
báo đơn phương từ các cơ quan hành chính nhà nước và các phản hội của cộng
đồng sẽ không được ghi nhận.
Tham gia bằng cách cung cấp thông tin: Người dân tham gia trả lời các
câu hỏi của các nghiên cứu viên hoặc người của dự án. Vậy nên người dân sẽ
không có cơ hội ảnh hưởng đến quá trình thực hiện vì họ không được tham gia
hoạt động cũng như giám sát các hoạt động.
Tham gia bằng cách được tham vấn: Người dân sẽ được chia sẽ những
khó khăn cũng như mong muốn của họ. Tuy nhiên các ý kiến này chỉ mang tính
chất tham khảo, các quyết định, phương án hành động, giải pháp vẫn do người
của dự án, nghiên cứu viên quyết định.
Tham gia bằng động cơ (Thúc đẩy) vật chất hay theo hợp đồng: người dân
tham gia bằng cách đổi các tài nguyên sẵn có để lấy lương thực hoặc các vật chất
khác. Tuy nhiên người ngoài vẫn là người quyết định toàn bộ các vấn đề, cộng
đồng chỉ tham gia như những nhà cung cấp nguyên liệu và lao động.
6
Tham gia theo chức năng:
Tham gia theo kiểu tương tác: có nghĩa là cùng phân tích kết quả và cùng
tham gia các hành động.
Tự huy động: Có nghĩa là người dân tự tìm tòi xác định vấn đề, suy nghĩ,
sáng tạo tìm các biện pháp giải quyết và người ngoài chỉ đóng vai trò hỗ trợ giúp
đỡ, xúc tác cho các hoạt động của cộng đồng.
* Cộng đồng tham gia quản lý rừng.
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể được hiểu như lâm nghiệp
cộng đồng.
Tuy nhiên theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 có quy định nếu
được giao rừng tự nhiên thì cộng đồng chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền
sở hữu. Nếu cộng đồng được quản lý rừng trồng được hình thành bằng nguồn
vốn tự có thì cộng đồng có quyền sở hữu (Bộ NN&PTNT, 2006).
Thứ hai: Quản lý rừng dựa vào cộng đồng
Là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng không thuộc quyền
quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sử dụng của các
thành phần kinh tế khác, nhưng các khu rừng này lại có mối quan hệ trực tiếp đến
cuộc sống của cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006).
Hình thức này có thể chia làm hai đối tượng:
- Rừng của hộ gia đình, nhưng cá nhân người trong gia đình lại thuộc cộng
đồng. Và cộng đồng tham gia quản lý với tính chất hợp tác, hỗ trợ nhau, chia sẽ
lợi ích cho nhau. Điều này có thể tăng thêm sức mạnh để bảo vệ rừng, hỗ trợ, đổi
công trong các hoạt động lâm nghiệp.
- Rừng thuộc quyền quản lý của các nhà nước và tổ chức tư nhân khác.
Cộng đồng tham gia các hoạt động lâm nghiệp như bảo vệ rừng, trồng rừng, khai
thác rừng với tư cách là làm thuê thông qua các hợp đồng khoán và hưởng lợi
theo các điều khoản trong hợp đồng.
Như vậy, cộng đồng tham gia quản lý rừng là nói đến các hoạt động gắn
kết người dân trong cộng đồng vào quản lý, sử dụng rừng và đất lâm nghiệp. Hay
nói cách khác đây chính là một hình thức tiếp cận để đạt được mục tiêu bảo vệ
nguồn tài nguyên rừng hiện có và cho phép người dân địa phương có quyền quản
lý, sử dụng lâu dài các nguồn tài nguyên rừng, lợi ích thu được thuộc về người
dân và sử dụng cho sự phát triển cộng đồng (Bộ NN&PTNT, 2006).
8
2.1.1.3 Nguồn gốc cộng đồng tham gia quản lý rừng
Rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, nó gắn với lợi ích cuộc sống của
2.792.946,3
1.916.169,2
100,00
68,61
- Đất trống đồi trọc
Loại rừng theo nguồn gốc:
-Rừng tự nhiên
- Rừng trồng
876.777,1
2.792.946,3
2.681.228,4
111.717,9
31,39
100,00
96,00
4,00
Loại rừng theo chủng loại:
- Rừng phòng hộ, đặc dụng
- Rừng sản xuất
2.792.946,3
1.982.991,9
809.954,4
100,00
* Rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý theo truyền
thống từ nhiều đời đến nay.
Những khu rừng được quản lý như thế này chủ yếu bởi cộng đồng các dân
tộc thiểu số. Mặc dù những khu rừng này xét về mặt pháp lý thì các quyền sở
hữu, sử dụng chưa được sử dụng, nhưng nó lại được quản lý, duy trì bởi các luật
tục, phong tục truyền thống của chính cộng đồng có từ xa xưa. Bởi một lẽ theo
phong tục của những vùng miền, dân tộc thiểu số thì thôn, bản đã trở thành đơn
vị độc lập cao nhất. Ở mỗi thôn đều có ranh giới lãnh địa nhất định bao gồm cả
đất, rừng, nguồn nước suối…Và đều được phân biệt ranh giới với các cộng đồng
thôn bên cạnh. Trong phạm vi thì lạnh địa của mình thì tất cả những gì thuộc vào
lãnh địa thì đều thuộc quyền sử dụng của cộng đồng thôn. Trong thôn, bản thì vai
trò của ngừơi già làng, già bản hay trưởng thôn rất quan trọng. Họ là những
10
người có tiếng nói nhất. Và cũng chính họ cũng chính là người đứng đầu trong
việc điều hành bộ máy tự quản của cộng đồng. Thông qua các quy ước, hương ước,
hay luật tục để duy trì quản lý tất cả các hoạt động của thôn. Việc quản lý rừng cũng
được tuân thủ theo những quy ước này. Một điều quan trọng là rừng ở đây là một
phần không thể thiếu đối với các cộng động thôn bản. Bởi vì rừng không chỉ là tài
sản, mang lại lợi ích kinh tế mà rừng ở đây còn là tín ngưỡng là tâm linh đối với họ.
Vậy nên phần lớn họ tham gia quản lý rừng không vì mục đích kinh tế mà vì tâm
linh, tín ngưỡng và vì sự sinh tồn của họ (Phạm Trương Hương Giang, 2009).
Bảng 2.2 Rừng và đất rừng do cộng đồng quản lý theo truyền thống
từ nhiều đời nay
STT
Chỉ tiêu
* Rừng và đất sử dụng vào mục đích lâm nghiêp được chính quyền địa
phương giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng lâu dài.
Việc này đã được thể hiện trong Nghị định số 02/ND - CP và được thay
thế bằng nghị định 163/1999/NĐ-CP đã quy định về việc giao đất lâm nghiệp
cho các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích
lâm nghiệp.
11
Đối với phần diện tích đất và rừng mà cộng đồng được giao thì họ sẽ cùng nhau
đầu tư, quản lý và hưởng lợi trên tinh thần tự nguyện và cùng hưởng lợi giữa các thành
viên trong cộng đồng. Cộng đồng sẽ thành lập tổ, nhóm tham gia các hoạt động quản lý
rừng từ khâu bảo vệ, cung cấp đầu vào, tổ chức sản xuất, tìm thị trường tiêu thụ sản
phẩm đầu ra và phân phối lợi ích cho các thành viên trong cộng đồng.
Với mô hình này đang ngày càng chứng minh tính ưu việt của mình trong
việc quản lý rừng. Ở nhiều địa phương mô hình nay đang được quan tâm và nhân
rộng. Nhiều tổ chức, dự án đã hỗ trợ người dân về vốn, kỹ thuật trong việc tham
gia quản lý rừng.
Không những được cộng đồng, các tổ chức ủng hộ tin tưởng vào mô hình
này. Mà về mặt pháp lý tại điều 30 của luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2014
đã quy định cộng đồng được giao rừng, được hướng dẫn về kỹ thuật, hỗ trợ về
vốn theo chính sách của nhà nước, được hưởng lợi do các công trình bảo vệ, cải
tạo rừng mang lại. Chính điều này đã từng bước tạo khuôn khổ pháp lý bảo đảm
các quyền cho cộng đồng khi tham gia vào hoạt động quản lý rừng.
Bảng 2.3 Rừng và đất lâm nghiệp, được chính quyền địa phương giao cho
cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định lâu dài
STT
1
2
cộng đồng nhận khoán đang có nguy cơ bị tàn phá vẫn có thể xảy ra.
Bảng 2.4 Rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp do cộng đồng
nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức
nhà nước
STT
1
Chỉ tiêu
Tổng diện tích rừng và đất
Nội dung
902.662,7 ha
lâm nghiệp
2
Hình thức quản lý
-Ký hợp đồng khoán;
- Tổ chức lực lượng thực hiện các công
việc đã ký trong hợp đồng.
Nguồn: Cục Lâm nghiệp, 2008
2.1.2 Sự cần thiết sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
Cộng đồng cùng tham gia quản lý rừng là một thực tiễn không thể phủ
định, dù được thể chế hóa hoặc không thừa nhận thì nó vẫn tồn tại bởi đây là đặc
trưng cơ bản của văn hoá và quan hệ cộng đồng vùng cao đã có từ lâu đời. Do
đó, việc thừa nhận cộng đồng là một chủ thể có pháp nhân luôn có lợi cho công
tác quản lý rừng. Vấn đề này cần được nghiên cứu và bổ sung vào các bộ luật để
từng bước khẳng định cộng đồng dân cư thôn có đủ pháp nhân trong quản lý, bảo
- Quản lý rừng có hiệu quả, ít tốn kém thông qua trách nhiệm và sự cam
kết tự nguyện của người dân trước cộng đồng.
- Bảo đảm nhu cầu tối thiểu về lâm sản của người dân mà nhà nước không
phải đầu tư quản lý, bảo vệ.
- Bảo đảm tính công bằng trong chia sẻ lợi ích, từ đó bảo đảm sự đoàn kết
trong cộng đồng và giữa các cộng đồng, góp phần ổn định xã hội (Dương Viết
Tình và Trần Hữu Nghị, 2012).
14
2.1.4 Vai trò sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng
Rừng là một tài nguyên quan trọng, quản lý rừng là một vấn đề cấp bách
trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước. Với từng thời kỳ phát triển thì
phương pháp hay cách thức quản lý rừng lại thay đổi khác nhau để phù hợp. Có
thể nói sự tham gia của cộng động trong quản lý rừng đang ngày càng chứng tỏ
hiệu quả cũng như tính ưu việt của nó. Vai trò của cộng đồng trong quản lý rừng
đang có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng rừng được cải thiện trong những năm
gần đây.
Thứ nhất, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng giúp phát huy
được nội lực cộng đồng trong việc huy động nguồn lực: nhân lực, trí lực, vật lực
tham gia trong quản lý rừng. Cộng đồng là đối tượng tham gia trực tiếp quản lý
tài nguyên rừng mà quá trình phát triển phải dựa vào đó. Ngoài ra, kỹ năng, yếu
tố truyền thống, kiến thức và năng lực của họ chính là tiềm năng chính để phát
triển. Trong điều kiện nguồn lực hỗ trợ của Nhà nước cho phát triển khu vực
nông thôn còn hạn chế, thì sự đóng góp của các nhóm cộng đồng là vô cùng cần
thiết, giảm bớt gánh nặng nguồn nhân lực nhà nước. (Phan Thanh Xuân, 1998).
Thứ hai, do được tham gia vào các hoạt động trong quản lý rừng nên sẽ
khơi dậy tiềm thức tư duy tư duy và nâng cao năng lực của người dân và các
cộng đồng địa phương, từ đó tạo ra động lực để họ có thể đứng ra làm chủ việc
đồng lưu giữ những bản sắc, phong tục, tập quán của dân tộc.
Thứ ba: Đặc điểm về sử dụng lao động và nguồn lực để quản lý rừng: Sử
dụng nguồn vốn và lao động hiện có của cộng đồng là chủ yếu kết hợp với sự giúp
đỡ tài chính của Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ trong nước và ngoài nước.
Thứ tư: Cách thức quản lý rừng: Ngoài những quy định chung của pháp
luật khi cộng đồng tham gia quản lý rừng còn có các quy ước, hương ước được
xây dựng với sự tham gia của toàn thể cộng đồng và được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chấp nhận. Thông thường nội dung trong bản quy ước, hương ước
quy định quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thành viên trong cộng đồng trong việc
bảo vệ và phát triển rừng, kể cả khai thác, mua bán, vận chuyển gỗ và các sản
phẩm lâm nghiệp khác.
Thứ năm: Về hình thức tổ chức nhìn chung tương đối linh hoạt, mềm
mỏng nhằm thu hút sự tham gia của cả cộng động. Thông thường là thành lập tổ
chuyên trách bảo vệ rừng, các hộ trong cộng đồng luân phiên tuần tra rừng, huy
16
động các tổ chức đoàn thể ở cấp cộng đồng như đoàn thanh niên, hội phụ nữ tích
cực tham gia.
Thứ sáu: Liên quan đến vai trò của cộng đồng trong quá trình quản lý tài
nguyên rừng: Cộng đồng ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định
quản lý rừng. Sự tham gia của cộng đồng địa phương vào công tác quản lý rừng
là cần thiết ngay từ những bước ban đầu của quá trình lập kế hoạch và ra quyết
định cho tới khi thực thi. Ngoài ra cộng đồng tự chịu trách nhiệm về các chi phí,
sự may rủi và hưởng lợi ích từ rừng theo quy định của pháp luật và theo quy ước/
hương ước của họ.
Thứ bảy: Hoạt động quản lý rừng: Hoạt động quản lý rừng tương đối linh
hoạt, chủ yếu tập trung vào việc bảo vệ, khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh tự nhiên
rừng. Các hoạt động thực tiễn này chủ yếu trong phạm vi cá nhân, hộ gia đình và
Căn cứ vào nội dung của bản kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng
Phân tích, đánh giá việc thực hiện kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng kỳ trước;
Xác định nhu cầu về diện tích các loại rừng và các sản phẩm, dịch vụ lâm nghiệp;
Xác định các giải pháp, chương trình, dự án thực hiện kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng;
Triển khai kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng 5 năm đến từng năm.
Cộng đồng có thể tham gia vào:
- Đánh giá tài nguyên rừng;
- Xây dựng mục tiêu quản lý cho từng khu rừng cộng đồng;
- Thiết lập các giải pháp kỹ thuật quản lý và phát triển rừng;
- Xây dựng quy chế quản lý rừng dựa vào cộng đồng;
- Xây dựng cơ chế về nghĩa vụ và quyền hưởng lợi;
- Lập kế hoạch thực hiện, giám sát và đánh giá (Bộ NN&PTNT, 2008).
2.1.6.2 Cộng đông tham gia bàn bạc, ra quyết định về giao đất rừng và trồng rừng
Việc giao đất lâm nghiệp là một hoạt động mang tính xã hội sâu sắc, do đó
chỉ thiết kế từ bên ngoài mang tính chủ quan của cán bộ quản lý, kỹ thuật sẽ kém
thích ứng với điều kiện của người dân, cộng đồng do đó sẽ kém hiệu quả và không
bền vững. Vì vậy giao đất lâm nghiệp cần tiến hành theo cách tiếp cận có sự tham
gia trực tiếp của người dân, thôn bản trong suốt tiến trình từ chuẩn bị cho đến khi tổ
chức giao trên thực địa (Dương Viết Tình và Trần Hữu Nghị, 2012).
18
Trước tiên, cộng đồng sẽ được tham gia cuộc họp thôn đầu tiên. Cuộc họp
này rất quan trọng vì nó liên quan đến các vấn đề như xác định nhu cầu và nguyện
vọng của cộng đồng trong nhận đất nhận rừng trên cơ sở được giải thích rõ ràng
các quyền lợi và nghĩa vụ trong nhận đất lâm nghiệp; đồng thời thống nhất kế
hoạch làm việc trong thôn bản để đánh giá nông thôn và tiến hành các bước lập
phương án có sự tham gia. Sau khi cuộc họp thôn lần 1 kết thúc với các kết quả