B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM TH DC TH THAO H NI
TRN èNH PHềNG
NGHIÊN CứU LựA CHọN BàI TậP PHáT TRIểN SứC MạNH TốC Độ
CHO NAM SINH VIÊN ĐộI TUYểN BóNG NéM TRƯờNG ĐạI HọC
SƯ PHạM THể DụC THể THAO Hà NộI
Chuyờn ngnh: Giỏo dc th cht
Mó s: 60140103
LUN VN THC S GIO DC HC
HNG DN KHOA HC: TS. NGUYN VN THI
2
HÀ NỘI – 2016
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.
Tác giả luận văn
Trần Đình Phòng
ii
: Chuyên gia
: Chuyên môn
: Câu lạc bộ
: Creatinphôtphat
: Cộng sự
: Đối chứng
: Giai đoạn huấn luyện
: Huy chương bạc
: Huy chương đồng
: Huy chương vàng
: Huấn luyện viên
: Khoa học giáo dục
: Khoa học kỹ thuật
: Khoa học thể dục thể thao
: Lượng vận động
: Nhóm đối chứng
: Nhóm thực nghiệm
: Nhà xuất bản
: Sức mạnh tốc độ
: Thể dục thể thao
: Thể lực chuyên môn
TR
TT
VĐV
XPC
: Trang
: Thứ tự
: Vận động viên
1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội là trung tâm đào tạo và nghiên
cứu khoa học TDTT của cả nước, có nhiệm vụ đào tạo giáo viên TDTT cho
các trường phổ thông các cấp trên phạm vi toàn quốc, với mục tiêu đặt ra là:
Đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên TDTT trình độ đại học, cao đẳng, có phẩm
chất chính trị, đạo đức tốt; có khả năng tổ chức quản lý các phong trào hoạt
động TDTT, giảng dạy thể dục tại các trường học, huấn luyện thể thao thành
tích cao; đồng thời có khả năng nghiên cứu khoa học TDTT phục vụ cho yêu
cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Chính vì vậy, đổi mới công tác đào tạo cán bộ TDTT, nâng cao chất
lượng đào tạo có ý nghĩa thực tiễn to lớn. Công việc này phải được tiến hành
thường xuyên và phải thực hiện ngay ở từng môn học trong nhà trường.
Bóng ném là một trong những môn thể thao ra đời rất sớm trên thế giới,
liên đoàn bóng ném quốc tế chính thức được thành lập vào năm 1928 lúc đó lấy
tên là IAHF đây là môn thể thao được đưa vào đại hội Olympic hiện đại đầu
tiên năm vào năm 1972 cho nam và nữ từ năm 1976 của thế kỷ trước. Quá trình
phát triển môn bóng ném gắn liền với sự tiến bộ của xã hội loài người.
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các môn thể thao khác
thì Bóng ném cũng không ngừng phát triển ở tất cả các quốc gia. Được du
nhập vào Việt Nam năm 1945, đến khi đất nước hoàn toàn giải phóng thì
Bóng ném bắt đầu phát triển ở một số thành phố như Hà Nội, Thành phố Hồ
Chí Minh, Bình Định ...
Bóng ném là một trong những chuyên nghành đào tạo cơ bản của
trường Đại học sư phạm Thể dục Thể thao Hà Nội. Tuy là môn thể thao mới
đưa vào chương trình đào tạo nhưng cũng như các môn thể thao khác Bóng
ném luôn nhận được quan tâm nâng cao chất lượng đào tạo, giảng dạy đặc
Hiện nay có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu các vấn
đề liên quan tới Bóng ném như: Phạm Quang Bản (2002) “Nghiên cứu nội
dung huấn luyện và thang điểm dùng để tuyển chọn ban đầu cho vận động
viên bóng ném nam lứa tuổi 11-13” ; Bùi Kim Phượng(1994) “Nghiên cứu
3
bước đầu tuyển chọn vận động viên bóng ném trẻ ở Hà Nội”; Bùi Thị Kim
Phượng (2007) “Nghiên cứu đánh giá trình độ tập luyện về thể lực dưới góc
độ sư phạm của vận động viên bóng ném nam đội tuyển quốc gia”; Lê Thị
Thanh Thuỷ (2007) “Nghiên cứu xây dựng một số tiêu chuẩn đánh giá trình
độ đẳng cấp VĐV cho sinh viên chuyên sâu bóng ném”; Nguyễn Xuân Trãi
(2003) “Nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá
trình độ thể lực chuyên môn cho sinh viên bóng ném Trường Đại học
TDTT1”; Hoàng Thế Khải (2011) “Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm phát
triển sức mạnh tốc độ cho nam sinh viên chuyên sâu Bóng ném năm thứ nhất
Trường Đại học TDTT Bắc Ninh”
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập tới việc nâng cao hiệu quả kỹ
thuật và phát triển các tố chất thể lực cho sinh viên chuyên sâu bóng ném, còn
vấn đề các công trình nghiên cứu về sức mạnh tốc độ cho đối tượng là sinh viên
đội tuyển Bóng ném hầu như chưa được đề cập nhiều và quan tâm đúng mức.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển sức mạnh tốc độ cho nam
sinh viên đội tuyển Bóng ném trường ĐHSP TDTT Hà Nội”.
2. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là lựa chọn được bài tập phát triển sức
mạnh tốc độ cho cho nam sinh viên đội tuyển Bóng ném trường ĐHSP TDTT
Hà Nội và đánh giá được hiệu quả bài tập đó trên đối tượng nghiên cứu. Qua
đó nâng cao được sức mạnh tốc độ nói riêng và chất lượng giáo dục, đào tạo
trong Nhà trường nói chung.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Xu thế phát triển bóng ném và đặc điểm huấn luyện môn bóng ném
1.1.1. Xu thế phát triển môn bóng ném
Bóng ném là môn thể thao được phát triển mạnh mẽ và rộng khắp trên
thế giới. Ngày nay, đã có đến 120 quốc gia trên thế giới tham gia tập luyện và
thi đấu bóng ném. Ở Châu Á và Châu Âu, môn thể thao này đặc biệt được
quan tâm phát triển. Ở Việt Nam bóng ném được du nhập vào từ những năm
54 của thế kỷ XX [48 ], nhưng nó đã nhanh chóng trở thành môn thể thao mũi
nhọn và hiện nay là môn thể thao có thế mạnh ở khu vực, được xếp nhất, nhì
Đông Nam Á. Sự đua tranh quyết liệt trên đấu trường trong nước cũng như
quốc tế đã tạo nên một xu hướng phát triển mới cho môn bóng ném. Nhận
thức được vấn đề này, trong huấn luyện bóng ném những năm gần đây, các
nhà chuyên môn đã bắt đầu quan tâm đến một số vấn đề như:
- Sử dụng lượng vận động lớn; xu hướng này thể hiện sự khai thác tối
đa khả năng của VĐV trong quá trình tập luyện.
* Về kỹ thuật:
- Về kỹ thuật tấn công: Các VĐV thường sử dụng kỹ thuật dẫn bóng,
chuyền bóng, ném bóng, nhảy ném bóng, di chuyển vị trí, yểm hộ…
- Về kỹ thuật phòng thủ: Di chuyển, tỳ người, hoán đổi vị trí…
* Về chiến thuật:
- Chiến thuật cá nhân: Động tác giả, đột phá cá nhân, chặn, di chuyển
vị trí...
- Chiến thuật nhóm và đồng đội: Trong thi đấu bóng ném HLV, VĐV
thường sử dụng các dạng cơ bản sau: Di chuyển tự do ở trong cùng vị trí tấn
công(viết tắt theo ký hiệu là FEP). Di chuyển qua vị trí tấn công khác (FAP).
Chuyển đổi vị trí (PW). Chặn yểm hộ (S). Miếng đánh liên hoàn (liên tiếp).
Miếng đánh xoay vòng....
6
7
có sức bền. Vì vậy, tố chất đặc thù của môn bóng ném được cấu thành bởi 3
tố chất là sức mạnh - tốc độ - bền, và chúng được phát triển một cách cân đối
trong mỗi VĐV. Ngoài ra 2 tố chất mềm dẻo và khéo léo cũng rất quan trọng
trong môn bóng ném nhưng so với 3 tố chất sức mạnh - tốc độ - bền, chúng
chỉ là thứ yếu [ 12],[ 17],[ 20 ][25].
* Đặc điểm hoạt động tâm lý: Trong tập luyện bóng ném, hoạt động thể
lực gây nên những căng thẳng chức năng rất lớn cho VĐV. Ngoài yếu tố về
thể lực, trong hoạt động tập luyện và thi đấu VĐV bóng ném còn chịu sự tác
động tâm lý từ nhiều phía như: sự tác động của đối phương, HLV, trọng tài,
khán giả…những yếu tố đó thường tạo nên trạng thái tâm lý vững vàng, tinh
thần vượt khó, ý chí quyết tâm và tính độc lập cao trong quá trình tập luyện
và thi đấu [19],[ 20],[ 26],[ 27],[ 32].
1.2. Đặc điểm và vai trò thể lực trong bóng ném
1.2.1. Đặc điểm chung
Bóng ném là môn thể thao đồng đội. Đội hình chính của một đội bóng
gồm 7 người. Tất cả đều được liên kết với mục tiêu chung: Làm thế nào để
đưa bóng vào cầu môn đối phương nhiều nhất và không để bóng vào khung
thành của mình. Chính vì vậy mà các tình huống thi đấu hầu như được diễn
biến mang tính chất luân phiên ở cả hai phía cầu môn của mỗi đội.
Bóng ném thuộc nhóm môn thể thao hoạt động đối kháng. Đội bóng
này phấn đấu chiếm ưu thế trước một đội bóng khác bằng cách che giấu các ý
đồ của mình và đồng thời cố gắng phá vỡ các phương án của đối phương. Vì
vậy, khi xem xét tính chất thi đấu thể thao của các đội nhất thiết phải xuất
phát từ vị trí đối kháng của các đội. Quá trình thi đấu được xác định bằng kỹ
thuật, chiến thuật, chiến lược và thể lực.
Việc sử dụng khéo léo đôi bàn tay để bắt, chuyền, dẫn bóng và ném
bóng vào gôn đối phương tạo nên sự sinh động, đa dạng của các kỹ thuật và
làm tăng được tính hấp dẫn của môn thi đấu này.
còn phải được bổ sung thêm bởi các năng lực kỹ thuật và chiến thuật.
Huấn luyện thể lực là việc hướng tới củng cố và nâng cao khả năng làm
việc của các cơ quan chức phận, các tố chất vận động phù hợp với đòi hỏi của
môn thể thao lựa chọn.
9
Thể lực được hình thành và phát triển trên cơ sở của sự phát triển thể
lực chung. Theo I.A Kốp lép, trong công trình nghiên cứu của mình (1955) đã
chỉ rằng: "Sức bền chuyên môn của VĐV sẽ cao hơn trên cơ sở nâng cao sức
bền chung cho VĐV". Như vậy có thể nói rằng huấn luyện thể lực chung là
nền tảng, cơ sở hình thành nên các tố chất thể lực sau này.
Theo Ozlin "Việc hình thành thể lực của môn thể thao không có chu
kỳ" là tương đối khó khăn, theo ông ở đây có hai cách lựa chọn:
- Cách thứ nhất: Bằng cách lặp lại nhiều lần các hoạt động chính đặc
trưng của môn thể thao lựa chọn.
- Cách thứ hai: Sự lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của môn thể
thao nào đó.
Như vậy việc lựa chọn đúng các bài tập có ý nghĩa lớn đối với các môn
thể thao của nhóm này, khi lựa chọn và thực hiện không đúng các bài tập hình
thành và phát triển thể lực sẽ dẫn đến sai lầm chuyên môn trong các cơ quan
chức phận, điều này làm ảnh hưởng đến việc phát triển thành tích thể thao sau
này của VĐV.
Chính vì vậy các bài tập được lựa chọn làm phương tiện giáo dục thể
lực còn phải được thực hiện với cường độ nhỏ, mặt khác khối lượng thực hiện
các bài tập đó cũng phải được tăng một cách từ từ trong những điều kiện từ dễ
đến khó. Nói một cách khác chúng ta có thể hiểu rằng việc lựa chọn các bài
tập trong quá trình huấn luyện các tố chất thể lực phải là sự kết hợp giữa các
tố chất trên.
Các tố chất thể lực của con người bao gồm: sức nhanh, sức mạnh, sức
sức mạnh
* Phân loại sức mạnh: Có nhiều cách phân loại sức mạnh, nếu căn cứ
vào chế độ hoạt động của cơ thì sức mạnh chia làm hai loại: Sức mạnh động
lực và sức mạnh tĩnh lực (đẳng trương và đẳng trường). Sức mạnh động lực
lại được chia thành sức mạnh tối đa, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền [25].
Trong các loại sức mạnh trên, do tính chất vận động khác nhau nên có
thể xem cách phân chia đó là cách phân loại cơ bản của các năng lực sức
mạnh.
11
- Năng lực sức mạnh tĩnh lực: Là sức mạnh mà VĐV thực hiện được
trong các động tác tĩnh hoặc dùng sức tối đa. Trong môn bóng ném thể hiện ở
các động tác kỹ thuật xuất phát, dừng đột ngột, nhảy ném bóng, chuyền bóng,
đột phá,…
- Năng lực sức mạnh tối đa: Là sức mạnh động lực lớn nhất mà VĐV
thực hiện được khi co cơ tối đa, và nó được thể hiện rõ nét ở kỹ thuật bật cao
ném bóng trên tay chắn và tốc độ lực đi của quả ném.
- Năng lực sức mạnh tốc độ: Là khả năng khắc phục lực cản với tốc độ
cơ cao của VĐV, thể hiện rõ ở hầu hết các kỹ thuật bóng ném như: Di chuyển
tốc độ, dẫn bóng tốc độ, ném bóng, pha phản công)…
- Năng lực sức mạnh bền: Là khả năng chống lại mệt mỏi của VĐV khi
hoạt động sức mạnh kéo dài, thể hiện ở việc duy trì hiệu quả sử dụng kỹ thuật
đến cuối trận đấu [25].
Ngoài ra còn có sức mạnh bột phát: Là năng lực biểu hiện trị số sức
mạnh lớn nhất trong khoảng thời gian ngắn nhất. Đây là một dạng quan trọng
của sức mạnh, thể hiện ở các pha bật nhảy của các kỹ thuật nhảy ném bóng
[17],[25].
Trong môn bóng ném các năng lực sức mạnh này đều rất quan trọng.
Trong đó sức mạnh tối đa, sức mạnh tốc độ và sức mạnh bền được chú trọng
chiều dài của sợi myozin, có nghĩa là với mức độ polyme hoá myozin và tổng
hàm lượng protit co của actin ở trong cơ. Như đã nói, sự gắng sức thể hiện
trong quá trình tác động qua lại giữa sợi actin và myozin ở tơ cơ tỷ lệ thuận
với số lượng cầu nối được hình thành. Diện tích đan xen các sợi actin mỏng
và các sợi myozin dày ở giới hạn một ô cơ càng lớn thì lực co cơ tối đa càng
cao. Diện tích tiếp xúc của các tơ cơ tối đa được xác định bằng độ dài của sợi
myozin dày hoặc là độ dài của từng ô cơ. Trong cơ xương người chiều dài
trung bình của ô cơ là 1,8µ , còn chiều dài của sợi myozin khoảng 1µ .Lực co
cơ tối đa của người ở vị trí trung gian giữa cơ của nhuyễn thể và cơ biên của
côn trùng.
Chiều dài ô cơ, hay là mức độ polyme hoá myozin ở tơ cơ dày của sợi
cơ - yếu tố mang tính di truyền, sẽ không đổi trong quá trình phát triển cá thể
13
và dưới ảnh hưởng của tập luyện. Chỉ số đó khác biệt rõ ở những sợi cơ có
dạng khác nhau và chức năng khác nhau.
Hàm lượng actin ở cơ có sự tương quan tuyến tính với tổng số lượng
creatin. Cả hai chỉ số - hàm lượng actin và nồng độ creatin ở trong cơ có thể
được sử dụng để kiểm tra sự phát triển sức mạnh cơ.
Phương pháp cơ bản để phát triển tố chất sức mạnh là phương pháp gắng
sức tối đa (trọng lượng tối đa và tốc độ tối đa) và phương pháp lặp lại tối đa,
nhằm làm tăng hoạt tính ATP- aza của myozin và tăng tổ hợp protit co cơ [22].
Đặc điểm sinh hoá nổi bật của môn bóng ném là năng lực dự trữ
photphagen lớn, khai thác tối đa năng lượng creatinphotphat, CP cạn kiệt sau
vận động, lượng AL trong máu thấp [10],[12].
1.3.1.3 Các nguyên tắc cần tuân thủ khi huấn luyện sức mạnh cho VĐV
bóng ném
Nghiên cứu các tài liệu chuyên môn có liên quan đến công tác huấn
luyện sức mạnh cho VĐV bóng ném chúng tôi nhận thấy cân thiết phải tuân
lực và năng lực cá nhân của VĐV [4],[6],[12],[25].
1.3.1.4. Đặc điểm và khuynh hướng huấn luyện sức mạnh tốc độ
* Đặc điểm huấn luyện sức mạnh tốc độ.
Khi nghiên cứu về sức mạnh tốc độ có rất nhiều nhà khoa học TDTT
cho rằng: Sức mạnh là khả năng của con người sinh ra lực cơ học bằng sự nỗ
lực của cơ bắp. Nguyễn Toán (1999) cho rằng sức mạnh tốc độ là khả năng
sinh lực và khắc phục một trọng lượng nào đó với tốc độ nhanh nhất hay sức
mạnh tốc độ là khả năng sinh lực trong động tác nhanh và thời gian ngắn.
Theo quan điểm của Zaxiorski: Sức mạnh tốc độ là loại sức mạnh được
quyết định bởi gia tốc và khối lượng cố định vì lực cơ học là F=m.a
Rõ ràng sức mạnh tốc độ được cấu thành bởi tốc độ thực hiện động tác
(gia tốc) và trọng lượng của vật chịu tác động (có khối lượng m).
Theo quan điểm lý luận thì sức mạnh tốc độ là khả năng khắc phục lực
cản với tốc co cơ cao của VĐV. Sức mạnh tốc độ có thể xác định thành tích
trong các môn thể thao hoạt động không chu kỳ như: Trong các động tác (đá,
đấm) của các môn thể thao thi đấu đối kháng hoặc trong các môn bóng như:
15
Bóng ném, Bóng ném. Đối với các môn hoạt động có chu kỳ, khi thực hiện
tăng tốc của VĐV chạy cự ly ngắn, đua xe đạp…
Trong thể thao vai trò của sức mạnh tốc độ chiếm vị trí rất quan trọng,
sức mạnh tốc độ là hai yếu tố quyết định đến thành tích thi đấu của VĐV. Nó
được thể hiện rõ trong các môn thể thao như: chạy, nhảy, các môn ném đẩy.
Môn Bóng ném là môn thể thao mà hoạt động về kỹ chiến thuật khá cao nó
đòi hỏi sự phụ thuộc khi phối hợp thực hiện phải đảm bảo hai yếu tố nhanh và
mạnh, có như vậy mới tạo được kẽ hở và sự kết hợp trong tấn công đảm bảo
mang lại hiệu quả tốt trong thi đấu.
Thông thường để phát huy tốc độ cao nhất con người phải khắc phục
lực cản bên ngoài khá lớn. Trong trường hợp đó để phát huy tốc độ thì phụ
vào sự phối hợp của 2 yếu tố là sức mạnh và tốc độ.
Thực tế cho thấy đặc trưng của sức mạnh tốc độ được thể hiện ở:
- Cường độ hoạt động cao.
- Thời gian hoạt động cho mỗi lần thực hiện khoảng phần của giây tổng
thời gian thực hiện ngắn.
- Khối lượng nhỏ, số lần lặp lại ít.
- Quãng nghỉ ngẵn.
Dựa trên cơ sở lý luận và học thuyết chuyên ngành huấn luyện cho thấy
sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối khánh bên ngoài nhờ sự nỗ lực của
cơ bắp.
Cơ chế sinh lý điều hoà sức mạnh và sự phát sức mạnh tốc độ cơ sở
khoa học. Lực tối đa mà con người sản sinh ra một mặt phụ thuộc vào đặc
tính sinh cơ của động tác khả năng thu hút các nhóm cơ lớn nhất tham gia
hoạt động của từng nhóm cơ lớn nhất tham gia hoạt động của từng nhóm cơ
riêng biệt và sự phối hợp giữa chúng. Mức độ hoạt động của cơ được quy
định bởi 2 nhân tố:
- Xung động từ các nơron thần kinh vận động trong vùng trước của tuỷ
sống đến cơ.
- Phản ứng của cơ tức là do nó sinh ra để đáp ứng lại sung động thần
kinh. Nếu lực cơ phát huy khoảng 20 - 80% khả năng tối đa của nó thì cơ chế
17
điều hoà số lượng sợi cơ có ý nghĩa cơ bản điều đó có ý nghĩa nội lực kích
thích nhỏ thì chỉ có số ít sợi cơ hoạt động tích cực trong trường hợp do lực co
cơ phát huy tối đa có thể xảy ra 1 cách điều hoà thứ ba đồng bộ hoá hoạt
động, các sợi cơ ở những người hoạt động không quá 20% xung động là đồng
bộ hoá với nhau. Cùng với sự phát triển trình độ tập luyện khả năng điều hoà
đồng bộ cũng tăng lên rất nhiều.
Như vậy phát triển sức mạnh tốc độ là yếu tố không thể thiếu được đối