ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ NHƯ HOA
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA - NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60 14 01 14
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Kiều Oanh
i
HÀ NỘI - 2016
ii
i
LỜI CẢM ƠN
Với lòng biết ơn trân thành và tình cảm quý mến sâu sắc, tác giả luận văn xin
gửi lời cám ơn đến Ban giám hiệu, phòng Đào tạo và các thầy cô giáo trường Đại học
giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn này.
2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................................3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.....................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................................4
6. Câu hỏi nghiên cứu..............................................................................................4
7. Giả thuyết khoa học.............................................................................................4
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài..............................................................4
9. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................5
10. Cấu trúc của luận văn.........................................................................................5
CHƯƠNG 1..............................................................................................................6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ........................................................................................6
1.2. Một số khái niệm cơ bản...................................................................................8
1.3. Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TCCN đáp ứng yêu cầu
năng lực ngoại ngữ...........................................................................................................20
1.4. Vai trò của nhà trường TCCN trong quản lý hoạt động dạy tiếng Anh đáp ứng
yêu cầu năng lực ngoại ngữ..............................................................................................27
Tiểu kết chương 1..................................................................................................29
CHƯƠNG 2............................................................................................................30
ii
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH...........................30
TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH..............................30
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ..........................................................30
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và giáo dục TCCN tỉnh Nam Định................................30
2.2. Giới thiệu một vài nét về trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định....31
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ
cho học sinh......................................................................................................................33
CBQL
CNTT
CSVC
CTGD
GD ĐT
GV
GVCN
HS
KHGD
NĐ
NLNN
NNQG 2020
PPCT
PPDH
PPGD
PTDH
QLGD
SKKN
TBDH
TCM
TCCN
TTCM
UBND
: Ban giám hiệu
: Bộ Giáo dục và Đào tạo
: Cán bộ quản lý
: Công nghệ thông tin
: Cơ sở vật chất
: Chương trình giảng dạy
2. Mục đích nghiên cứu............................................................................................3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu...........................................................................................3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu.....................................................................3
5. Phạm vi nghiên cứu.............................................................................................4
6. Câu hỏi nghiên cứu..............................................................................................4
7. Giả thuyết khoa học.............................................................................................4
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài..............................................................4
9. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................5
10. Cấu trúc của luận văn.........................................................................................5
CHƯƠNG 1..............................................................................................................6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ........................................................................................6
1.2. Một số khái niệm cơ bản...................................................................................8
1.3. Quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh tại các trường TCCN đáp ứng yêu cầu
năng lực ngoại ngữ...........................................................................................................20
1.4. Vai trò của nhà trường TCCN trong quản lý hoạt động dạy tiếng Anh đáp ứng
yêu cầu năng lực ngoại ngữ..............................................................................................27
Tiểu kết chương 1..................................................................................................29
CHƯƠNG 2............................................................................................................30
vi
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH...........................30
TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP VĂN HÓA NGHỆ THUẬT NAM ĐỊNH..............................30
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ..........................................................30
2.1. Đặc điểm kinh tế xã hội và giáo dục TCCN tỉnh Nam Định................................30
2.2. Giới thiệu một vài nét về trường Trung cấp Văn hóa Nghệ thuật Nam Định....31
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học tiếng Anh đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ
cho học sinh......................................................................................................................33
bền vững cho tương lai.
Ngày nay, tiếng Anh không chỉ là công cụ để giao tiếp mà còn giúp con người
mở mang kiến thức, thiết lập và duy trì các mối quan hệ kinh tế - xã hội. Trên thế giới
tiếng Anh trở thành ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất, tại Việt Nam tiếng Anh đang
trong lộ trình được công nhận là ngôn ngữ thứ 2 sau tiếng Việt (theo 9 nhiệm vụ năm
học 2016 -– 2017 của Bộ GD-ĐT). Năm 2012, Việt Nam xếp hạng 31/54 quốc gia, thì
sang năm 2013 nước ta vươn lên thứ 28/60 quốc gia và vùng lãnh thổ về khả năng sử
dụng tiếng Anh, vượt trên cả Pháp, Ý, Trung Quốc, Thái Lan…
Hệ thống giáo dục Việt Nam đã có những đổi mới kịp thời đối với hoạt động
dạy tiếng Anh trong nhà trường, khi nhận ra tiếng Anh vừa là điều kiện, vừa là phương
tiện cần thiết đối với mọi tầng lớp xã hội và thành phần kinh tế. Trong nhà trường phổ
thông, tiếng Anh là một trong những môn học bắt buộc và là môn thi tốt nghiệp bên
cạnh hai môn học chính truyền thống là Toán và Ngữ Văn. Trong hệ thống các trường
cao đẳng, đại học, đa số các trường đã chọn tiếng Anh là môn ngoại ngữ được giảng
dạy trong trường. Tuy nhiên, sau nhiều năm học tiếng Anh, khả năng sử dụng tiếng
Anh của học sinh, sinh viên vẫn chưa đáp ứng được mục tiêu đề ra. Nhiều học sinh sau
10 năm thậm chí 15 năm học tiếng Anh trong trường phổ thông và đại học vẫn không
có đủ trình độ ngoại ngữ để giao tiếp và làm việc. Trong kỳ thi THPT quốc gia, môn
ngoại ngữ có điểm trung bình thấp nhất là 3,48. Thậm chí, ở nhiều cụm thi, có đến 2/3
thí sinh bỏ trống phần tự luận ở bài thi tiếng Anh (được 0 điểm).Trước thực trạng về
hoạt động dạy học tiếng Anh và năng lực sử dụng ngoại ngữ của người học, Bộ Giáo
dục và Đào tạo đã có quyết định quan trọng và cấp thiết. Đề án “Dạy và học ngoại
ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020" gọi tắt là đề án ngoại
ngữ quốc gia 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2008 và thông tư số
01/2014/TT-BGDĐT ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt
Nam, đã chỉ ra rõ mục tiêu của hoạt động dạy học tiếng Anh trong giai đoạn 2008 –
2020. Đó là: “đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ
đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử
1
cơ hội và nhu cầu sử dụng tiếng Anh. Họ cũng chưa đánh giá được tiếng Anh là chìa
khóa, là cơ hội để nâng tầm hiểu biết đặc biệt trong bối cảnh hội nhập ngày nay. Thêm
vào đó, tiếng Anh thuộc hệ thống các môn Chung không phải là một chuyên ngành
đào tạo trong nhà trường. Điều này cũng khiến cho các nhà quản lý giáo dục của nhà
trường chưa đánh giá đúng tầm quan trọng và chưa có sự quan tâm ở mức độ cần thiết
đối với môn học. Thêm nữa, hiện nay nhà trường đang gặp khó khăn trong việc tuyển
sinh nên năng lực sử dụng ngoại ngữ đầu vào của học sinh nhìn chung còn thấp. Từ
những lý do trên, hoạt động dạy học tiếng Anh đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ
2
cho học sinh tại nhà trường có phần đối phó, hời hợt, mang tính hình thức. Việc giảng
dạy của giáo viên và học tập của học sinh về môn tiếng Anh hầu như không có sự thay
đổi. Các hình thức, kiểm tra đánh giá vẫn duy trì theo phương thức cũ như kiểm tra
giấy, thi tự luận và trắc nghiệm vào cuối kỳ. Giáo viên vẫn dạy nặng về ngữ pháp, từ
vựng, bài tập mà chưa chú trọng phát triển 4 kỹ năng cho học sinh. Trong quá trình
công tác, GV chưa tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng liên quan đến việc dạy tiếng
Anh trong trường TCCN. Vì không có được sự hướng dẫn cụ thể, nên cả giáo viên,
người học, đặc biệt là người quản lý trong trường đều không nhận thức đầy đủ về ý
nghĩa cũng như nội dung của đổi mới hoạt động dạy và học tiếng Anh. Tâm lý ngại
thay đổi bao trùm lên quan điểm quản lý của nhà trường.
Xuất phát từ những yêu cầu về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là cán
bộ quản lí bộ môn tôi băn khoăn về các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học tiếng
Anh để đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ cho học sinh trong trường TC VHNT NĐ
hiện nay và các trường Trung cấp chuyên nghiệp (TCCN) trong cả nước.
Để đi tìm lời giải đáp cho những vấn đề trên, tôi xin chọn đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề :
“Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường Trung cấp Văn hóa
Nghệ thuật Nam Định đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ”.
2. Mục đích nghiên cứu
quốc gia, từ năm 2011 đến năm 2015 tại trường TC VHNT NĐ.
6. Câu hỏi nghiên cứu
- Học sinh sau khi tốt nghiệp TCCN ở tỉnh Nam Định có năng lực sử dụng
ngoại ngữ ở mức độ nào so với yêu cầu NLNN tại đề án NNQG 2020? Thực trạng
quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh hiện nay cho học sinh tại trường TC VHNT
NĐ được đánh giá như thế nào? Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng
Anh của trường đã tập trung giúp người học đạt được yêu cầu về năng lực ngoại ngữ
hay chưa? Cần phải sử dụng các biện pháp nào để quản lý hoạt động dạy học môn
tiếng Anh tại trường TC VHNT NĐ đáp ứng theo yêu cầu năng lực ngoại ngữ cho học
sinh trong giai đoạn hiện nay.
7. Giả thuyết khoa học
- Năng lực sử dụng ngoại ngữ (tiếng Anh) của học sinh tại trường TC VHNT
NĐ hiện nay còn yếu, các biện pháp quản lý của nhà trường chưa phù; nếu các biện
pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại trường TC VHNT NĐ được nghiên
cứu và đề xuất trong luận văn này được áp dụng một cách đồng bộ, khoa học sẽ góp
phần nâng cao năng lực sử dụng ngọai ngữ cho học sinh TCCN của nhà trường. Ngoài
ra có thể nhân rộng việc áp dụng các biện pháp quản lý này đối với hoạt động dạy học
môn tiếng Anh tại các trường TCCN khác.
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận
Tổng kết lý luận về hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng
Anh theo yêu cầu năng lực ngoại ngữ cho học sinh tại trường TC VHNT NĐ, chỉ ra
những thành công và hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số biện pháp
quản lý phù hợp cho hoạt động này.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho quản lý hoạt động dạy học môn
tiếng Anh đáp ứng yêu cầu năng lực ngoại ngữ cho học sinh tại các trường TCCN
trong tỉnh và cả nước. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng có giá trị tham khảo cho các
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Quốc tế
Hàng ngàn năm trước Công nguyên, khái niệm quản lý đã xuất hiện, nhưng lúc
đó quản lý mang tư cách như một thứ triết học. Nói cách khác quản lý chưa được tách
ra thành một khoa học độc lập.
- Ngay từ thời xa xưa đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lý. Đặc biệt
ở hai nước Trung Hoa và Ấn Độ cổ đại đã xuất hiện những nhà triết học có tư tưởng
quản lý lỗi lạc như Khổng tử (551 – 479 tr.CN), Mạnh Tử (372 – 289 tr.CN), Hàn Phi
Tử (280 – 233 tr.CN)
+ Khổng Tử là nhà giáo dục với tư tưởng chính là Nho giáo. Ông có những
quan điểm chính như sau về quản lý: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần đến xa, từ đơn giản
đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, đòi hỏi học trò phải
luyện tập, phải hình thành về nề nếp thói quen học tập” hay “Học không biết chán, dạy
không biết mỏi”.
+ Trong các thuyết về quản lý thời Phương Đông cổ đại, Khổng Tử, Mạnh Tử,
Tôn Tử và một số triết gia khác chủ trương dùng “Đức trị” để cai trị dân, trong khi
Hàn Phi Tử và những người khác lại dùng “Pháp trị” để cai trị và quản lý xã hội.
- Ở Phương Tây, những khái niệm như kiểm tra và trách nhiệm đã xuất hiện
vào khoảng năm 1750 tr.CN thời Hy Lạp cổ đại.
+ Nhà triết học Xôcrat (Thế kỷ IV – III tr.CN) quan niệm rằng: “Những người
nào biết cách vận dụng con người sẽ điều khiển công việc hoặc cá nhân hay tập thể
một cách sáng suốt, trong khi những người khác không biết làm như vậy sẽ mắc sai
lầm trong việc tiến hành cả hai công việc này”.
+ Nhà triết học Platon (427 – 347 tr.CN) lại cho rằng: “Muốn trị nước thì phải biết
đoàn kết dân lại, phải vì dân. Người đứng đầu phải ham chuộng hiểu biết; thành thật; tự
chủ; biết điều độ, ít tham vọng về vật chất và đặc biệt là phải được đào tạo kỹ lưỡng.
cho rằng: “Làm thầy giáo giỏi của một đời để đạt tới làm thầy giáo của muôn đời”.
+ Nguyễn Trãi (1380 – 1442) – một danh nhân văn hóa lớn của đất nước đã
đánh giá về quản lý như sau: “Lo trước điều thiên hạ phải lo, vui sau cái vui của thiên
hạ. Ông đã khuyên vua phải “chăn nuôi” nhân dân thì mới giữ được nước, xây dựng
được đất nước
Gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà
khoa học, các giảng viên đại học, các cán bộ viện nghiên cứu được công bố trong các
giáo trình, sách tham khảo, tài liệu nghiên cứu. Có thể kể ra đây một số tác giả tiêu
biểu: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Đức Chính, Đặng Xuân Hải, Đặng Quốc Bảo, Hà
Thế Ngữ, Đặng Bá Lãm, Trần Quốc Thành, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Cảnh Toàn…
Các công trình nghiên cứu đáng kể tên như: “Đại cương khoa học quản lý” của tác giả
Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc; “Một số góc nhìn về phát triển và quản lý
giáo dục” của tác giả Đặng Quốc Bảo; “Quản lý giáo dục – một số vấn đề lý luận và
thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Những công trình này đã nêu lên một số
vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý và QLGD ở Việt Nam,
Đối với quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh cũng có nhiều nhà khoa học
tiến hành các công trình nghiên cứu về hoạt động quản lý giảng dạy tiếng Anh như
7
tuyển tập các bài báo khoa học “Những vấn đề cơ bản về dạy ngoại ngữ, 1995 – 2005,
NXB ĐHQG Hà Nội; “Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông
– môn tiếng Anh” của nhóm tác giả Nguyễn Hải Châu, Hoàng Thị Xuân Hoa, Vũ Thị
Lợi, Đõ Tuấn Minh; hay “Đổi mới phương pháp dạy tiếng Anh ở trung học phổ thông
Việt Nam” của nhóm tác giả Hoàng Văn Vân, Nguyễn Thị Chi, Hoàng Thị Xuân Hoa.
Đồng thời cũng có nhiều đề tài luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục về các biện
pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh. Liên quan trực tiếp đến đề tài tác giả
đang nghiên cứu có một số công trình sau đây: Phạm Hồng Mai – “Biện pháp quản lý
hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông Thủy Sơn thành
phố Hải Phòng, Luận văn quản lý giáo dục, 2010; Trần Thị Hằng – “Quản lý hoạt
đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát
sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất... Một người độc tấu vĩ cầm tự mình
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [17, tr 108].
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”, H.Knootnz cũng nhận đinh
rằng: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của các
cá nhân nhằm đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục đích của mọi nhà quản lý là
nhằm hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của
mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [23,tr 33].
Hay Federics Taylor, cha đẻ của thuyết quản lý khoa học, cũng nhấn mạnh
rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu
được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [10, tr 28].
Nhà khoa học FF Annapu đã đưa ra khái niệm về quản lý của mình như sau:
“Quản lý là một hệ thống xã hội chủ nghĩa, là một khoa học và là một nghệ thuật tác
động vào hệ thống xã hội, chủ yếu là quản lý con người nhằm đạt được những mục
tiêu xác định. Hệ thống đó vừa động, vừa ổn định bao bồm nhiều thành phần có tác
động qua lại lẫn nhau” [19, tr 75].
Tại Việt Nam, cũng có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Theo từ điển
Tiếng Việt thông dụng: “Quản lý là tổ chức điều khiển các hoạt động theo những yêu
cầu nhất định” [31, tr 396].
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế
hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể
quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [29, tr 35].
Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã đề cập về khái
niệm quản lý như sau: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của
chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ
chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [10, tr 9].
Mặc dù được trình bày dựa trên những cách tiếp cận khác nhau, nhưng bản chất
chung của quá trình quản lý bao gồm các điểm sau:
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội.
Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận
Trong cuốn sách “Đại cương khoa học quản lý” của hai tác giả Nguyễn Quốc
Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý có bốn chức năng là: Kế hoạch hóa (planning);
Tổ chức (organizing); Lãnh đạo/chỉ đạo (leading); Kiểm tra (controlling).
- Kế hoạch hóa: Là nền tảng của quản lý, bởi đó là việc xây dựng các định
hướng, đưa ra quyết định tổ chức thực hiện trong thời gian nhất định của tổ chức. Kế
hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ
chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Kế
10
hoạch hóa có 3 nội dung chủ yếu: xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) với
tổ chức; xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực
của tổ chức để đạt được mục tiêu này và; quyết định xem những hoạt động nào là cần
thiết để đạt được các mục tiêu đó. Như vậy thực chất của kế hoạch hóa là đưa toàn bộ
hoạt động thành các kế hoạch với mục đích, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn
định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
- Tổ chức: quá trình hình thành nên cấu trúc, các quan hệ giữa các thành viên,
giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm thực hiện thành công các kế hoạch và đạt
được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây
dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. Quá trình này sẽ tổ
chức sắp xếp, liên kết giữa các yếu tố công việc – con người – bộ máy sao cho phù
hợp ăn khớp với nhau trong cả nội bộ từng yếu tố, nhằm lựa chọn phương án cụ thể,
các phương tiện vật chất hợp lý. Yếu tố trung tâm của tổ chức là con người. Sắp xếp
con người phải phù hợp với công việc. Tổ chức bộ máy phải lệ thuộc vào quy mô, tính
chất của các mối quan hệ giữa người và việc. Toàn bộ hoạt động của bộ máy cuối cùng
phải đạt hiệu quả cao và vì lợi ích của con người.
- Lãnh đạo/chỉ đạo: bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên
họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hoạt động
lãnh đạo thực chất là làm việc với con người, cá nhân và tập thể; là xây dựng mối quan
hệ trong tổ chức; là khích lệ động viên, tạo dựng bầu không khí tâm lý tích cực trong
Sơ đồ 1.2: Quan hệ của các chức năng trong quản lý
Với cách hiểu trên, dễ dàng nhận thấy rằng quản lý bao giờ cũng tồn tại với tư
cách là một hệ thống và có liên quan tới nhiều yếu tố. Vì vậy quản lý không chỉ là một
khoa học mà còn là một nghệ thuật. Hoạt động quản lý vừa có tính khách quan, vừa có
tính chủ quan, vừa có tính pháp luật nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi. Chúng
chính là những mặt đối lập nhau trong một thể thống nhất.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là truyền bá và lĩnh hội
kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người, có kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo tinh hoa
nhân loại và văn hóa dân tộc. Đây chính là quá trình tác động của xã hội của nhà giáo đến
đối tượng giáo dục để hình thành cho người học những phẩm chất nhân cách.
Giáo dục và quản lý giáo dục tồn tại song hành. Để đạt được mục đích của giáo
dục, quản lý được coi là nhân tố tổ chức chỉ đạo việc thực thi cơ chế, mục đích cũng
như các vấn đề giáo dục. Quản lý giáo dục ra đời khi hoạt động giáo dục xuất hiện
những tổ chức của nó. Sự đúc kết thực tiễn điều hành công tác giáo dục và đào tạo tại
nhà trường và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân trên cơ sở giáo dục học, điều
khiển học, lý luận quản lý kinh tế - xã hội và một số khoa học khác hình thành nên lý
luận quản lý giáo dục.
Trong Việt ngữ, quản lý giáo dục được thực hiện đầy đủ các chức năng kế
hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra trên toàn bộ các hoạt động giáo dục và tất nhiên
cả những cấu phần tài chính và vật chất của các hoạt động đó nữa.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường hay nói rộng ra quản lý giáo
dục là quản lý hoạt động dạy và học nhằm đưa nhà trường từ trạng thái này sang trạng
thái khác và dần đạt tới mục tiêu giáo dục đã xác định”. [20, tr. 61]
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại cho rằng: “Quản lý giáo dục là hệ thống những
tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ
vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất
của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học –
12
đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý.
- Tiếp tục hoàn chỉnh hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hiện đại hóa,
dân chủ hóa, xã hội hóa với các trọng tâm, trọng điểm và có bước phát triển thích hợp
trong từng giai đoạn phát triển của kinh tế xã hội.
- Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh
cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, chú trọng quản
lý chất lượng giáo dục. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng và giám
sát các hoạt động giáo dục.
13
- Xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý đủ về số lượng đáp ứng yêu cầu
về chất lượng.
- Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp
giáo dục.
1.2.3. Quản lý nhà trường
1.2.3.1. Nhà trường
Nhà trường của hệ thống giáo dục quốc dân gắn với cấp học, bậc học và các
loại hình giáo dục. Nếu phân chia theo chủ sở hữu, ta có trường công lập, trường dân
lập và các trường của các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội. Nếu phân chia theo tính
chất nhà trường, ta có trường truyền thống, trường chuyên biệt. Nhà trường nếu gắn
với cấp học bậc học, ta có nhóm trẻ, mẫu giáo, trưởng tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông, trường nghề, cao đẳng, đại học. Đồng thời, giáo dục không chính quy
có trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm hướng
nghiệp dạy nghề
Theo luật giáo dục Việt Nam năm 2005: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục
quốc dân thuộc loại hình được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của nhà nước nhằm
phát triển sự nghiệp giáo dục”. [30, tr. 15]
Nhà trường là cơ sở chuyên trách hoạt động giáo dục, trực tiếp là công tác giáo
dục - đào tạo thế hệ trẻ, có nội dung chương trình, có phương tiện, phương pháp dạy
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác
động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp) của chủ thể
quản lý đến tập thể cán bộ, giáo viên và học sinh nhằm tận dụng nguồn lực dự trữ do
nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có,
hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, và tiêu điểm hội tụ là đào tạo
thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến
lên một trạng thái mới. [29, tr. 43]
Trong thực tế, nói đến quản lý nhà trường là nói đến quản lý quá trình dạy học,
trong đó nhà quản lý, đặc biệt là hiệu trưởng phải có những nhận thức tốt về những
vấn đề cơ bản của quá trình dạy học ở nhà trường và triển khai tốt các chức năng quản
lí lên hoạt động dạy học của nhà trường.
Thực tế chỉ ra rằng có những vấn đề các hiệu trưởng phải đối mặt và thường
gặp khó khăn sau:
- Vấn đề kiểm tra, theo dõi nắm tình hình soạn giảng, kiểm tra hồ sơ duyệt giáo
án; việc thực hiện chương trình, đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên qua kiểm tra
việc học của học sinh; việc bồi dưỡng năng lực chuyên môn nói chung và kỹ thuật
soạn bài theo tinh thần đổi mới PPDH.
- Việc xây dựng tiêu chuẩn giờ học, giờ dạy để kiểm tra đánh giá và từng bước
nâng cao chất lượng giờ lên lớp; chỉ đạo chặt chẽ tổ chuyên môn sinh hoạt có nề nếp,
đảm bảo có chất lượng và hiệu quả. Vấn đề tổ chức các hoạt động thao giảng, dự giờ
thăm lớp, rút kinh nghiệm ở tổ chuyên môn sao cho có hiệu quả.
- Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, đặc biệt vấn đề bồi dưỡng theo chuẩn
nghề nghiệp đã được Bộ GD&ĐT ban hành.
- Vấn đề quản lí và phát huy tác dụng trang thiết bị dạy học và tổ chức cho giáo
viên ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.
- Việc chỉ đạo đổi mới PPDH thực hiện chưa tốt, hiệu quả còn hạn chế.
- …v.v..
* Các nội dung cơ bản của quản lý một nhà trường
15