MỤC LỤC
Lời cam đoan
I
Lời cảm ơn
II
Mục lục
III
Danh mục các chữ viết tắt
VI
Danh mục bảng
VII
Danh mục hình
IX
MỞ ĐẦU
1
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.2 Tổng quan về dồn điền đổi thửa
7
1.2.1 Vấn đề manh mún đất đai
7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
9
1.2.3 Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
11
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
25
1.3.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
25
1.3.2 Nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội
25
1.4 Tình hình phân bố và sử dụng đất Nông nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội.
2.2.1 Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội huyện Thạch Thất
29
2.2.2 Thực trạng và quá trình tiến hành dồn điền đổi thửa huyện Thạch Thất
29
2.2.3 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa đến sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
29
2.3 Phương pháp nghiên cứu
30
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
30
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin số liệu thứ cấp
30
2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin số liệu sơ cấp
30
42
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp
43
3.2.3 Đất chưa sử dụng
45
3.3 Tình hình thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện
Thạch Thất
45
3.3.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa
45
3.3.2 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền, đổi thửa
47
3.3.3 Kết quả thực hiện dồn điền đổi thửa ở huyện Thạch Thất
50
3.3.4 Kết quả dồn điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu
53
81
3.4.2 Những giải pháp chính:
82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
86
Kết luận
86
Kiến nghị
88
TÀI LIỆU THAM KHẢO
90
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu
BCĐ
: Diện tích
ĐVT
: Đơn vị tính
GO
: Giá trị sản xuất
HTX
: Hợp tác xã
IC
: Chi phí trung gian
KHSDĐ
: Kế hoạch sử dụng đất
KHTS
: Khấu hao tài sản
LM
: Lúa mùa
: Uỷ ban nhân dân
VA
: Giá trị gia tăng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
1.1
Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
1.2
Số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phân theo quy mô sử dụng
Trang
14
của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH
15
3.3
Thực trạng ruộng đất nông nghiệp huyện Thạch Thất trước và sau
dồn điền đổi thửa
52
3.4
Một số kết quả chính trước và sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu
53
3.5
Đất công ích trước và sau dồn điền đổi thửa của các xã thuộc địa bàn
nghiên cứu
55
3.6
Giá thầu đất công ích thực tế trước và sau dồn điền đổi thửa
56
3.7
Bình quân diện tích đất nông nghiệp/ khẩu trước và sau dồn điền đổi thửa
66
3.13
Mức chi phí bình quân cho 1 ha lúa/năm trước và sau dồn điền đổi
thửa tại các xã nghiên cứu
3.14
68
Hiệu quả kinh tế bình quân của mô hình Lúa - Cá - Vịt tại 3 xã nghiên
cứu tính trên 1 ha/năm
71
3.15
Hiệu quả kinh tế của mô hình chuyên thả cá
72
3.16
So sánh hiệu quả sử dụng đất của các mô hình trước và sau dồn điền
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
3.1
Đồng đất huyện Thạch Thất sau khi đã DĐĐT
3.2
Người dân xã Dị Nậu tự nguyện phá bỏ bờ vùng, bờ thửa để chia lại
51
ruộng đất
57
3.3
Hệ thống giao thông, thuỷ lợi nội đồng sau DĐĐT tại Dị Nậu
59
3.4
Những thửa ruộng xã Hương Ngải sau DĐĐT thuận tiện cho sản xuất
của nông dân
69
3.5
trước đây, Đảng và Nhà nước ta đã có hàng loạt những chính sách mới về đất
đai nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, giải quyết vấn đề an ninh lương thực
của cả nước, trong đó điển hình là Luật đất đai năm 1993. Theo đó ruộng đất
được chia đến tận tay người nông dân. Có thể nói rằng, với chính sách mới về
quyền sử dụng đất như vậy đã làm thay đổi hoàn toàn quan hệ sản xuất ở nông
thôn, người nông dân đã thực sự trở thành người chủ mảnh đất của riêng mình đó là động lực cho sự phát triển vượt bậc của nền nông nghiệp nước ta sau giải
phóng miền Nam.
Vai trò to lớn của sự phân chia ruộng đất cho hộ nông dân như nói trên
là không thể phủ nhận. Song với bối cảnh ngày nay, đất nước đang trên đà
phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, trong môi trường hội
nhập kinh tế quốc tế, ngành nông nghiệp không những có nhiệm vụ quan
trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia mà còn phải đảm bảo tối đa
nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông sản xuất khẩu.
Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị
định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính Phủ, chúng ta đã thực hiện
phương châm công bằng xã hội: ruộng tốt cũng như ruộng xấu, ruộng xa cũng
như ruộng gần được chia đều tính trên một nhân khẩu cho các hộ gia đình,
dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán manh mún không đáp ứng được nhu
cầu phát triển của nền nông nghịêp trong thời kỳ đổi mới.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
Sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả sản
xuất thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất. Mặt khác ruộng đất manh mún, ô thửa nhỏ còn gây khó
khăn cho việc lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quản lý đất đai…
Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến công
tác quản lý đất Nông nghiệp
Phản ánh đúng thực trạng bước đầu công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn
huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội, làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất
trong những năm tiếp theo.
Đề xuất được các giải pháp hợp lý và có tính khả thi nhằm hiệu quả sử
dụng đất sau dồn điền đổi thửa trên địa bàn huyện Thạch Thất, thành phố
Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
1.1.1. Giai đoạn 1945-1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của
Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai. Những
mâu thuẫn trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng
đất đai) đã diễn ra trong suốt thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp; trong thời
kỳ chiến tranh chống Mỹ và các chính sách của Chính phủ từ sau ngày thống
nhất đất nước năm 1975.
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính:
đất sở hữu cộng đồng và đất tư hữu. Khu vực nông thôn được phân chia làm 2
tầng lớp dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: địa chủ và tá điền. Tầng lớp địa
chủ chiếm khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích
đất, trong khi đó 59% hộ nông dân là tá điền không có đất và đi làm thuê cho
tầng lớp địa chủ. Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng
đất và giảm bớt thuế cho nông dân nghèo và tá điền. Sau khi kết thúc chiến
Khoán 100. Dưới chính sách Khoán 100, các HTX giao đất nông nghiệp đến
nhóm và người lao động. Những người này có trách nhiệm trong ba khâu của
quá trình sản xuất. Sản xuất vẫn dưới sự quản lý của HTX, cuối vụ hộ nông
dân được trả thu nhập bằng thóc dựa trên sản lượng sản xuất ra và ngày công
đóng góp trong 3 khâu của quá trình sản xuất. Đất đai vẫn thuộc sở hữu của
Nhà nước và dưới sự quản lý của HTX. Mặc dù còn đơn giản nhưng Khoán
100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới nền kinh tế thị
trường. Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến sản
xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong
suốt giai đoạn 1981-1985. Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản
xuất nông nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng
nông nghiệp trong giai đoạn 1986-1988 chỉ là 2,2%/ năm. Đầu năm 1988, sản
xuất lương thực không đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh,
thành trên miền Bắc. Ở miền Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong
khu vực nông thôn, đặc biệt là mối quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
chia và điều chỉnh đất đai. Điều này hiển nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải
cách mới trong chính sách đất đai.
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã
được thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng 4
năm 1988. Với sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên
Khoán 10, người nông dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm
và lần đầu tiên hộ nông dân được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ
trong nông nghiệp. Bắt đầu từ thời kỳ này, các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu,
bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu dưới hình thức cá thể. Một khía cạnh
khác của chính sách này đó là người nông dân ở miền Nam được giao lại đất họ
nông dân thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức
năng xem xét và cấp cho các nông hộ. Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân, cuối năm 2000 con số này là
trên 90% (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998). Đối với đất rừng ở khu vực
trung du và miền núi nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất
phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình
này vẫn đang được tiếp tục thực hiện. Vào năm 1998, người nông dân được
giao thêm 2 quyền sử dụng nữa đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp
vốn đầu tư kinh doanh bằng đất đai (Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, 1998).
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981
đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và
phát triển khu vực nông thôn. Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm
trong suốt giai đoạn 1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000-2003.
An toàn lương thực quốc gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo
đói đang từng bước được đẩy lùi (Ban Kinh tế, 2004).
1.2. Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.2.1. Vấn đề manh mún đất đai
Khái niệm manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự
manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có
quá nhiều mảnh ruộng với kích thứơc quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
Hai là sự manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số
lượng ruộng đất quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu
tố sản xuất khác (Tập huấn phát triển Nông thôn, 1998).
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất
Tình trạng manh mún ruộng đất xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Để
khắc phục tình trạng này, từ nhiều năm nay người ta đã tiến hành dồn điển đổi
thửa, tích tụ đất đai,... để việc sử dụng đất được hiệu quả hơn.
* Nhật Bản: Để chấn hưng nền nông nghiệp, năm 1961 Chính phủ
Nhật Bản đã ban hành chính sách nông nghiệp là đưa nông nghiệp từ quy mô
nhỏ lên quy mô lớn. Để thực hiện mục tiêu này Bộ nông nghiệp đề ra "sự
nghiệp xây dựng ruộng đất với ba mục tiêu: rộng, chắc chắn, sâu".
- Rộng: nâng kích thước thửa ruộng lên 0,3ha.
- Chắc chắn: cải tạo nền đất yếu, nhiều bùn, hay lún trên cơ sở thiết kế
xây dựng thoát nước cho từng thửa ruộng và từng khu vực để có thể sử dụng
máy móc cho thuận lợi.
- Sâu: cải tạo tầng canh tác ruộng đất đảm bảo độ dầy khoảng 1m.
Để làm được các yêu cầu nêu trên cần phải làm được hai việc:
+ Về mặt hành chính: xử lý chuyển đổi từ các ô thửa nhỏ thành ô
thửa lớn.
+ Về mặt kỹ thuật: gắn liền với việc xử lý kích thước thửa ruộng là việc
xây dựng hệ thống tưới tiêu và san ủi mặt bằng.
Công tác dồn điền đổi thửa, xử lý ruộng đất như nêu trên là khó khăn
phức tạp vì đất đai thuộc sở hữu tư nhân và việc chuyển đổi phải tiến hành với
một số biện pháp như công tác quy hoạch sử dụng đất...mới phát huy hiệu quả
trong sử dụng đất. Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa
nước ở Nhật Bản đã được chuyển đổi. Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4
thửa /hộ, sau chuyển đổi bình quân có khoảng 1,8 thửa /hộ. Việc chuyển đổi,
xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao
động của người nông dân; việc áp dụng máy móc vào sản xuất được thuận
tiện và hiệu quả,...tạo điều kiện để phát triển nông nghiệp hàng hoá, nâng cao
sức cạnh tranh trong nông nghiệp. Vì vậy cùng với các yếu tố khác, việc
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
có 0,4% loại trang trại có 4 đến 5ha. Trong khi đó, 40% số trang trại do
người làm công quản lý chứ không do chủ đất quản lý. Tình trạng này đã ảnh
hưởng nhiều đến việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật của cuộc cách mạng xanh
thời đó. ở Indonesia nói riêng và Đông Nam Á nói chung có sự gia tăng áp
lực dân số trên ruộng đất nhưng ít xẩy ra phân cực giữa các loại nông hộ, các
trang trại quy mô lớn đến hàng chục ha chỉ là cá biệt, mặc dù số nông dân
không có ruộng đất vẫn tăng lên. Như vậy, ruộng đất vẫn không tập trung
được vào một số trang trại lớn mà chỉ được trao đổi giữa các chủ nhỏ. Thậm
chí, quy mô ruộng đi thuê ở tất cả các nhóm hộ đều giảm xuống. Giá ruộng
đất (địa tô) vẫn tăng lên, nhưng lãi từ việc đầu tư thêm lao động giảm xuống,
làm thay đổi một loạt các thể chế nông thôn, chủ yếu là gia tăng số hộ cho
thuê đất. Như vậy thị trường ruộng đất đã không vận hành hoàn toàn theo
nguyên lý kinh tế (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
* Châu Âu và các nước phát triển khác: kể từ sau cách mạng nông
nghiệp lần thứ 2 (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX), một loạt các trang trại nhỏ,
manh mún năng suất thấp đã bị loại thải, thay vào đó là các trang trại quy mô
vừa, năng suất lao động cao. Ví dụ ở Pháp năm 1955 có xấp xỉ 2,3 triệu nông
hộ có quy mô 14 ha/hộ, đến năm 1993 chỉ còn 800 ngàn nông hộ với quy mô
35 ha/hộ. Ở Mỹ, năm 1950 cả nước có 5,65 triệu nông hộ với quy mô bình
quân 86 ha/hộ, đến năm 1992 chỉ còn 1,92 triệu nông hộ với quy mô 198,9
ha/hộ. Nhìn chung, tiến trình tích tụ ruộng đất và vốn nhanh chóng của các
nông hộ ở Châu Âu chủ yếu là nhờ thành tựu khoa học công nghệ phát triển
trong quá trình cơ giới hoá nông nghiệp của cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ 2 (Chu Mạnh Tuấn, 2007).
1.2.3. Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
- Nguyên nhân thứ 2 là chế độ thừa kế chia đều ruộng đất cho tất cả con
cái. ở Việt Nam ruộng đất của cha mẹ thường được chia đều cho tất cả các
con sau khi ra ở riêng. Vì thế tình trạng phân tán ruộng đất gắn liền với chu
kỳ phát triển của nông hộ.
- Nguyên nhân thứ 3 là tâm lý tiểu nông của các hộ sản xuất nhỏ. Do
quy mô sản xuất nhỏ lẻ, các hộ nông dân ngại thay đổi, nhất là những thay đổi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
liên quan đến ruộng đất.
- Nguyên nhân thứ tư liên quan đến phương pháp chia ruộng bình quân
theo nguyên tắc có tốt, có xấu, có xa, có gần khi thực hiện Nghị định 64 CP
năm 1994. Việc chia nhỏ các thửa ruộng để có sự công bằng giữa các hộ đã
góp phần không nhỏ làm tăng tình trạng manh mún ruộng đất. Quan điểm
muốn bảo vệ sự công bằng cho những người dân được chia ruộng và nhiều lý
do sau đây khiến đa số các địa phương chia nhỏ ruộng cho nông dân, đó là:
+ Tất cả các hộ đều phải có ruộng gần, xa, tốt, xấu, cao, thấp. Có như
vậy mới thể hiện tính công bằng.
+ Độ phì tự nhiên của đất ở các khu khác nhau phải chia đều cho các hộ.
+ Do hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất khác nhau nên phải
chia đều đất cho các hộ.
+ Các chân đất thường không an toàn do các vấn đề như úng, hạn,
chua... do đó việc chia đều rủi ro cho các hộ cũng là chỉ tiêu quan trọng trong
khi chia ruộng.
+ Ngoài ra, giá đất luôn biến động, tăng cao đặc biệt là các khu đất gần
các trục đường chính hoặc trong tương lai sẽ nằm trong quy hoạch khu đô thị,
khu công nghiệp... vì thế đất ở đó phải được chia đều cho các hộ để mọi người
đều có thể hưởng "thành quả" đền bù đất hay cùng chịu "rủi ro"nếu đất đai bị
1
Trung du miền núi Bắc Bộ
Trung
bình
10 – 20
Cá
biệt
150
Đất lúa
Đất rau
150 – 300
100 – 150
2
Đồng bằng sông Hồng
7- 10
47
300 – 400
5
25
200 – 500
1000- 5000
6
Đông Nam Bộ
4 -5
15
1000- 3000
1000- 5000
7
Đồng bằng sông Cửu Long
3
10
3000 – 5000 500 - 1000
Từ 0,2 ha
Từ 0,5 ha
Từ 2 ha
dưới 0,2
đến dưới
đến dưới 2
ha
trở lên
0,5 ha
ha
1731533
1223905
97216
2116
1
Hà Nội (cũ)
174537
123610
48121
2718
88
2
457290
279625
160362
16955
348
5
Hà Nội
348086
187579
151986
8335
186
6
Hải Phòng
242419
187376
3843
71
9
Hà Nam
172615
94132
72196
6165
122
10 Nam Định
396281
221735
165630
8814
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15
quản lý 47 thửa/ hộ (Vĩnh Phúc); về diện tích sử dụng cũng có sự khác nhau,
diện tích thửa lớn nhất là 5968m2 (Vĩnh Phúc), thửa nhỏ nhất là 5m2 (Ninh Bình)
đây cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng các loại cây trồng.
Bảng 1.3. Mức độ manh mún ruộng đất ở một số tỉnh vùng ĐBSH
TT
Tỉnh
Tổng số thửa/hộ
Nhiều
Trung
ít nhất
nhất
bình
9,5
Diện tích bình quân/thửa (m2)
Lớn
Nhỏ nhất
Trung bình
nhất
20
700
216
10
-
-
4
Vĩnh Phúc (cũ)
7,1
47
9,0
10
5968
228
5
Nam Định
3,1
19
24
8,0
5
3224
-
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2003)
* Các đặc điểm manh mún ruộng đất ở ĐBSH
Hàng thế kỷ trước đây, tình trạng manh mún ruộng đất ở ĐBSH đã
được miêu tả khá cụ thể, với những đặc điểm như sau:
Thứ nhất: sự manh mún ruộng đất không có mối quan hệ nào với mật độ
dân số. Nói cách khác, không phải ở đâu đông dân thì ở đó ruộng đất manh mún.
Thứ hai: sự manh mún ruộng đất thể hiện sự khác biệt giữa các vùng.
Dường như ở các vùng có độ chênh cao so với mực nước biển thấp thì địa
hình ít bị chia cắt nên đất đai ít bị xé nhỏ. Các vùng có độ chênh cao so với
mực nước biển lớn hơn, địa hình bị chia cắt nhiều hơn thì ruộng đất lại manh
mún hơn, hoặc càng ra gần biển, các ô thửa của ruộng càng lớn hơn.
Thứ ba: ngay trong cùng một vùng, hiện tượng manh mún cũng không
giống nhau; đất trũng bị ngập nước thường xuyên hay các ruộng ngoài đê, ô
thửa ít bị xé nhỏ hơn là ruộng đất cao được đê che chắn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
Khá, giầu
8,0
492
(Nguồn:Tổng cục địa chính, 1997)
1.2.3.3. Những hạn chế của tình trạng manh mún ruộng đất đối với sản xuất
nông nghiệp và quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương
- Hạn chế khả năng áp dụng cơ giới hoá nông nghiệp, không giảm được
chi phí lao động đầu vào.
- Thửa ruộng quá nhỏ khiến nông dân ít khi nghĩ đến việc đầu tư tiến
bộ kỹ thuật (TBKT) để tăng năng suất. Theo họ, đầu tư TBKT có thể giúp
tăng năng suất nhưng trên diện tích quá nhỏ thì sản lượng tăng không đáng kể.
- Thửa ruộng đã nhỏ, nhiều thửa lại phân tán làm tăng rất nhiều công
thăm đồng, vận chuyển phân bón và thu hoạch, mặt khác nông dân không
muốn trồng cây hàng hoá do phải tăng công bảo vệ.
- Quy mô ruộng đất nhỏ làm giảm lợi thế cạnh tranh của một số sản phẩm
nông nghiệp trong bối cảnh giá nông sản luôn có sự biến động bất ổn định.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 17
- Nhiều thửa ruộng dẫn tới lãng phí đất canh tác do phải làm nhiều bờ
ngăn, tính trung bình vùng ĐBSH mất khoảng 2,4% - 4% đất canh tác dùng
để đắp bờ vùng, bờ thửa.
- Nhà nước cũng tiết kiệm được một khoản tiền khá lớn cho quá trình
lập hồ sơ ruộng đất (ruộng đất manh mún như trước đây chỉ tăng 30 - 50%).