MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục bảng
v
Danh mục hình
vi
Danh mục chữ viết tắt
vii
MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài
1.3 Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm ở Việt Nam
10
1.3.1 Tình hình nghiên cứu môi trường nước ngầm tại tỉnh Hưng Yên
15
1.3.2 Đặc điểm địa chất tỉnh Hưng Yên
16
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi chất lượng nước ngầm
19
1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến mực nước ngầm
19
1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm
21
1.5 Các vấn đề tồn tại trong quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên ngầm
24
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
29
2.4.4 Phương pháp bảo quản mẫu
29
2.4.5 Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
30
2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu
31
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
32
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Văn Lâm – Hưng Yên
32
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
32
3.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
35
3.3 Cảnh báo mức độ ô nhiễm nước ngầm tại khu vực huyện Văn Lâm
54
3.3.1 Các nguyên nhân gây ô nhiễm nước ngầm tại khu vực huyện Văn Lâm 57
3.4 Đề xuất một số giải pháp quản lý nguồn nước ngầm
58
3.4.1 Giải pháp phi công trình
58
3.4.2 Giải pháp công trình
59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
61
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
PHỤ LỤC
65
HÌNH ẢNH QUÁ TRÌNH LẤY MẪU NƯỚC NGẦM
34
3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Văn Lâm qua các năm 2005 - 2013
36
3.3 Tổng hợp các chỉ tiêu phân tích chất lượng nước ngầm đợt 1 và đợt 2
trên địa bàn huyện Văn Lâm năm 2014
3.4 Kết quả phân tích mẫu nước ngầm trên địa bàn huyện Văn Lâm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
55
56
Page v
DANH MỤC HÌNH
Số hình
Tên hình
Trang
2.1 Sơ đồ vị trí lấy mẫu
28
3.1 Sơ đồ hành chính huyện Văn Lâm
3.9 Biểu diễn kết quả hàm lượng độ cứng tổng (Đợt 2)
49
3.10 Biểu diễn kết quả hàm lượng tổng chất rắn (Đợt 1)
51
3.11 Biểu diễn kết quả hàm lượng tổng chất rắn (Đợt 2)
52
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ASEAN
Liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các
Quốc gia trong khu vực Đông Nam Á
ATSH
An toàn sinh học
BĐKH
NNPTNT
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NDĐ
Nước dưới đất
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
SIWI
Viện nước quốc tế Stockholm
TNMT
Tài Nguyên và Môi Trường
UBND
Ủy ban nhân dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
Page 1
Giang, Yên Mỹ và Mỹ Hào, phía Đông giáp tỉnh Hải Dương, huyện Văn Lâm có
11 đơn vị hành chính gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2.
Toàn huyện Văn Lâm có 18 làng nghề, trong đó có 06 làng nghề được
công nhận là làng nghề cấp tỉnh, một số khu công nghiệp như: Như Quỳnh, Lạc
Đạo, Tân Quang, phố Nối A…và một số cụm công nghiệp đang ngày càng phát
triển mạnh. Do quá trình công nghiệp hóa được đẩy mạnh, số lượng lao động tập
trung trên địa bàn ngày càng cao dẫn đến nhu cầu khai thác và sử dụng nguồn
nước ngầm ngày càng lớn. Chính điều này đã ảnh hưởng đến số lượng và chất
lượng các nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện, ảnh hưởng đến khả năng đáp
ứng của nguồn nước cho nhu cầu sinh hoạt.
Nhu cầu về nước ngọt sạch phục vụ cho dân sinh cũng như cho sản xuất là
rất lớn, trong khi các nguồn cung cấp truyền thống là nước mặt như nước sông, nước
hồ... đang bị ô nhiễm. Vì thế sử dụng nước ngầm để cung cấp nước sạch ngày càng
phát triển. Việc sử dụng nước ngầm cho sinh hoạt và hoạt động sản xuất tại các
vùng miền là rất phổ biến, mỗi hộ gia đình chỉ cần có một giếng khoan là có thể sử
dụng cho cả gia đình trong các mục đích sử dụng nước khác nhau. Tuy vậy, việc
khai thác quá mức nước ngầm sẽ dẫn đến sự suy giảm trữ lượng nước mặt, ngoài ra
nếu các giếng khai thác không đạt chuẩn có thể gây ô nhiễm nước ngầm tại nơi khai
thác mà còn ở các vùng khác.
Công nghiệp hóa đem lại rất nhiều những lợi ích về mặt kinh tế, xã hội, đời
sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn. Tuy nhiên bên cạnh đó thì nó cũng là một
nguyên nhân gây ảnh hưởng đến môi trường nước ngầm tại khu vực. Việc cảnh báo
mức độ ô nhiễm môi trường nước ngầm sẽ giúp cho người dân có được một cái nhìn
rõ ràng hơn về tình hình chất lượng nguồn nước ngầm mình đang sử dụng.
Thực tiễn nói trên đã làm nảy sinh vấn đề đánh giá chất lượng nguồn
nước, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước ngầm, trên cơ
Page 4
Bảng 1.1 Một số đặc điểm khác nhau giữa nước ngầm và nước mặt
Thông số
Nước ngầm
Nhiệt độ
Chất rắn lơ lửng
Chất khoáng hoà tan
2+
Hàm lượng Fe , Mn
Khí CO2 hòa tan
Khí O2 hòa tan
2+
Tương đối ổn định
Thay đổi theo mùa
Rất thấp, hầu như
Thường cao và thay đổi theo
không có
Thường có
SiO2
Nước bề mặt
Thường có ở nồng
độ cao
Gần như bão hoà
Có khi nguồn nước bị nhiễm
bẩn
Không có
Có ở nồng độ trung bình
Có ở nồng độ cao,
NO
3-
do bị nhiễm bởi
Thường rất thấp
phân bón hoá học
Vi sinh vật
Chủ yếu là các vi
dụng cho công nghiệp, 50% cho nông nghiệp và 10% cho sinh hoạt. Tuy nhiên,
nhu cầu nước sử dụng lại thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của mỗi quốc gia.
Ví dụ: ở Hoa Kỳ, khoảng 44% nước được sử dụng cho công nghiệp, 47% sử
dụng cho nông nghiệp và 9% sử dụng cho sinh hoạt và giải trí. Ở Trung Quốc thì
7% nước được dùng cho công nghiệp, 87% nông nghiệp và 6% sử dụng cho sinh
hoạt và giải trí.
Nhu cầu về nước trong công nghiệp: Sự phát triển càng ngày càng cao của
nền công nghiệp trên toàn thế giới càng làm tăng nhu cầu về nước, đặc biệt đối
với một số ngành sản xuất như chế biến thực phẩm, dầu mỏ, giấy, luyện kim, hóa
chất..., chỉ 5 ngành sản xuất này đã tiêu thụ ngót 90% tổng lượng nước sử dụng
cho công nghiệp. Thí dụ: cần 1.700 lít nước để sản xuất một thùng bia chừng 120
lít, cần 3.000 lít nước để lọc một thùng dầu mỏ chừng 160 lít, cần 300.000 lít
nước để sản xuất 1 tấn giấy hoặc 1,5 tấn thép, cần 2.000.000 lít nước để sản xuất
1 tấn nhựa tổng hợp. Tài nguyên nước và hiện trạng sử dụng nước phát triển của
nền công nghiệp hiện nay trên thế giới có thể dự đoán đến năm 2000 nhu cầu
nước sử dụng cho công nghiệp tăng 1.900 km3/năm có nghĩa là tăng hơn 60 lần
so với năm 1900. Phần nước tiêu hao không hoàn lại do sản xuất công nghiệp
chiếm khoảng từ 1 - 2% tổng lượng nước tiêu hao không hoàn lại và lượng nước
còn lại sau khi đã sử dụng được quay về sông hồ dưới dạng nước thải chứa đầy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
những chất gây ô nhiễm ( Cao Liêm, Trần đức Viên, 1990 ).
Nhu cầu về nước trong nông nghiệp: Sự phát triển trong sản xuất nông
nghiệp như sự thâm canh tăng vụ và mở rộng diện tích đất canh tác cũng đòi hỏi
một lượng nước ngày càng cao. Theo M.I.Lvovits (1974), trong tương lai do
thâm canh nông nghiệp mà dòng chảy cả năm của các con sông trên toàn thế giới
có thể giảm đi khoảng 700 km3/năm. Phần lớn nhu cầu về nước được thỏa mãn
qua một thời gian dài, vẫn đề nước chưa có gì là quan trọng.
Tình hình thay đổi nhanh chóng khi cuộc cách mạng công nghiệp xuất hiện
và càng ngày càng phát triển như vũ bão. Hấp dẫn bởi nền công nghiệp mới ra đời,
từng dòng người từ nông thôn đổ xô vào các thành phồ và khuynh hướng này vẫn
còn tiếp tục cho đến nay. Đô thị trở thành nơi tập trung dân cư quá đông đúc, tình
trạng này tác động trực tiếp đến vấn đề về nước ngày càng trở nên nan giải.
1.2.2. Hiện trạng chất lượng nước ngầm trên thế giới
Trung bình mỗi ngày trên trái đất có khoảng 2 triệu tấn chất thải sinh hoạt
đổ ra sông hồ và biển cả, 70% lượng chất thải công nghiệp không qua xử lý bị
trực tiếp đổ vào các nguồn nước tại các quốc gia đang phát triển. Đây là thống kê
của Viện Nước quốc tế (SIWI) được công bố tại Tuần lễ Nước thế giới (World
Water Week) khai mạc tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển ngày 5/9.
Thực tế trên khiến nguồn nước dùng trong sinh hoạt của con người bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Một nửa số bệnh nhân nằm viện ở các nước đang phát triển
là do không được tiếp cận những điều kiện vệ sinh phù hợp (vì thiếu nước) và
các bệnh liên quan đến nước. Thiếu vệ sinh và thiếu nước sạch là nguyên nhân
gây tử vong cho hơn 1,6 triệu trẻ em mỗi năm. Tổ chức Nông Lương LHQ
(FAO) cảnh báo trong 15 năm tới sẽ có gần 2 tỷ người phải sống tại các khu vực
khan hiếm nguồn nước và 2/3 cư dân trên hành tinh có thể bị thiếu nước.
Hàng năm, 4.000 trẻ em tử vong vì nước bẩn và vệ sinh kém. Đây là con
số được Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc UNICEF công bố.
Giám đốc điều hành UNICEF, bà Ann M.Veneman cho biết: "Trên thế
giới, cứ 15 giây lại có một trẻ em tử vong bởi các bệnh do nước không sạch gây
ra và nước không sạch là thủ phạm của hầu hết các bệnh và nạn suy dinh dưỡng.
Một trẻ em lớn lên trong những điều kiện như thế sẽ có ít cơ hội để thoát khỏi
cảnh đói nghèo".
Ước tính có khoảng 17 triệu (52%) trẻ em chưa được sử dụng nước sạch
và khoảng 20 triệu (59%) chưa có nhà tiêu hợp vệ sinh. Con số này còn cao hơn
ở vùng các dân tộc ít người và vùng sâu vùng xa.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nước ngầm đã xảy ra ở California, ở miền Bắc Trung Quốc, ở Mexico và ở Ấn
Ðộ ...là do khai thác để tưới tiêu.
- Sự lún sụp: Khi lớp nước ngầm ở cạn bị lấy đi nhanh tạo nên khoảng
trống trong các lớp ngậm nước là nguyên nhân gây nên sự lún sụp. Hiện tượng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
này đã xảy ra vào năm 1981 ở California đã tàn phá nhà cửa, nhà máy, đường
dẫn nước, đường xe điện ...
- Sự nhiễm mặn: Sự khai thác nước ngầm ở các vùng ven bờ biển tạo
nên khoảng trống trong các lớp đá ngậm nước, làm cho nước biển tràn vào chiếm
lấy khoảng trống đó gây nên sự nhiễm mặn nguồn nước. Sự nhiễm mặn nguồn
nước đã xãy ra ở những vùng ven bờ biển của Israel, Syria.
- Sự ô nhiễm nguồn nước: Khi khai thác nước ngầm sử dụng cho tưới tiêu,
cho sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt, lượng nước thải có thể len lỏi theo
các đường ống dẫn làm ô nhiểm nguồn nước ngầm. Sự ô nhiễm nước ngầm đã
xãy ra ở nhiều nước phát triển và cả Hoa Kỳ, nguồn tài nguyên nước ngầm bị ô
nhiễm bởi hoạt động nông nghiệp và kỹ nghệ, nước ngầm bị ô nhiễm muốn phục
hồi lại phải mất hàng trăm thậm chí đến hàng ngàn năm.
1.3. Tình hình khai thác, sử dụng và quản lý nước ngầm ở Việt Nam
Giống như một số nước trên thế giới, Việt Nam cũng đang đứng trước
thách thức hết sức lớn về nạn ô nhiễm môi trường nước, đặc biệt là tại các khu
công nghiệp và đô thị.
Bảng 1.2: Hiện trạng khai thác và nhu cầu sử dụng nước tại các đô thị
ở Việt Nam đến năm 2020
Vinh
Nước mặt
Nước mặt
Nước mặt
Nước mặt
II
Thái nguyên
Nước mặt + Nước ngầm
II
II
Việt trì
Bắc giang
Nước mặt
Nước mặt
780000
968000
(560000)
126000
90000
75000
20000
23000
M3/ng/đêm
Nhu cầu đến
2020.m3/ng/đêm
Nam Định
Thanh hóa
Quy nhơn
Nước mặt
Nước mặt + Nước ngầm
Nước ngầm
45000
22000
54000
89000
72000
60700
II
Nha trang
Nước mặt + Nước ngầm
II
II
II
Cần thơ
Tuyên quang
Cao bằng
Lạng sơn
Điện biên
Yên bái
Lào cai
Nước mặt + Nước ngầm
Nước mặt + Nước ngầm
Nước ngầm
Nước mặt
Nước ngầm
Nước mặt
Nước mặt
Nước mặt
III
Sơn la
Nước mặt + Nước ngầm
III
III
III
III
III
Nước mặt
30000
31000
51000
30000
(80000)
90000
76000
10000
12000
18000
8000
10000
8500
10000
(5000)
4000
10000
10000
16000
11000
97000
(14000)
36000
11000
13500
(6000)
18000
III
Loại
đô
thị
Hiện tại
Tên Đô thị
III
Hải dương
Nước mặt + Nước ngầm
III
III
III
III
III
III
III
III
III
III
III
III
Hà tĩnh
Đồng hới
Đông hà
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước mặt
Nước mặt
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước mặt
Nước mặt
Nước mặt lộ
Nước ngầm
Nước mặt + Nước ngầm
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước ngầm
Nước dưới đất tự chảy
Nước mặt + Nước ngầm
IV
Hà giang
Nước mặt + Nước ngầm
IV
IV
IV
IV
IV
3000
3000
10000
8000
12000
12000
7000
20000
18000
35000
10000
7000
10000
4000
3550
5000
4800
(1500)
7000
28000
5000
5000
(22000)
20000
51000
2000
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Nhu cầu đến
Page 12
Loại
đô
thị
IV
IV
Hiện tại
Tên Đô thị
IV
IV
IV
IV
IV
IV
IV
V
V
Tây ninh
Đồng xoài
Tân an
Bến tre
Vĩnh long
Trà vinh
Sóc trăng
4800
12000
14400
25500
18000
22000
300
1000
3500
5000
36000
28500
39200
29000
28000
2000
2000
6000
16000
1000
2000
30000
(Nguồn: Cục quản lý tài nguyên nước- Bộ Tài nguyên Môi trường năm 2010)
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm có lượng mưa tương đối lớn trung
bình từ 1.800mm - 2.000mm, nhưng lại phân bố không đồng đều mà tập trung
phương tiện hiện đại cũng đã được tiến hành nhưng còn rất hạn chế chỉ nhằm
phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt ở các trung tâm công nghiệp và khu dân cư lớn
mà thôi.
Theo kết quả điều tra và nghiên cứu địa chất thủy văn khu vực và tìm
kiếm thăm dò có thể phân chia các phân vị địa chất thủy văn nước ta như sau:
Các tầng chứa nước lõ hổng trong tạo thành đệ tứ
Các tầng chứa nước khe nứt trong tạo thành bazan pliocen – đệ tứ
Các tầng chứa nước khe nứt trong tạo thành lục nguyên
Các tầng chứa nước khe nứt khác trong tạo thành cacbonate
Các tạo thành địa chất rất nghèo nước hoặc không chứa nước
Hiện nay nguồn nước dưới đất ở Việt Nam cũng đang phải đối mặt với
những vấn đề như bị nhiềm mặn, nhiễm thuốc trừ sâu, các chất có hại khác.. Việc
khai thác quá mức và không có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ
thấp. Hiện tượng này ở các khu vực đồng bằng bắc bộ và đồng bằng sông Cửu
Long. Khai thác nước quá mức cũng sẽ dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các
vùng ven biển. Nước dưới đất bị ô nhiễm do việc chôn lấp gia cầm, dịch bệnh
không đúng quy cách.
Hầu hết sông hồ ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh, nơi có dân cư đông đúc và nhiều khu công nghiệp lớn đều bị ô nhiễm.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
Phần lớn lượng nước thải sinh hoạt (khoảng 600.000 m3 mỗi ngày, với khoảng
250 tấn rác được thải ra các sông ở khu vực Hà Nội) và công nghiệp (khoảng
260.000 m3 nhưng chỉ có 10% được xử lý) đều không được xử lý, mà đổ thẳng
vào các ao hồ, sau đó chảy ra các con sông lớn. Ngoài ra, nhiều nhà máy và cơ sở
sản xuất cũng không được trang bị hệ thống xử lý nước thải
1.3.1 Tình hình nghiên cứu môi trường nước ngầm tại tỉnh Hưng Yên
báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng nước ngầm đã nghiên cứu như:
- Phạm Quý Nhân (2007), báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng khai thác
nước dưới đất khu công nghiệp Thăng Long II công suất 21.000 m3/ngày.
- Phan Hùng (2009), báo cáo thăm dò đánh giá trữ lượng khai thác nước
dưới đất khu công nghiệp Kim Động công suất 15.000 m3/ngày
1.3.2. Đặc điểm địa chất tỉnh Hưng Yên
Đặc điểm địa chất:
Theo các tài liệu nghiên cứu trước đây cho thấy ở khu vực nghiên cứu,
các thành tạo trầm tích Kainozoi phát triển khá mạnh mẽ. Các phân vị địa tầng
được mô tả từ cổ đến trẻ như sau:
* Hệ Neogen, Hệ tầng Vĩnh Bảo (N2vb)
Trong khu vực nghiên cứu, các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Bảo phân bố
rộng rãi. Trên mặt cắt địa chất, các lỗ khoan thăm dò bắt gặp hệ tầng này ở
độ sâu từ 86,0m (LK1) đến 112,0m (TD3) trung bình là 101,2m. Thành phần
thạch học của hệ tầng bao gồm các thành tạo cuội kết, sạn kết, cát kết xen kẽ
nhau, gắn kết yếu màu xám xanh hoặc xám xi măng. Tại khu vực bãi giếng
Khu công nghiệp Thăng Long II hệ tầng này xuất hiện ở độ sâu từ 88,0 m
(BH4) và 95,5 m (BH1), các lỗ khoan còn lại đều chưa khoan tới hệ tầng Vĩnh
Bảo. Bề dày của hệ tầng đạt khoảng 250m. Các nghiên cứu trước đây xếp các
trầm tích trên vào hệ tầng Vĩnh Bảo, tuổi Plioxen, nguồn gốc biển (N2vb). * Hệ
Đệ Tứ
Trong khu vực nghiên cứu, các trầm tích tuổi đệ tứ phân bố rộng rãi, trên mặt
cắt địa chất có mặt đầy đủ các phân vị địa tầng từ Pleistocen đến Holocen.
Thống Pleistocen:
- Phụ thống Pleistocen dưới, hệ tầng Lệ Chi (Q11 lc)
Hệ tầng Lệ Chi không lộ ra trên bề mặt của khu vực nghiên cứu, chúng
bị các thành tạo Đệ tứ phủ lên trên. Thành phần thạch học gồm cuội, sỏi, cát,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
+ Phụ hệ tầng trên (Q12-3hn2) :
Nằm chuyển tiếp trên phụ tầng Hà Nội dưới, có diện tích phân bố rộng.
Chiều dày của phụ hệ tầng dưới từ 1,5 - 15,5 m. Thành phần trầm tích của phụ hệ
tầng này bao gồm: sét, sét bột màu xám đen, xám nâu, nâu đỏ. Các trầm tích
này đã hình thành lớp cách nước hoặc thấm nước yếu nằm phủ trực tiếp trên
tầng chứa nước qp1.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
+ Phụ thống Pleistocen trên, hệ tầng Vĩnh Phúc (Q13vp)
Các trầm tích của hệ tầng Vĩnh Phúc phân bố rộng rãi khắp khu vực
nghiên cứu, không lộ ra trên mặt đất mà hoàn toàn chìm dưới các trầm tích
Holocen. Hệ tầng này gồm một nhịp phân biệt rõ ràng với hệ tầng Hà Nội và hệ
tầng Hải Hưng, được cấu tạo bởi hai tập:
- Phụ hệ tầng Vĩnh Phúc dưới (aQ13vp1): Hạt thô, nguồn gốc sông.
Chiều dày thay đổi từ 5,5 - 28,1 m. Thành phần trầm tích của phụ hệ tầng chủ
yếu là cát hạt thô, dưới có lẫn ít sạn sỏi, chuyển lên trên là cát hạt trung, trên cùng là
cát hạt nhỏ có lẫn ít bột và ít sét màu xám nâu, xám vàng điển hình.
+ Phụ hệ tầng Vĩnh Phúc trên (amQ13vp2): Hạt mịn, có nguồn gốc sông - biển.
Chiều dày thay đổi mạnh từ 3,0 - 29,0 m. Phụ hệ tầng trên rất dễ nhận biết
bởi màu sắc loang lổ đặc trưng đó là tầng đánh dấu phân chia ranh giới với hệ tầng
Hải Hưng ở phía trên. Thành phần gồm sét, sét bột, sét cát bị phong hoá có màu
loang lổ ở phía trên, chuyển xuống dưới có màu xám xanh, nâu vàng, nâu đỏ.
* Thống Holocen
- Phụ thống Holocen dưới - giữa, hệ tầng Hải Hưng (Q21-2hh)
Theo đặc điểm trầm tích và nguồn gốc, tuổi, có thể chia hệ tầng thành
sông, chiều dày lên tới 6,0m. (Đặng Đình Phúc, 2010)
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi chất lượng nước ngầm
1.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến mực nước ngầm
Các điều kiện tự nhiên:
• Các yếu tố khí tượng
Lượng mưa, độ ẩm, lượng bốc hơi, nhiệt độ không khí đều có ảnh hưởng đến
sự thay đổi mực nước. Lượng mưa trên vùng bổ cấp của tầng chứa nước chứa ít
nhiều đều làm mực nước trong tầng dâng lên ít hay nhiều, đặc biệt đối với các
tầng chứa nước gần mặt đất. Vào mùa mưa, mực nước trong các đơn vị chứa
nước dâng cao; ngược lại vào mùa khô, do độ ẩm thấp, nước bốc hơi nhanh sẽ
làm mực nước trong tầng chứa bị hạ thấp.
• Các yếu tố thủy văn
Mật độ sông suối, sự thay đổi mực nước trong chúng có ảnh hưởng trực
tiếp đến mực nước ngầm, tác động này khá rõ rệt đối với các tầng chứa nước
nông. Dọc theo hệ thống sông, kênh hay khi các tầng nước bị hệ thống thủy văn
cắt qua, mực nước ngầm dâng lên do được bổ cấp cho nước mặt (hay nói cách
khác sông là nguồn tiêu thoát của nước ngầm); ngược lại vào mùa mưa lũ, khi
mực nước sông dâng cao, dòng sông trở thành nguồn nuôi dưỡng cho nước ngầm
và làm mực nước ngầm dâng cao.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 19
• Các yếu tố địa hình, địa mạo
Tùy thuộc vào độ dốc địa hình mà động lực của tầng nước sẽ khác nhau.
Địa hình dốc làm cho nước ngấm vào đất ít hơn vùng bằng phẳng do mực nước
được giũ lại nhiều hơn. Nơi có thảm thực vật dày thì có khả năng giữ nước lâu