B GIO DC V O TO
TRNG I HC S PHM H NI
--------
TRN TH NGON
THIếT Kế BàI DạY THEO PHƯƠNG PHáP TRảI NGHIệM
TRONG DạY HọC PHầN CÔNG DÂN VớI ĐạO ĐứC
ở TRƯờNG THPT HồNG ĐứC, Hà NộI
Chuyờn ngnh: LL&PP ging dy Giỏo dc chớnh tr
Mó s: 60.14.01.11
LUN VN THC S KHOA HC GIO DC
Ngi hng dn khoa hc: PGS.TS. Phan Trng Ng
H NI 2015
LI CM N
Lời đầu tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn trân trọng và sâu sắc nhất tới
PGS.TS. Phan Trọng Ngọ – Người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo cho
tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Tác giả trân trọng cảm ơn ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà
Nội, ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục chính trị, các thầy cô giáo bộ môn đã
tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức, hướng dẫn khoa học, đóng góp ý
kiến quý báu và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tại trường cũng như
quá trình thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã cổ vũ,
động viên nhiệt tình và tạo điều kiện giúp đỡ mọi mặt để tác giả hoàn thành
tốt chương trình học tập và nghiên cứu đề tài khoa học này.
Biểu đồ biểu diễn mức độ nhận thức sau thực nghiệm
của 2 lớp TN và ĐC
5
MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài:
Sự nghiệp đổi mới của đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh quốc tế
hóa, toàn cầu hóa với những đặc trưng bởi xã hội tri thức đã và đang đặt ra
những yêu cầu mới đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân
lực hiện nay. Để đáp ứng được những yêu cầu đó đòi hỏi các cấp học, các ngành
học phải đổi mới về nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học.... Trong đó
nhấn mạnh đến đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực,
chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm. Việc tổ chức các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học là một phương pháp hiện đại giúp
định hướng và phát huy tối đa năng lực người học.
Trong nhà trường phổ thông, GDCD là môn học có tầm quan trọng đặc
biệt trong việc giáo dục nhân cách, rèn luyện kỹ năng sống, nuôi dưỡng và
phát triển cảm xúc, hình thành thái độ và hành vi tốt đẹp, trong sáng của HS.
Để thực hiện nhiệm vụ đó, cùng với việc đổi mới nội dung, phương pháp
trong quá trình giảng dạy cho phù hợp, thì việc thiết kế bài dạy vừa đảm bảo
nội dung, mục tiêu bài học vừa tạo hứng thú cho HS trải nghiệm sáng tạo là
vô cùng quan trọng đối với mỗi người GV.
Môn GDCD không phải chỉ dạy để HS thuộc những lý thuyết về luân
lý, đạo đức, pháp luật và hình thành những thói quen trong sinh hoạt, ứng xử,
giao tiếp…. Môn học này phải được dạy để HS “học qua làm” và “tiến bộ qua
và vận dụng vào các tình huống khác nhau. Mà thông qua việc kết hợp nhiều
cảm giác trong quá trình chia sẻ kinh nghiệm, tất cả người học đều được mở
rộng hiểu biết của mình” [24].
Lev Vygotsky (1896 - 1934), nhà tâm lý học người Nga, đã viết một số
bài báo và một số sách về tâm lý học. Một trong số các nghiên cứu của
7
Vygotsky về việc trẻ em giải quyết những vấn đề chúng gặp phải vượt lên
trên mức độ phát triển của chúng như thế nào đã đưa ông đến chỗ sáng tạo ra
lý thuyết về “Vùng phát triển gần” (the Zone of Proximal Development) hay
còn được gọi là “Vùng cận phát triển”. “Vùng cận phát triển” chính là khái
niệm chỉ khu vực kinh nghiệm của cá nhân nằm giữa trình độ phát triển tiềm
tàng (ở dạng tiềm năng) được đặc trưng bằng năng lực giải quyết vấn đề có sự
hỗ trợ từ bên ngoài và trình độ phát triển hiện tại có đặc trưng là năng lực giải
quyết vấn đề độc lập [29]. Nội dung của vùng cận phát triển chính là những
giá trị và kinh nghiệm thường trực ở cá nhân. Mỗi cá nhân do trải nghiệm,
học tập và tố chất di truyền đều có kinh nghiệm nền tảng khác nhau, nó quy
định ở mức tương đối cho tiềm năng của cá nhân. Khi tương tác với môi
trường: khi giao tiếp, học tập, làm việc,..., tiềm năng đó vốn từ kinh nghiệm
nền tảng được huy động ra, thể hiện rõ và được định hướng vào nhiệm vụ một
cách tập trung, coi như đó là kinh nghiệm thường trực lúc đó. Nhờ sự tương
tác, kinh nghiệm thường trực ở cá nhân được chia sẻ, được thử thách, được
cải thiện, dẫn cá nhân đến chỗ đạt được trình độ phát triển mới cao hơn, được
đặc trưng bằng năng lực giải quyết vấn đề độc lập. Trình độ này lại trở thành
kinh nghiệm nền tảng trong hiện tại, điều chỉnh và làm giàu kinh nghiệm nền
tảng trước kia, làm cơ sở xuất phát cao hơn cho chu kỳ phát triển tiếp sau.
Năm 1938, John Dewey (1859 - 1952), nhà triết học Hoa Kỳ trong thế
kỷ XX, đã tìm kiếm một khái niệm dân chủ trong các lĩnh vực của cuộc sống,
trong đó có giáo dục. Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến giáo dục
thân quá trình sống của các em chứ không phải là sự chuẩn bị cho một cuộc
sống tương lai mơ hồ nào đấy. Nhà trường và GV phải tạo ra một môi
trường học tập và vui chơi mà trong đó người học tự tìm tòi và xây dựng
kiến thức thông qua “kinh nghiệm” và “tư duy”, thông qua “trải nghiệm”
của chính bản thân [32, tr 34-67].
9
Thuyết giáo dục trải nghiệm của Jonh Dewey sau này được các nhà
giáo dục học, các nhà nghiên cứu lấy làm tiền đề, làm điểm tựa, coi như gốc
rễ quan trọng khi nghiên cứu về giáo dục trải nghiệm.
Năm 1946, Zadek Kurt Lewin (1890 - 1947), người sáng lập của tâm lý
học xã hội Mỹ, được biết đến với công việc nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi
tổ chức, động lực nhóm và sự phát triển phương pháp luận của nghiên cứu
hành động. Mối quan tâm chính của Lewin là sự kết hợp giữa lý thuyết và
thực hành. Qua nghiên cứu, Lewin cho ta thấy việc học tập đạt hiệu quả tối đa
khi có một sự xung đột căng thẳng biện chứng giữa kinh nghiệm cá nhân với
việc phân tích giải quyết nhiệm vụ học tập.Theo ông, cuộc xung đột này có
vai trò rất quan trọng làm thay đổi và giúp con người tiến bộ hơn. Công trình
nghiên cứu có liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm của Lewin là “Tnhóm và phương pháp phòng thí nghiệm”. Lewin đã khẳng định kinh nghiệm
chủ quan của cá nhân là một thành phần quan trọng của học tập dựa vào trải
nghiệm. Ông đã phát triển chu kỳ học tập như “một quá trình liên tục của
hành động và đánh giá hệ quả của hành động đó [45].Trong công trình nghiên
cứu của mình, Kurt Lewin đã đưa ra mô hình học tập dựa vào trải nghiệm.
Mô hình 1: Mô hình học tập dựa Chú thích mô hình:
vào trải nghiệm của Kurt Lewin 1. Reflect - Suy nghĩ về tình
huống
2. Plan - Lập kế hoạch giải quyết
tình huống
3. Act - Tiến hành kế hoạch
định các giai đoạn trong học tập dựa vào trải nghiệm. Đối với Kolb, “Học tập
là quá trình mà trong đó kiến thức được tạo ra thông qua việc chuyển đổi kinh
nghiệm”[44]. Các kinh nghiệm học tập liên quan đến việc áp dụng các thông
11
tin nhận được từ giáo dục đến kinh nghiệm của người học. Các HS không tiếp
thu kiến thức của mình chỉ từ các GV, mà thay vào đó, người học thông qua
quá trình trải nghiệm dựa trên các kinh nghiệm hiện có của bản thân để thu
nhận thông tin mới trong môi trường học tập thực tiễn và kiểm tra nó lại bằng
kinh nghiệm của mình. Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb bao
gồm bốn giai đoạn trong một vòng tròn khép kín [44].
Kinh nghiệm cụ thể
Thử nghiệm trong tình huống mới
Quan sát, đối chiếu và phản hồi
Hình thành khái niệm trừu tượng
Mô hình 2: Mô hình học tập dựa vào trải nghiệm của Kolb
Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập dựa vào trải nghiệm trên,
David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu có
liên quan đến học tập dựa vào trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác
nhau như: kinh tế, giáo dục, văn hóa,... Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có
thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:
- Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập dựa vào
trải nghiệm trong giáo dục đại học (Learning Styles and Learning Spaces:
Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY,
Kolb, DA. Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về không gian học tập như là
cứu từ rất sớm nhưng ở Việt Nam, việc tiếp cận nghiên cứu về học tập dựa
13
vào trải nghiệm còn nhiều hạn chế: có ít công trình, tài liệu nghiên cứu và vận
dụng. Có thể kể đến một số chương trình, dự án tiêu biểu sau :
- Năm 2006, học tập dựa vào trải nghiệm được đề cập ở Việt Nam
trong tài liệu “Học mà chơi - Chơi mà học: Hướng dẫn các hoạt động giáo
dục môi trường trải nghiệm” do Dự án giáo dục môi trường Hà Nội và Trung
tâm Con người và Thiên nhiên biên soạn. Chương trình Dự án này được triển
khai tại 12 trường tiểu học và 11 trường trung học cơ sở tại Hà Nội. Nội dung
tài liệu dự án giới thiệu tóm tắt khái niệm liên quan đến giáo dục môi trường
nói chung và học tập dựa vào trải nghiệm nói riêng, giới thiệu một số hoạt
động trò chơi thực hành nhằm giáo dục môi trường cho HS tiểu học và trung
học cơ sở [14].
- Năm 2011, lần đầu tiên môn học “Giáo dục trải nghiệm” được
giảng dạy cho sinh viên thuộc chương trình đào tạo Cử nhân khoa học
ngành Quản lý, liên kết giữa khoa Quốc tế - Đại học Quốc gia Hà Nội với
Đại học Keuka, Mỹ. Nội dung và mục tiêu của môn học là nhằm giúp sinh
viên gần gũi hơn với cuộc sống, với xã hội và có thêm được những trải
nghiệm thực tế, những điều mà các em có thể chưa nắm bắt được khi học
qua sách vở tại trường đại học.
Bên cạnh đó, cũng có nhiều trường học, đa số là các trường tiểu học,
trường dạy nghề cũng đã áp dụng giáo dục trải nghiệm trong quá trình giảng
dạy cho HS.
Đối với môn GDCD là môn học trực tiếp giáo dục tư tưởng chính trị,
đạo đức, phong cách, chuẩn mực cho người lao động mới, đồng thời trang bị
những kiến thức lý luận một cách có hệ thống của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, bồi dưỡng năng lực và phương pháp khoa học trong hoạt
động thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể.
5.2.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận
15
Tra cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài, phân tích, tổng hợp, khái
quát và hệ thống hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và nội
dung của đề tài.
5.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra, quan sát, phỏng vấn GV.
5.2.3.Phương pháp thiết kế
phương pháp sử dụng kĩ thuật thu thập thông tin, xây dựng các mô
hình, thiết kế bài dạy.
5.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tổ chức dạy một số bài phần “ Công dân với đạo đức” có sự vận dụng
phương pháp trải nghiệm.
6. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả:
- Hệ thống hóa lý thuyết về dạy học trải nghiệm, các phương pháp dạy học
trải nghiệm, lý thuyết về thiết kế bài giảng theo phương pháp dạy học trải nghiệm.
- Thiết kế một số bài dạy cho phần “Công dân với đạo đức” trong
chương trình GDCD lớp 10 THPT theo phương pháp dạy học trải nghiệm
phục vụ cho GV bộ môn GDCD trong quá trình dạy học.
- Phác thảo quy trình thiết kế bài dạy, quy trình lên lớp theo phương
pháp trải nghiệm với GV và HS trong dạy và học phần “Công dân với đạo
đức” môn GDCD ở trường THPT.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc thiết kế bài dạy theo phương pháp
trải nghiệm trong dạy học phần “Công dân với đạo đức” ở trường THPT.
Chương 2: Thết kế bài dạy theo phương pháp trải nghiệm trong dạy
nhất phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt tới mục đích
nhất định, là hoạt động được sắp xếp theo một trật tự nhất định để giải quyết
những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và trong thực tiễn [23,Tr 9].
Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con
người, giúp con người nhận thức được hiện thực khách quan, nhận thức được
thực tiễn. Tuy nhiên, hiện thực khách quan và thực tiễn được vận động theo
17
những qui luật khách quan của bản thân và chịu sự tác động hợp quy luật của
thế giới xung quanh. Do đó, là một trong những yếu tố quyết định thành công
hay thất bại trong hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới của con người.
Chính vì vậy mà trong Từ điển bách khoa, phương pháp được định nghĩa: là
cách thức, con đường, phương tiện để đạt đến mục đích nhất định, để giải
quyết những nhiệm vụ nhất định trong nhận thức và thực tiễn [27].
Phương pháp là sự đúc rút kinh nghiệm, vừa là khoa học, đồng thời là
nghệ thuật, nó đòi hỏi tính sáng tạo và mang dấu ấn của chủ thể sử dụng
phương pháp. Trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người đều cần đến
phương pháp.
Khái niệm về phương pháp dạy học
1.1.1.2.
Dạy học là một lĩnh vực hoạt động đặc trưng, bởi cả chủ thể và đối
tượng đều là con người. Hoạt động dạy học là quá trình giảng dạy của người
GV và học tập của HS– quá trình xử lý, chuyển giao thông tin, ứng dụng, phát
triển của HS. Trong quá trình đó nhất thiết phải được thực hiện thông qua các
phương pháp đặc thù gọi là phương pháp dạy học. Như vậy, bản chất của quá
trình dạy học chính là sử dụng hệ thống các phương pháp giảng dạy và học
tập nhằm thực hiện mục đích, yêu cầu đặt ra về trang bị, cung cấp và tiếp thu,
Khái niệm về phương pháp dạy học GDCD
Phương pháp dạy học GDCD là cách thức hoạt động phối hợp thống
nhất của giảng viên và sinh viên nhằm phát hiện những quy luật của quá trình
dạy học môn GDCD, xây dựng hệ thống các nguyên tắc, hình thức và phương
pháp dạy học cụ thể để tổ chức thành công hoạt động dạy học môn GDCD ở
trường Trung học [23, Tr 20].
1.1.2.
1.1.2.1.
•
Phương pháp dạy học trải nghiệm
Khái niệm về phương pháp dạy học trải nghiệm
Học tập qua kinh nghiệm
Kinh nghiệm là những hiểu biết do trông thấy, nghe thấy, do từng trải,
tiếp xúc với cuộc sống mà có hoặc là những điều coi như những kiến thức học
được bằng lí luận, đã thu nhận được trong quá trình thực sự hoạt động (cư xử,
giao thiệp, hành nghề,…) [18, tr 441]. Kinh nghiệm còn được định nghĩa là
những gì liên quan tới bản chất của sự kiện đã diễn ra mà sự kiện đó xảy ra
bởi một con người hoặc một vật nào đó. Kinh nghiệm là những gì xảy ra liên
quan đến chúng ta trong toàn bộ thời gian mà chúng ta tồn tại [38].
Kinh nghiệm được sử dụng trong thời gian quá khứ, liên quan tới
những gì đã được tích lũy (hoặc những thứ còn tồn đọng) của những kinh
19
nghiệm trước đây. Kinh nghiệm quá khứ thường ảnh hưởng tới kinh nghiệm
hiện tại và kinh nghiệm tương lai. Ý tưởng kinh nghiệm quá khứ ảnh hưởng
đến kinh nghiệm tương lai đã được John Dewey đề cập đến trong triết lý về
diễn ra hằng ngày.
•
Học tập dựa vào trải nghiệm
Trải nghiệm là quá trình cá nhân tiếp xúc trực tiếp với môi trường, với
sự vật, hiện tượng, vận dụng vốn kinh nghiệm và các giác quan để quan sát,
tương tác, cảm nhận về sự vật, hiện tượng đó. Trải nghiệm diễn ra dựa trên
vốn kinh nghiệm của cá nhân về sự vật, hiện tượng.
Học tập dựa vào trải nghiệm là hình thức học tập gắn liền với các hoạt
động có sự chuẩn bị ban đầu về kinh nghiệm và có phản hồi, trong đó đề cao
kinh nghiệm chủ quan của người học. Ngoài ra, học tập dựa vào trải nghiệm
còn được định nghĩa là “triết lý giáo dục, triết lý này nhấn mạnh vào quá trình
tác động qua lại giữa GV và HS cùng với những kinh nghiệm trực tiếp của HS
trong môi trường và nội dung học tập” [6].
Học tập dựa vào trải nghiệm còn được coi như là triết lý cũng như
phương pháp luận mà ở đó nhà sư phạm thiết lập một cách có chủ đích với
người học trong hoạt động trải nghiệm trực tiếp ở môi trường học tập và phản
ánh để làm rõ ý nghĩa của bài học, nâng cao kiến thức và phát triển kỹ năng
của người học kết hợp trên vốn kinh nghiệm hiện có của họ.
Trong luận văn này, chúng tôi hiểu học tập dựa vào trải nghiệm là
phương pháp dạy học, trong đó GV là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các
hoạt động để HS bằng vốn kinh nghiệm của cá nhân kết hợp tiếp xúc trực tiếp
với môi trường học tập, sử dụng các giác quan, tự lực chiếm lĩnh kiến thức,
hình thành kỹ năng và thái độ, hành vi.
•
Khái niệm phương pháp dạy học trải nghiệm
21
22
của HS. HS là chủ thể tích cực chiếm lĩnh tri thức bằng hoạt động học tập của
mình còn đối tượng nhận thức ở đây chính là hiện thực khách quan, được các
thế hệ trước tích lũy thành kinh nghiệm lịch sử - xã hội và được đưa ra qua
nội dung dạy học [28].
Giáo dục trải nghiệm là quá trình học tập dựa trên những kinh nghiệm.
Nó khác với phương pháp giáo dục truyền thống ở chỗ, quá trình giáo dục
theo cách truyền thống thu nhận thông tin qua việc nghiên cứu các chủ đề mà
không cần trải nghiệm thực tế. Ở giáo dục trải nghiệm, kinh nghiệm của
người học được tích lũy và phản hồi thông qua những kiến thức và hiểu biết
mới mà họ tiếp thu được từ những trải nghiệm thực tế. Điều đáng lưu ý ở đây
là giáo dục trải nghiệm không đơn thuần là thực hiện một hoạt động trong môi
trường xung quanh, mà trải nghiệm trở thành một quá trình học tập khi vận
dụng vào các tình huống khác nhau ( Richatrd Ponzio và Stanley) [24].Trong
quá trình này, GV phải tạo ra môi trường học tập thuận lợi nhất cho HS thực
hiện quá trình nhận thức của mình. Dưới sự tổ chức, hướng dẫn của GV, HS
tự mình trải nghiệm thực tế nhằm tìm ra những điều mới lạ, hình thành kĩ
năng, hành vi, tri thức khoa học bổ ích, hấp dẫn chứ không phải ghi nhớ, nhắc
lại lời GV hay những nội dung có sẵn trong sách giáo khoa hoặc làm theo
mẫu một cách máy móc.
Như vậy, bản chất của phương pháp dạy học trải nghiệm là cách dạy
học lấy hoạt động của HS làm trung tâm.Cả lớp học tự trải nghiệm một tiến
trình cụ thể. Đây là cách dạy học khai thác tối đa kinh nghiệm và kiến thức
sẵn có của HS, đồng thời tạo mọi điều kiện cho HS phát huy khả năng làm
việc tự lập, làm việc theo nhóm, tư duy sáng tạo, biết đánh giá qua sự trải
nghiệm trực tiếp của bản thân mình. Hay nói cách khác, bản chất của phương
pháp dạy học trải nghiệm là dạy học dựa trên việc học tập từ kinh nghiệm trực
23
phép HS soạn thảo chương trình học tập và thực hiện dự án của mình, thậm chí
HS được tự đánh giá kết quả học tập của mình ( David Lemper, 1996) [44].
Như vậy, dạy học bằng phương pháp trải nghiệm, GV là một chuyên
gia trong việc thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo
nhóm để HS trải nghiệm tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các
mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo chương trình và HS có điều kiện
phát huy cao độ vai trò chủ thể tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo của
mình. Qua đó, HS không những tìm ra, tự phát hiện ra tri thức mới, cách thức
hành động mới mà còn rèn luyện các nét tính cách tích cực cho bản thân.
25