BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Tạ Đình Đề
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
TRONG BẢO VỆ QUYỀN CÔNG DÂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: LUẬT HIẾN PHÁP, LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60380102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. Vũ Trọng Hách
Đăk Lăk năm 2016
Lời cam đoan
Tôi cam đoan các nội dung được trình bày trong Luận văn này là công
trình nghiên cứu của tôi, được nghiên cứu và viết tại Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh đăk Nông. Nội dung, số liệu trong Luận văn là chính xác, trung thực
phản ánh tính khách quan trong quá trình nghiên cứu. Tôi đã thực hiện đầy
đủ nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính quốc gia
xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người cam đoan
Biểu đồ 2.2 Án thụ lý kiểm sát điều tra giai đoạn 2011 – 2015 …………………………….60
Bảng 2.3 Án Viện kiểm sát hai cấp thụ lý truy tố từ năm 2011-2015………………………61
Biểu đồ 2.4 Án Viện kiểm sát thụ lý truy tố giai đoạn 2011- 2015 …………….................62
Bảng 2.5 Án Viện kiểm sát hai cấp thụ lý xét xử từ năm 2011-2015 ……………………....64
Biểu đồ 2.6 Án Viện kiểm sát thụ lý kiểm sát xét xử sơ thẩm giai đoạn 2011- 2015 …....65
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Các từ, cụm từ viết tắt
VKSND
Các từ, cụm từ nguyên nghĩa
Viện kiểm sát nhân dân
CQĐT
Cơ quan điều tra
KSV
Kiểm sát viên
ĐTV
Điều tra viên
CBCC
Cán bộ công chức
địa bàn tỉnh Đắk Nông .........................................................................................44
2.2.Thực trạng thực hiện bảo vệ quyền công dân trong lĩnh vực pháp luật hình sự
của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông........................................................50
2.2.1.Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giải quyết tố
giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố..........................................................50
2.2.2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử .........................................................................................56
2.2.3. Công tác kiểm sát tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự. ...................65
2.3.Đánh giá chung ..............................................................................................71
2.3.1. Ưu điểm và nguyên nhân ...........................................................................71
2.3.2.Hạn chế và nguyên nhân .............................................................................78
Tiểu kết chương II................................................................................................83
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK NÔNG TRONG BẢO VỆ QUYỀN CÔNG DÂN....84
3.1.Hoàn thiện pháp luật về quyền công dân trong lĩnh vực hình sự ..................84
3.2.Tổ chức thực hiện nhanh chóng, kịp thời, đầy đủ những quy định của Hiến
pháp, pháp luật về quyền công dân ......................................................................87
3.3.Đẩy mạnh công tác phố biến, giáo dục pháp luật về quyền công dân trong
thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.....................................88
3.4.Tiếp tục thực hiện tốt các yêu cầu của cải cách tư pháp trong hoạt động của
Viện Kiểm sát nhân dân .......................................................................................90
3.5.Nâng cao năng lực, trách nhiệm của kiểm sát viên trong hoạt động tố tụng
hình sự ..................................................................................................................95
3.6.Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện, trang thiết bị nghiệp vụ phục vụ
hoạt động công tố và kiểm sát tư pháp.................................................................99
Tiểu kết chương 3.................................................Error! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN ........................................................................................................102
TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................104
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11
năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 (sau đây viết là: Bộ luật Tố
tụng hình sự 2015) qui định: Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng
Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát,
Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân
trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết
của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp
đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết. Mỗi cơ quan tuỳ
theo chức năng, nhiệm vụ của mình mà có những phương thức bảo vệ quyền
công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có vai trò trực
tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền công dân trong các vụ án
hình sự. Thực tiễn hoạt động tố tụng hình sự trong những năm gần đây trên địa
bàn tỉnh Đăk Nông cho thấy, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo
vệ quyền, nghĩa vụ của công dân, của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã đạt
được những thành tựu nhất định. Các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân về
cơ bản đã được bảo đảm, đã hạn chế được tình trạng oan, sai. Tuy nhiên, thực tế
vẫn còn có nhiều trường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng chưa bảo đảm thực hiện đầy đủ các quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo, bị án trong hoạt động tố tụng hình sự như: Vẫn còn tình trạng bắt giữ người
theo thủ tục hình sự nhưng sau đó phải trả tự do vì không có hành vi phạm tội;
giữ người không có căn cứ dẫn đến chết trong nhà tạm giữ; bức cung, ép cung;
chưa thực hiện nghiêm chế độ giám hộ, bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc người
chưa thành niên; việc tranh tụng tại Tòa án chưa thực sự dân chủ; vi phạm chế
2
độ, chính sách trong giam giữ người, tại các nhà tạm giữ, trại tạm giam…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có phần trách nhiệm của Viện kiểm sát
công trình nghiên cứu sau đây: Hiến pháp 2013; Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi
bổ sung năm 2009); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân 2014. Các Luật, Bộ luật đã được Quốc hội khóa XIII thông qua
tháng 11.2015, có hiệu lực từ ngày 01.7.2016, qồm có: Bộ luật hình sự; Bộ luật
Tố tụng hình sự; Luật thi hành tạm giữ, tạm giam; Luật tổ chức cơ quan điều
tra… Các công trình nghiên cứu: Tác giả PGS. TS. Nguyễn Thanh Tuấn, viết về
“quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp 2013” và bài “dân chủ và
nhân quyền” trong (mục nghiên cứu, trao đổi – Tạp chí Cộng sản, ngày 09 và
30.9.2014); Luận văn thạc sỹ Luật TP. Hồ Chí Minh năm 2012 của tác giả Đặng
Thị Thu Trang về đề tài “quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến
pháp năm 1992 và vấn đề hoàn thiện”; Luận văn thạc sỹ Luật, khoa Luật Đại
học quốc gia Hà Nội năm 2013 của tác giả Đinh Thị Thu Trang, đề tài “mối
quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân”.
Nhìn tổng thể, các công trình khoa học, bài viết nêu trên đã đề cập sâu về lý
luận cũng như thực tiễn về quyền con người, quyền công dân trên phạm vi
chung nhất. Do đó, có thể nhận định việc tác giả nghiên cứu vấn đề vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông bảo vệ quyền công dân, là lĩnh vực riêng
chưa có công trình nào nghiên cứu, vì vậy Luận văn này không trùng lặp với bất
cứ một công trình nào khác. Tuy nhiên để thực hiện luận văn, tác giả có thể lựa
chọn, kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu nêu trên.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
Mục đích của luận văn: Luận văn nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ những
vấn đề lý luận về quyền công dân; luận chứng vai trò của Viện kiểm sát trong
bảo vệ quyền công dân. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn, xác định và đề xuất các
giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong việc bảo vệ
quyền công dân trong Hiến pháp và pháp luật hình sự ở nước ta.
dân của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự, phù hợp với Hiến
pháp, pháp luật hiện hành, góp phần tạo sự chuyển biến trong cải cách tư pháp,
hoạt động tố tụng hình sự bảo đảm tính dân chủ, khách quan góp phần bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Về thời gian Luận văn nghiên cứu: Những vấn đề thực tiễn liên quan đến
đề tài gắn với quá trình thực thi pháp luật hình sự trên địa bàn tỉnh Đăk Nông từ
năm 2011 đến 2015.
5. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở khoa học: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ
nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về Nhà nước và pháp luật, về quyền công dân, các quan điểm của
Đảng về cải cách tư pháp, về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
6
Về phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, trực tiếp sử dụng các
phương pháp phân tích và tổng hợp từ các tài liệu tham khảo, lịch sử cụ thể, kết
hợp giữa lý luận và thực tiễn. Ngoài ra, Luận văn cũng sử dụng một số phương
pháp nghiên cứu khoa học cụ thể khác như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu;
phương pháp lôgic; các phương pháp so sánh, đối chiếu, thống kê...
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
Từ thực tiễn trong hoạt động pháp luật hình sự và thực trạng vai trò của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đak Nông, trong thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, nhằm bảo vệ quyền công dân; qua
nghiên cứu, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao, xác định rõ hơn vai
trò của Viện kiểm sát nhân dân nói chung và ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk
Nông nói riêng trong việc bảo vệ quyền công dân trong Hiến pháp và pháp luật
tịch của người đó. Người có một quốc tịch là công dân của một quốc gia, có hai
quốc tịch hoặc nhiều hơn là công dân của hai hay nhiều quốc gia. Người không
quốc tịch không phải công dân của một nước nào.
Công dân của một nước được pháp luật nước đó quy định cho hưởng
quyền công dân về chính trị, kinh tế, dân sự, văn hóa, xã hội và trao trách nhiệm
thực hiện các nghĩa vụ công dân đối với nhà nước, xã hội. Nhà nước có trách
nhiệm tạo các điều kiện ngày càng đầy đủ, để công dân có thể hưởng được các
quyền và yêu cầu công dân thực hiện ngày càng đầy đủ các nghĩa vụ của mình
đối với đất nước.
Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam. Quốc tịch Việt Nam
được xác lập trên cơ sở nguyên tắc, huyết thống, nguyên tắc lãnh thổ, hoặc trên
cơ sở cho nhập quốc tịch Việt Nam do luật định.
Công dân Việt Nam được hưởng các quyền và gánh vác trách nhiệm công
dân đối với nhà nước. Quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam được quy định
trong Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác.
Quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam: làm việc, học tập, công tác
và định cư ở nước ngoài được luật pháp Việt Nam bảo hộ [30, tr. 176].
9
1.1.2.Quyền công dân
Khả năng tự do lựa chọn hành vi của công dân mà nhà nước phải bảo đảm
khi công dân yêu cầu. Điều đó thể hiện rõ trong quy định của pháp luật nói
chung, công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm, như vậy, ý chí của
nhà nước được thể hiện trong các quy định của pháp luật mà nhà nước xây dựng
nên phải tiên lượng được những việc, những hành vi cấm đối với công dân.
Ngược lại, công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm đoán, phạm vi
lựa chọn của công dân là rất rộng lớn.
Quyền của công dân liên quan đến nghĩa vụ tương ứng của Nhà nước là
đồng”. Như vậy theo một nghĩa khái quát nhất, quyền công dân có thể hiểu là
những lợi ích pháp lý được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ cho những người có
quốc tịch nước mình [26, tr. 26].
Các quyền cơ bản của công dân
Quyền của công dân được quy định trong Hiến pháp, điều chỉnh những
quan hệ đặc biệt quan trọng giữa công dân và nhà nước, là cơ sở tồn tại của cá
nhân và hoạt động bình thường của xã hội.
Quyền cơ bản của công dân có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với công
dân và nhà nước, nó là cơ sở để nhà nước quy định các quyền cụ thể của công
dân.
Các quyền cơ bản của công dân bao gồm các quyền cơ bản về chính trị,
kinh tế, văn hóa, giáo dục, các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân.
Ở Việt Nam các quyền cơ bản của công dân về chính trị gồm có: Quyền
tham gia quản lý nhà nước về xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố
cáo. Các quyền cơ bản của công dân về kinh tế - xã hội gồm có: quyền lao động,
11
quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền xây dựng nhà ở, quyền bình đẳng
nam nữ, quyền hôn nhân và gia đình, quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe,
quyền học tập, lao động, giải trí của thanh niên, quyền được bảo vệ, chăm sóc,
giáo dục của trẻ em, quyền được ưu đãi của thương binh, bệnh binh, gia đình liệt
sĩ, quyền được giúp đỡ của người già, người tàn tật, trẻ mồ côi không nơi nương
tựa. Các quyền cơ bản của công dân về văn hóa, giáo dục gồm có: Quyền học
tập, quyền nghiên cứu khoa học và hoạt động sáng tạo. Các quyền cơ bản về tự
do dân chủ của công dân gồm có: Quyền tự do đi lại, cư trú, quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình,
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền bí
mật thư tín, điện thoại, điện tín, bất khả xâm phạm về chỗ ở [30, tr.649-650].
đều được bảo vệ. Do đó Hiến pháp 2013 đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền
được bảo vệ về đời tư (so với Hiến pháp 1992 tại Điều 73 chỉ quy định về bí mật
thư tín, điện thoại, điện tín).
Đối với các quy định về hạn chế quyền, khoản 2, Điều 14 Hiến pháp 2013
quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy
định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,
trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Việc quy định
về hạn chế quyền là cần thiết để bảo đảm quyền công dân được thực hiện một
cách minh bạch, chỉ có thể được quy định trong luật mà không thể là văn bản
khác, để phòng ngừa sự cắt xén hay hạn chế các quyền này một cách tùy tiện từ
phía các cơ quan nhà nước.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được thể chế hóa trong Bộ luật
Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 theo định hướng cải cách tư pháp
13
của Đảng và Hiến pháp 2013, đó là, xây dựng Bộ luật thực sự khoa học, tiến bộ,
có tính khả thi cao, là công cụ pháp lý sắc bén để đấu tranh hữu hiệu với tội
phạm, bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân.
1.2.Viện kiểm sát nhân dân trong bảo vệ quyền công dân
1.2.1.Tổ chức Viện Kiểm sát trong bảo vệ quyền công dân
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân năm 2014 quy định về chức năng
thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân:
Thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người
phạm tội, được thực hiện từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến
nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm:
Mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi tố,
Điều tra các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, các tội phạm về
tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp theo quy định của luật;
Quyết định áp dụng thủ tục rút gọn trong giai đoạn điều tra, truy tố;
Quyết định việc truy tố, buộc tội bị cáo tại phiên tòa;
Kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp Viện
kiểm sát nhân dân phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội;
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người
phạm tội theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. [23, tr. 17].
Về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân
Luật quy định:
15
Kiểm sát hoạt động tư pháp là các hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong hoạt động tư pháp, được thể hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết
vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân
và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trong việc thi hành án, việc giải
quyết khiếu nại, tố cáo về tư pháp và các hoạt động tư pháp khác theo quy định
của pháp luật .
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát hoạt động tư pháp nhằm đảm bảo:
Việc tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi
tố; việc giải quyết vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia
đình, kinh doanh, thương mại, lao động, việc thi hành án, việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo về tư pháp và các hoạt động tư pháp khác được thực hiện đúng quy
định của pháp luật;
Việc bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án phạt tù, chế độ tạm giữ, tạm
giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù theo đúng quy định của
phó, Trợ lý điều tra thuộc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt
động điều tra) phù hợp với quy định tại Chương II của Hiến pháp năm 2013 và
đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải quyết vụ án hình sự hiện nay.
Nguyên tắc này thể hiện bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đề
cao và tôn trọng quyền công dân, vì lợi ích của con người. Đó là quyền bình
đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ
17
tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm, quyền bất khả xâm phạm
về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín điện thoại, điện tín. Đây là các quyền cơ bản
của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Bảo đảm sự tôn trọng và bảo
vệ các quyền cơ bản của công dân trong tố tụng hình sự thể hiện bản chất của
nền dân chủ xã hội chủ nghĩa luôn đề cao và tôn trọng các giá trị của con người,
vì lợi ích của con người.
Nguyên tắc Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật
quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành (Điều 9 Bộ luật Tố Tụng
hình sự năm 2015) “Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân
đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam nữ, tín ngưỡng,
tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử
lý theo pháp luật”.
Trong Tố tụng hình sự, nguyên tắc này được hiểu là: Đối với người phạm
tội, thì dù họ là ai, nắm giữ chức vụ, cương vị gì trong cơ quan nhà nước, tổ chứ
xã hội, tổ chức kinh tế, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội khác đều phải bị xử
lý theo pháp luật hình sự. Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự
đều được tiến hành theo thủ tục, trình tự thống nhất do Bộ luật Tố tụng hình sự
quy định, không có ngoại lệ vì lý do dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã
hội, địa vị xã hội của người bị hại hoặc của bị can, bị cáo. Người tham gia tố
tụng đều được hưởng những quyền và thực hiện nghĩa vụ tố tụng theo quy định.
Điều 9 Bộ luật TTHS năm 2015 thay chủ thể “công dân” bằng “mọi