ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚC YÊN
BÁO CÁO TỔNG HỢP
QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI THỊ XÃ PHÚC YÊN
ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030
Phúc Yên, Năm 2010
Mục lục
Nội dung
Mở đầu
Phần thứ nhất
Các yếu tố tác động đến quá trình phát triển KT-XH thị xã
I. Tác động của các yếu tố bên ngoài đến quá trình phát triển
KT-XH thị xã
II. Các yếu tố cho phát triển KT-XH thị xã
III. Tiềm năng, lợi thế và những hạn chế
IV. Vị trí, vai trò của thị xã
Phần thứ hai
Thực trạng phát triển KT-XH thị xã giai đoạn 2005-2010
I. Tình hình chung phát triển KT-XH thị xã
II. Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực xã hội
III. Đánh giá chung
Phần thứ ba
Định hướng phát triển KT-XH thị xã đến 2020 và tầm nhìn
đến 2030
A. Định hướng phát triển KT-XH đến năm 2020
23
26
45
47
47
47
49
49
53
57
57
57
61
66
70
77
80
82
84
87
87
92
93
93
95
Trang 2
Mở Đầu
Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thị xã Phúc Yên đến năm 2010 và
- Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/9/2006 về lập, phê duyệt và quản
lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; Nghị định số 04/2008/NĐ-CP
ngày 11/01/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2006/NĐ-CP
ngày 07 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội; Thông tư số 03/TT-BKH ngày 01/07/2008 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư v/v hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định
04/2008/NĐ-CP.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh Vĩnh Phúc nhiệm kỳ 2005-2010 và
nhiệm kỳ 2011-2015.
Trang 3
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đến năm
2020 đã được tỉnh ủy thông qua.
- Quy hoạch chung xây dựng đô thị Vĩnh Phúc đến năm 2030 và tầm nhìn
đến năm 2050, Nikken Sekkei Civil Engineering LTD, 2010.
- Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thị xã Phúc Yên nhiệm kỳ 2006-2010 và
nhiệm kỳ 2010-2015.
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Phúc Yên đến năm
2010 và một số định hướng chính đến năm 2020.
- Các bản quy hoạch vùng, tỉnh và các ngành của Trung ương và các địa
phương có liên quan.
- Số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Tỉnh, Sở Kế
hoạch và Đầu tư Tỉnh Vĩnh Phúc, các Sở ngành của Tỉnh, Niên giám thống kê thị
xã Phúc Yên 2005-2010;
Báo cáo tổng hợp quy hoạch gồm những phần chính sau:
- Phần thứ nhất: Các yếu tố tự nhiên và xã hội tác động đến phát triển kinh
tế-xã hội của thị xã.
Phần này đánh giá tác động của bối cảnh kinh tế trong nước và tỉnh Vĩnh
Phúc đối với phát triển KT-XH thị xã. Đồng thời cũng đánh giá những điều kiện
1. Tác động của vùng Đồng bằng Sông Hồng và vùng Kinh tế trọng
điểm Bắc bộ đến phát triển KT-XH thị xã
Vùng Đồng bằng sông Hồng, nhất là vùng Kinh tế trọng điểm Bắc bộ ảnh
hưởng rất lớn, cả mặt tích cực và tiêu cực, có tính chất quyết định, đến phát triển
kinh tế-xã hội thị xã. Điều đó thể hiện ở những điểm sau:
Thứ nhất: Chủ trương phát triển nhanh các vùng KTTĐ, trong đó có vùng
KTTĐ Bắc bộ, tạo cơ hội rất lớn về đầu tư cho thị xã phát triển nhanh và
hiện đại
- Định hướng quy hoạch các vùng KTTĐ, đặc biệt vùng KTTĐ Bắc bộ,
vùng Thủ đô Hà Nội và vùng ĐBSH là những căn cứ cho phát triển KT-XH thị
xã.
Trong phương hướng phát triển dài hạn vùng ĐBSH và vùng KTTĐ Bắc bộ
đều nhấn mạnh thị xã Phúc Yên, cũng như tỉnh Vĩnh Phúc, là một trong những
mắt xích quan trọng của chuỗi đô thị của vùng, được phát triển một cách đồng bộ
và làm xương sống cho phát triển KT-XH vùng. Trong quy hoạch phát triển KTXH vùng Thủ đô, thị xã Phúc Yên là một trong những đô thị của ngõ của tỉnh
Vĩnh Phúc với thủ đô Hà Nội. Hà Nội với vị thế là một trong hai trung tâm kinh tế
lớn nhất cả nước, trung tâm đầu não về tiềm lực khoa học và nguồn nhân lực chất
lượng cao sẽ tạo điệu kiện rất thuận lợi cho sự phát triển kinh tế và đào tạo nghề
chất lượng cao.
- Sự phát triển KT-XH nói chung và phát triển công nghiệp, khu công
nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ có ảnh hưởng lớn đến phát triển công
nghiệp và khu, cụm công nghiệp của thị xã Phúc Yên.
Trong quy hoạch cũng nêu rõ phân bố và phát triển các khu công nghiệp là
hướng ưu tiên trong phát triển vùng KTTĐ. Sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung
và phát triển công nghiệp, khu công nghiệp của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ
có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển công nghiệp và khu, cụm công nghiệp của thị
xã. Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ là nơi tập trung tới trên 25-30% sản lượng
Trang 5
kinh tế cũng sẽ là tác nhân tác động không thuận lợi đến phát triển KT-XH
thị xã ở nhiều khía cạnh:
- Tác động rất lớn và trực tiếp đến phát triển KT-XH thị xã là những đòi hỏi
khắt khe khi hội nhập sâu kinh tế quốc tế, là cạnh tranh, mà trước hết là chất
lượng hàng hóa sản xuất và dịch vụ.
Cạnh tranh và hội nhập thật sự là yếu tố sống còn của nền kinh tế, điều đó
liên quan trực tiếp đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư. Thời hạn
chuẩn bị thực hiện đầy đủ các cam kết tự do hoá thương mại trong khuôn khổ các
hiệp định đã ký kết (AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ) và các cam kết theo
quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) không còn nhiều, song năng
lực cạnh tranh cả ở cấp quốc gia lẫn cấp doanh nghiệp đều chưa kịp đáp ứng.
- Các chủ trương phát triển chung, nhất là chủ trương phát triển hạ tầng
giao thông, chia cắt địa bàn, đã phần nào hạn chế sự phát triển nội lực của thị xã.
Trang 6
Hệ thống giao thông quốc gia đi qua thị xã khá nhiều, chia cắt và tiến độ
thực hiện quá chậm đã ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng chủ động và tiến độ
cũng như mức độ hoàn thành các chỉ tiêu chiến lược của thị xã. Thị xã đã và đang
được tỉnh cũng như Trung ương đầu tư xây dựng nhiều cơ sở sản xuất công
nghiệp khá lớn. Điều này làm cho tăng trưởng kinh tế thị xã có khả năng đạt cao,
nhất là cơ cấu ngành chuyển dịch theo hướng tích cực. Đồng thời cũng tạo điều
kiện cho dịch vụ của địa phương theo đó có cơ hội phát triển. Tuy nhiên nếu
không tính tới nguồn thu này thì thực tế quy mô kinh tế của thị xã không lớn, cơ
cấu kinh tế chưa tạo ra bước đột phá cũng như hạn chế nội lực phát triển.
- Các điều kiện vật chất tạo cơ hội cho thu hút đầu tư hiện còn rất thiếu là
một đòi hỏi cấp bách không chỉ đối với thị xã mà cả tỉnh và vùng.
Mục tiêu nhanh chóng thoát khỏi trạng thái nước nghèo, khắc phục nguy cơ
tụt hậu quá xa về kinh tế so với các nước trong khu vực đặt ra một cách cấp bách,
đòi hỏi phải tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, trọng tâm là làm
Trang 7
Kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Mục tiêu đó là những căn cứ cho định hướng phát
triển KT-XH thị xã.
Biểu 1: Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội Vĩnh Phúc đến năm 2020
TT
Danh mục
2008
2010
2015
2020
1
Tổng GDP (tỷ đg, giá 94)
9721,8
11517
23961
46132
13,5
7,2
4,1
-
Công nghiệp- xây dựng
58,3
59,7
65,1
60,8
-
Dịch vụ
24,0
26,8
27,6
35,1
Tăng trưởng GDP (%)
‘09-10
’11-15
‘16-20
‘09-20
-
Tổng số
9,13
15,78
14,00
14,89
-
Nông, lâm nghiệp, thủy sản
4,00
3,95
Vốn đầu tư (Triệu USD)
‘09-10
‘11-15
‘16-20
‘09-20
-
Giá 1994
658
4751
8465
13217
-
Giá 2008
1018
7343
xã có nhiều tiềm năng và điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch vui chơi nghỉ
dưỡng. Hồ Đại Lải thuộc thị xã là nơi được tỉnh, cũng như quốc gia, chọn làm
một trong những điểm phát triển du lịch nghỉ dưỡng, sinh thái của cả vùng phía
Bắc.
Trên địa bàn thị xã còn có trên 6.000 đơn vị đang hoạt động gồm các cơ
quan, doanh nghiệp, các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp,
Trường dạy nghề của Trung ương, của tỉnh, của Hà Nội. Đây là điều kiện thuận
lợi để Phúc Yên khai thác các thế mạnh, phát triển kinh tế-xã hội và văn hoá, giáo
dục, đào tạo của thị xã.
1.2. Về địa hình
Thị xã Phúc Yên được tái thành lập ngày 9/12/2003 theo Nghị định số
153/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc thành lập thị xã Phúc Yên và huyện Tam
Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi tách ra từ huyện Mê Linh. Theo đó địa giới hành
chính của thị xã: Phía Đông giáp thành phố Hà Nội; Phía Tây giáp huyện Bình
Xuyên; Phía Nam giáp huyện Mê Linh (Hà Nội) và phía Bắc giáp tỉnh Thái
Nguyên.
Theo Nghị định số 39/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ về việc
điều chỉnh địa giới hành chính xã, phường, thành lập thị trấn, phường thuộc
huyện Mê Linh, huyện Lập Thạch, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, cho đến nay
(năm 2009) thị xã có 10 đơn vị hành chính, bao gồm 06 phường: Xuân Hoà, Đồng
Xuân, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng và 04 xã: Cao Minh,
Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh.
Bảng 2: Diện tích, dân số thị xã năm 2010
Dân số (ước)
Tổng số
Trưng Trắc
Trưng Nhị
Hùng Vương
Phúc Thắng
Xuân Hòa
8.528
4.603
4.611
1.735
3.410
1.504
151
882
1()
Diện tích tự nhiên ở đây được lấy theo các Nghị định số 153/2003/NĐ-CP và 39/2008/NĐ-CP của
Chính phủ. Khi cân đối đất đai chúng tôi lấy theo số liệu thống kê của Thị xã.
Trang 9
Nam Viêm
Tiền Châu
6.951
9.653
568,78
711,07
1.222
1.358
Nguồn: Xử lý theo Niên giám thống kê thị xã Phúc Yên, năm 2010
a) Về nước mặt
Thị xã có hai sông lớn chảy qua:
- Sông Bá Hạ, bắt nguồn từ suối Nhảy Nhót giữa xã Trung Mỹ (huyện Bình
Xuyên) và xã Ngọc Thanh (thị xã Phúc Yên), chảy giữa xã Bá Hiến (huyện Bình
Xuyên) và xã Cao Minh đến hết địa phận xã Bá Hiến đầu xã Sơn Lôi (huyện Bình
Xuyên), chảy qua thị xã, sau đó nhập vào sông Cánh chảy về sông Cà Lồ.
Trang 10
- Sông Cà Lồ, là một nhánh của sông Diệp Du, còn gọi là sông Nguyệt
Đức. Là một nhánh sông Hồng tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc), sông Cà Lồ
chảy từ xã Vạn Yên (huyện Mê Linh) theo hướng Tây Nam-Đông Bắc, giữa hai
huyện Bình Xuyên, Mê Linh, vòng quanh thị xã Phúc Yên, qua hai huyện Kim
Anh, Đa Phúc cũ đổ vào sông Cầu ở thôn Lương Phúc xã Việt Long (nay thuộc
huyện Sóc Sơn). Nguồn nước sông Cà Lồ ngày nay chủ yếu là nước của các sông,
suối bắt nguồn từ núi Tam Đảo, núi Sóc Sơn, lưu lượng bình quân 30m 3/giây. Lưu
lượng cao nhất về mùa mưa 286m3/giây. Tác dụng chính là tiêu úng mùa mưa.
Trên địa bàn thị xã còn có một số hồ, đầm chứa nước phục vụ sản xuất
nông nghiệp, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản và phát triển du lịch. Hồ Đại Lải là
hồ nhân tạo lớn nhất tỉnh Vĩnh Phúc, thuộc địa bàn xã Ngọc Thanh, cách thành
phố Vĩnh Yên 21km, cách thủ đô Hà Nội 45km (2). Bên cạnh lợi ích của một công
trình đại thuỷ nông đối với sản xuất nông nghiệp, hồ Đại Lải còn là một trọng
điểm của cụm du lịch Đại Lải và phụ cận, một khu du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần
hấp dẫn. Các đầm, hồ khác như đầm Láng, đầm Rượu, ... là những nguồn cung
cấp nước mặt cho thị xã.
b) Về nước ngầm
Qua khảo sát đánh giá của Liên đoàn Địa chất thủy văn-Địa chất công trình
miền Bắc (đã được Hội đồng trữ lượng Quốc gia thẩm định) trên địa bàn thị xã có
một số bãi giếng nước ngầm có trữ lượng khá lớn đã và đang được khai thác như:
Bãi giếng nước ngầm từ Khả Do đến Đại Phùng trữ lượng 19.000m 3/ngày; Bãi
rừng.
- Đất Feralitic xúi mũn mạnh, trơ sỏi đá. Phân bố dọc theo QL2 từ Phúc
Yên đi Vĩnh Yên, chủ yếu là các dải đất dốc thoải.
b) Phân bố đất đai:
Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã có 12.029,55
ha, trong đó phân ra:
- Đất nông nghiệp: có trên 8.356 ha, chiếm tới 69,6% tổng diện tích của
toàn thị xã. Trong đó, đất để sản xuất nông nghiệp chiếm 29,7% diện tích (bằng
6,1% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh Vĩnh Phúc), đất lâm nghiệp có rừng
chiếm 38,6% diện tích (bằng 14,1% toàn tỉnh), đất nuôi trồng thủy sản không lớn,
chiếm 1,2% diện tích (bằng 5,8% toàn tỉnh).
- Đất phi nông nghiệp: có khoảng trên 3.470 ha, chiếm 28,9% tổng diện
tích đất tự nhiên toàn thị xã. Trong đó, đất để ở chiếm 6,8% (đất ở cho đô thị
chiếm 3,2% và đất ở nông thôn chiếm 3,6%); đất chuyên dùng bao gồm đất trụ sở
cơ quan, đất công trình sự nghiệp, đất an ninh, đất quốc phòng, đất sản xuất, kinh
doanh phi nông nghiệp và đất công trình công cộng chiếm 16,2%; đất dành cho
tín ngưỡng, tôn giáo và nghĩa trang, nghĩa địa chiếm khoảng 0,5%; đất sông suối
và mặt nước chiếm khoảng 5,3%.
- Đất chưa sử dụng: chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích đất tự nhiên.
Nhìn chung, khả năng khai thác đất đai của thị xã còn khá dồi dào, tuy
không thực giàu chất dinh dưỡng nhưng lại nằm gần kề thủ đô Hà Nội, nên đất
của thị xã đã trở thành tài nguyên có giá trị kinh tế cao.
2.3. Tài nguyên rừng
Tổng diện tích đất rừng tự nhiên của toàn thị xã có khoảng trên 4.640 ha,
chiếm 38,6% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong đó, rừng sản xuất có khoảng
444,6 ha; rừng phòng hộ có khoảng 3.493,9 ha và rừng đặc dụng có khoảng 700
ha.
Mục tiêu quan trọng đối với quỹ đất rừng của thị xã là từ nhiều nguồn vốn,
bằng nhiều biện pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo giữ vững môi trường sinh thái,
chống sói mòn đất canh tác cho thị xã và các vùng lân cận; kết hợp bảo vệ, làm
dân số là 772 người/km2 (mật độ dân số của tỉnh Vĩnh Phúc cùng thời điểm là 824
người/km2). Trong đó, dân số nam có khoảng 44.857 người (chiếm 48,33% tổng
dân số), dân số nữ có 47.959 người (chiếm 51,67% dân số thị xã). Dân số thành
thị của thị xã có 55.100 người (chiếm 59,37% dân số) và dân số nông thôn (tại các
xã ngoại thị) là 37.715 người (chiếm 40,63% dân số).
Tốc độ tăng dân số tự nhiên của thị xã trong giai đoạn 2005-2010 đạt
khoảng 1,2-1,3%. Dân số của thị xã trong những năm qua có xu hướng tăng
nhanh ở khu vực thành thị và tăng không nhiều ở nông thôn. Tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên của khu vực thành thị giai đoạn 2005-2010 đạt 1,89%, khu vực nông thôn
chỉ tăng khoảng gần 1%/năm trong giai đoạn này.
Dân cư phân bố không đều, tập trung nhiều tại các phường trung tâm. Mật
độ giữa các phường, xã chênh lệch nhau khá lớn, đến trên 60 lần. Trong khi
phường Trưng Trắc có mật độ lớn nhất, khoảng 8.528 người/km 2 thì xã Ngọc
Thanh chỉ có 151 người/ km2.
Biểu 3: Biến động dân số thị xã Phúc Yên giai đoạn 2005-2010
2005
2006
2007
2008
2009
2010
4()
Di tích cấp bộ có: Đền Ngô Miễn (phường Phúc Thắng), Chùa Bảo Sơn (xã Nam Viêm), Đình Khả Do
48,31
45191
51,69
51186
58,55
36243
41,45
87581
41949
47,90
45632
52,10
51191
58,45
36390
41,55
88443
42211
47,73
46232
52,27
50959
57,62
37484
42,38
91714
44040
tế của thị xã tăng từ 48.252 người (năm 2005) lên 52.069 người (năm 2010). Lao
động đang làm việc trong nền kinh tế năm 2010 chiếm khoảng 84,74% nguồn lao
động của thị xã và bằng 56,1% dân số thị xã. Trong đó:
- Lao động đang làm việc trong khối ngành công nghiệp-xây dựng có
khoảng 30,6 nghìn người (chiếm 61,9%). Mức tăng chủ yếu là lao động ngoài
quốc doanh.
- Lao động đang làm việc trong khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản có
11,1 nghìn người (chiếm 22,5%).
- Lao động đang làm việc trong khối các ngành dịch vụ khá ổn định có 10,3
nghìn người (chiếm 20,8%). Trong đó, lao động cá thể kinh doanh thương nghiệp,
nhà hàng, du lịch tăng khá nhanh, trung bình tăng hàng năm trên 600 người.
Biểu 4: Tình hình lao động xã hội của thị xã Phúc Yên
2005
I. Tổng dân số
- DS trong độ tuổi lao động
II. Nguồn lao động
1. LĐ làm việc trong nền KT
- Nông, lâm, thủy sản
- Công nghiệp, xây dựng
- Thương mại, Dịch vụ
2. Người đi học, làm nội trợ
86577
54063
55940
48252
25922
14871
7459
6050
2009
91714
57799
60663
51406
13466
28472
9468
8117
2010
(ước)
92815
58677
61490
52069
11138
30629
10302
8353
Trang 14
3. Số người thất nghiệp
1638
1535
cung ứng cho các khu công nghiệp, các ngành sản xuất, dịch vụ đang phát triển
trong thị xã, dẫn đến tình trạng thừa lao động nhưng vẫn phải nhận lao động nhập
cư từ bên ngoài vào.
Trong điều kiện hiện nay chất lượng nguồn nhân lực của thị xã còn thấp,
chưa đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp của địa phương và vùng KTTĐ Bắc
bộ. Tuy nhiên, thị xã có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc đào tạo nói chung và
đào tạo nghề nói riêng. Nếu tăng cường công tác đào tạo bằng các biện pháp hữu
hiệu sẽ có thể đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp và cung cấp cho các khu
công nghiệp trong tương lai.
3.3. Dự báo dân số và nguồn lao động
Dự báo tốc độ tăng trưởng dân số trung bình (cả tăng tự nhiên và cơ học)
của thị xã cho cả thời kỳ 2011-2030 là 4,5-5%/năm (trong đó nhịp tăng tự nhiên
trên dưới 1%). Theo đó tổng dân số thị xã năm 2010 có khoảng 92.815 người,
năm 2015 đạt 120.000 người (trong đó di cư đến gần 22.000 người), năm 2020 có
khoảng 155.000 người (di cư đến thị xã sẽ là 52.000 người) và năm 2030 sẽ có
240.000 người (dân di cư đến thị xã ước khoảng 127.000 người). Tỷ lệ dân số đô
Trang 15
thị cho các năm: năm 2010 là 59,3%, năm 2015 là 70,4% năm 2020 là 80,1% và
năm 2030 là 98,8% (5).
Lực lượng lao động làm việc trong nền kinh tế của thị xã tăng nhanh, năm
2010 là 52,07 nghìn người, năm 2015 là 67,8 nghìn người, năm 2020 là 88,1
nghìn người và năm 2030 là 138 nghìn người (6). Cơ cấu phân bố lao động được
dự kiến như sau:
- Năm 2010: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 21,6% tổng lao
động. Công nghiệp-xây dựng là 59,7% và các ngành dịch vụ là 18,8%.
- Năm 2015: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 16,03% tổng lao
động. Công nghiệp-xây dựng là 58,9% và các ngành dịch vụ là 25,07%.
%
Người
%
%
%
92815
55450
59,26
52070
100,00
21,5
59,7
18,8
2015
120000
2020
155000
2030
240000
5,27
5,25
4,47
III. tiềm năng lợi thế và những hạn chế trong phát triển kt-xh thị xã
1. Những lợi thế so sánh và cơ hội cho phát triển
Thứ nhất: Vị trí địa lý tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT-XH của thị
xã theo hướng hiện đại
- Nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đặc biệt là liền kề thủ đô Hà
Nội, thị xã có điều kiện thuận lợi trong cạnh tranh, thu hút đầu tư từ bên ngoài
cũng như thuận lợi trong phát triển kết cấu hạ tầng.
5()
Với mục tiêu toàn tỉnh Vĩnh Phúc trở thành thành phố vào năm 2030; khi đó thị xó sẽ là một hoặc hai
Quận của thành phố Vĩnh Phỳc. Hầu hết dõn thị xó đều là dân đô thị.
6()
Theo dự bỏo thỡ từ năm 2015 trở đi thị xó sẽ đón nhận nhiều cư dân từ bên ngoài di cư tới, mà lúc đầu
chủ yếu là lao động. Như vậy tỷ lệ lao động sẽ tăng lên tới 58-60% dân số trong giai đoạn quy hoạch.
Trang 16
Thủ đô Hà Nội đã được mở rộng, sẽ phát triển mạnh về phía Bắc (hình
thành khu đô thị mới Bắc Thăng Long, khu công nghiệp Thăng Long, Sóc
Sơn….). Đây là cơ hội cho thị xã Phúc Yên và tỉnh Vĩnh Phúc tiếp nhận sự lan tỏa
về vốn, khoa học - công nghệ và phát triển các ngành sản xuất bổ trợ, các loại
hình dịch vụ cho Thủ đô.
- Thị xã Phúc Yên là một trong những trung tâm văn hoá, khoa học-kỹ
thuật, kinh tế của tỉnh; được tỉnh quan tâm đầu tư phát triển và có điều kiện thuận
lợi phát triển các dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, tín dụng, bảo
hiểm, bưu chính-viễn thông, y tế, đào tạo, ... Trên địa bàn thị xã đã và sẽ có một
bộ phận nguồn nhân lực chất lượng cao, bao gồm đội ngũ trí thức, cán bộ quản lý
của tỉnh, thị xã, cán bộ làm việc trong các trường cao đẳng, bệnh viện tỉnh, một số
kinh tế của thị xã có thể được người dân khai thác và trở thành lực lượng vật chất
quan trọng cho quá trình phát triển. Thêm vào đó những cơ chế, chính sách mới
Trang 17
của tỉnh Vĩnh Phúc và thị xã, cùng với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và
chuyên gia năng động, sáng tạo, nhạy bén, đang tạo uy tín và sức hút đối với các
nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào thị xã.
Thị xã là địa bàn tập trung nhiều trường cao đẳng, trường dạy nghề từ rất
sớm. Tại đây đã hiện hữu nhiều chuyên gia về giáo dục cũng như các nhà khoa
học làm việc. Tại đây đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút nhiều nhà khoa học, giảng
viên về sống và làm việc tại thị xã khi có một cơ chế thỏa đáng. Đây là nguồn lợi
lớn cho phát triển KT-XH của thị xã.
2. Một số hạn chế và thách thức
Thứ nhất: Điều kiện tự nhiên tuy có thuận lợi nhưng đồng thời cũng là tác
nhân có ảnh hưởng không tốt đến phát triển KT-XH thị xã.
Đó là vị trí địa lí, địa hình cũng như các điều kiện khác gây không ít khó
khăn cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng tới việc tạo cơ hội cho các nhà
đầu tư quan tâm đến thị xã. Điều đó cũng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, làm
cho trình độ sản xuất hàng hoá của thị xã bị thấp, chất lượng cũng như sức cạnh
tranh hàng hoá không cao.
Với điều kiện như vậy trong thời gian tới cần quan tâm nghiên cứu hiệu quả
sử dụng nguồn lực, nhất là tài nguyên đất. Cần có biện pháp ngay từ bây giờ dành
đất cho những dự án lớn, có suất đầu tư cao, đạt hiệu quả cao. Trước mắt cần cân
đối đất giữa phát triển công nghiệp với các ngành khác.
Thứ hai: Cơ sở hạ tầng yếu. Xuất phát điểm nền kinh tế thị xã còn thấp.
Kết cấu hạ tầng vẫn còn rất yếu và chưa đồng bộ. Với những tiềm năng, lợi
thế cho phép phát triển các ngành kinh tế có quy mô lớn trên cùng một không gian
phát triển tạo ra các “lựa chọn” trong phát triển giữa các ngành như: lựa chọn
trong phát triển giữa các ngành mũi nhọn, công nghiệp, du lịch và các ngành dịch
những trung tâm du lịch nghỉ dưỡng, thể dục thể thao và đào tạo quốc gia; trung
tâm kinh tế công nghiệp-dịch vụ quan trọng của tỉnh, của vùng KTTĐ Bắc bộ.
Những điều đó tạo cho Phúc Yên có một vai trò lớn trong phát triển vùng cũng
như phát triển KT-XH tỉnh Vĩnh Phúc.
1. Vị trí, vai trò thị xã trong phát triển Vùng
Thứ nhất: Phúc Yên có điều kiện tham gia vào hệ thống đô thị trong các
hành lang kinh tế của vùng và quốc tế
Hiện nay ở phía Bắc đang hình thành và phát triển các tuyến hành lang giao
thông-kinh tế quốc tế và quốc gia liên quan đến tỉnh Vĩnh Phúc như: hành lang
kinh tế Côn Minh-Hà Nội-Hải Phòng-Hạ Long (Quảng Ninh); hành lang quốc lộ
số 2: Việt Trì-Hà Giang-Côn Minh (Trung Quốc); hành lang đường 18 (Nội BàiMóng Cái). Các hành lang này đã đưa tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và đặc biệt là thị
xã Phúc Yên nói riêng gắn kết với các trung tâm kinh tế, công nghiệp và những
thành phố lớn của khu vực Bắc bộ và cả nước. Trong khung cảnh đó Phúc Yên sẽ
có điều kiện tham gia vào phân bố đô thị, giao thông, kinh tế trong nước và quốc
tế, cụ thể là:
- Tham gia chuỗi đô thị phía Bắc dọc theo hành lang Côn Minh (Trung
Quốc)-Hạ Long (Việt Nam) bao gồm các thành phố: Lào Cai-Vĩnh Yên-Phúc
Yên-Hà Nội-Hải Phòng và kéo dài tới Côn Minh (Trung Quốc) và Hạ Long
(Quảng Ninh-Việt Nam).
- Đồng thời thị xã còn tham gia vào chuỗi đô thị trung tâm, dọc theo đường
xuyên á, bao gồm các đô thị: Mê Linh-Phúc Yên-Vĩnh Yên-Việt Trì-Tuyên
Quang-Hà Giang.
Thứ hai: Phúc Yên nằm trong vùng KTTĐ Bắc bộ, nằm sát và là đô thị cửa
ngõ của Vĩnh Phúc với Thủ đô Hà Nội là điều kiện thuận lợi để kinh tế thị
xã phát triển nhanh và hiện đại.
Theo quy hoạch của tỉnh cũng như của thị xã thì đến năm 2030 nền kinh tế
thị xã sẽ trở thành nền kinh tế tri thức mà nền tảng tạo thành được căn cứ vào
những lợi thế và tiềm năng của một thành phố trong tương lai. Các lợi thế và tiềm
năng cho đô thị đó là:
- Nằm liền kề với Thủ đô Hà Nội và nằm trong khu vực năng động của
Thị xã có vai trò quan trọng đối với tỉnh Vĩnh Phúc và Thủ đô Hà Nội. Thị
xã Phúc Yên nằm trên quốc lộ số 2 và tuyến đường sắt Hà Nội-Lào Cai, là cầu nối
giữa các tỉnh trong vùng Trung du Miền núi với thủ đô Hà Nội; liền kề cảng hàng
không quốc tế Nội Bài; nối với cảng Hải Phòng thông qua quốc lộ số 5; nối với
cảng nước sâu Cái Lân và khu kinh tế Vân Đồn (Quảng Ninh) qua trục đường 18.
Kinh tế thị xã phát triển sẽ lôi kéo kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc phát triển với tốc độ
cao. Kinh tế thị xã góp phần thúc đẩy tiến trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp,
giải quyết việc làm, giảm sức ép về đất đai, dân số, các nhu cầu về xã hội, du lịch,
dịch vụ và đảm bảo vững chắc khu vực phòng thủ của Thủ đô Hà Nội.
Với đặc điểm phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2030, yêu cầu đặt ra cho thị
xã sẽ trở thành đô thị trong hệ thống đô thị-hạt nhân của tỉnh, với các chức năng
chủ yếu sau:
- Là đô thị lớn và là đô thị cửa ngõ của tỉnh về phía Đông Nam với thủ đô
Hà Nội và các tỉnh khác. Theo quy hoạch phát triển sẽ là một hoặc hai quận của
thành phố Vĩnh Phúc.
- Là trung tâm dịch vụ, du lịch, tài chính ngân hàng, trung tâm văn hoá, thể
dục thể thao, giáo dục đào tạo, trung tâm khoa học kỹ thuật và công nghệ của tỉnh
Vĩnh Phúc.
Trang 20
- Là một trong những địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về phát triển
công nghiệp và thương mại-du lịch.
Thứ hai: Phúc Yên là một trong những đầu mối quan trọng trong các chuỗi
đô thị và các khu, cụm công nghiệp lớn của tỉnh, đó là:
- Tham gia vào chuỗi đô thị trung tâm tỉnh: Phúc Yên-Bình Xuyên-Vĩnh
Yên: Thị xã Phúc Yên cùng với thành phố Vĩnh Yên có vai trò là trung tâm kinh
tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc. Với vai trò này, thị xã Phúc Yên không
những là đô thị hạt nhân của tỉnh Vĩnh Phúc mà còn là đô thị cửa ngõ của tỉnh với
thủ đô Hà Nội và cả nước.
Từ khi tái thành lập đến nay, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã luôn duy
trì ở mức cao: tốc độ tăng trưởng bình quân theo giá trị sản xuất (GTSX) thời kỳ
2005-2010 đạt 23,05% 7. Trong đó, tăng trưởng của khối ngành công nghiệp-xây
dựng đạt bình quân 21,78%/năm; tăng trưởng của khối ngành dịch vụ đạt cao
nhất, 25,57%/năm; khối ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản chỉ đóng góp 0,4% vào
tăng chung, với tốc độ tăng trưởng bình quân là 5,37%/năm. Tốc độ tăng trưởng
khu vực sản xuất là 29,3%, đóng góp 96% vào tăng trưởng. Tốc độ tăng trưởng
của khu vực phi nông nghiệp 27,9%, đóng góp 99,6% vào tăng trưởng kinh tế thị
xã.
Năm 2010 ước tính tổng giá trị sản xuất của thị xã đạt khoảng 31.026 tỷ
đồng, trong đó: khối ngành công nghiệp-xây dựng đạt 29.180 tỷ đồng (gấp
khoảng trên 2,4 lần so với năm 2005); khối ngành dịch vụ đạt khoảng 1.739 tỷ
đồng (gấp 1,7 lần) và khối nông, lâm nghiệp, thủy sản đạt khoảng 107 tỷ đồng
(gấp hơn 1,3 lần).
Tính theo giá trị tăng thêm thì thời kỳ 2005-2010 tốc độ tăng sẽ là khoảng
20,87%/năm trong đó: khối ngành công nghiệp-xây dựng tăng 22,32%; khối các
ngành dịch vụ tăng 25,51% và khối nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng khoảng
4,6%.
Nhìn chung tốc độ tăng trưởng kinh tế theo giá trị gia tăng và theo giá trị
sản xuất của thị xã luôn cao hơn so với mức tăng chung của tỉnh.
Biểu 6: Tăng trưởng kinh tế của thị xã thời kỳ 2005-2010 (tỷ đồng, %)
2005
Tổng giá trị sản xuất
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
Tổng giá trị gia tăng
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
2010
NT
(ước)
(2005-10)
31026
23,05
29180
21,78
1739
25,57
107
5,37
6607,3
20,87
5257,7
20,18
1284,9
25,51
64,7
4,59
Nguồn: Xử lý theo Báo cáo KT-XH hàng năm của thị xã Phúc Yên
7
Số liệu chính thức theo Văn kiện Đại hội Đảng bộ thị xó khúa 2, nhiệm kỳ 2010-2015, 6-2010
Trang 22
- Công nghiệp, xây dựng
- Dịch vụ
- Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
2005
2006
2007
2008
2009
2010
18859,7
29028,2
48798,9
58742,8 64644,4 73493,0
17431,1
1281,1
147,5
100,00
92,43
6,79
0,51
0,55
0,42
Nguồn: Xử lý theo Báo cáo KT-XH hàng năm của thị xã Phúc Yên
Tuy cơ cấu kinh tế của thị xã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng
còn nhiều bất cập, khối ngành dịch vụ, thương mại còn quá nhỏ bé so với tiềm
năng và thế mạnh của thị xã. Khu vực dịch vụ là khu vực có tiềm năng lớn song
mặc dù đã có đầu tư nhưng chưa phát huy tác dụng nhiều nên còn chiếm tỷ trọng
tương đối thấp, cần có sự phát triển nhanh hơn, mạnh hơn tạo điều kiện hình
thành một cơ cấu kinh tế hợp lý hơn, song song với điều kiện công nghiệp và xây
dựng đã và sẽ tiếp tục gia tăng nhanh chóng trong thời gian sắp tới.
Trang 23
3. Thu chi ngân sách
- Thu ngân sách
Tổng thu ngân sách của thị xã tăng lên theo các năm trong giai đoạn 20052010. Nếu so với năm 2005 thì lượng thu ngân sách trên địa bàn năm 2010 tăng
lên gấp hơn 10 lần (xem thêm phần phụ lục).
Trong 5 năm vừa qua tổng thu ngân sách đạt 30.688 tỷ đồng, chiếm trên 2/3
tổng thu ngân sách tỉnh. Năm 2005 thu ngân sách trên địa bàn đạt 750 tỷ thì năm
2009 đã đạt 7.650 tỷ đồng, và năm 2010 ước đạt 9.082 tỷ, trong đó thu theo chỉ
tiêu pháp lệnh 186,27 tỷ; thu từ các doanh nghiệp trong nước và thuế xuất, nhập
khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7.464 tỷ đồng.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn bao gồm:
+ Thu theo chỉ tiêu pháp lệnh, thu nội địa: Chủ yếu nguồn thu từ thuế, thu
từ chuyển quyền sử dụng đất và một số nguồn khác chiếm một tỷ trọng không
lớn, khoảng 4-5%.
Vốn đầu tư đã và đang là điều kiện tiên quyết cho phát triển kinh tế và xã
hội thị xã. Mặc dù như vậy thời gian qua và cho đến những năm sắp tới, nhu cầu
xây dựng rất lớn, nguồn vốn được đầu tư còn rất hạn hẹp, khả năng huy động từ
các nguồn khác ngoài nhà nước chưa cao. Cần có biện pháp tích cực để tạo một
nguồn vốn lớn cho xây dựng.
Ii. Thực trạng phát triển các nganhg sản xuất và lĩnh vực xã hội giai 20052010
1. Ngành Công nghiệp - TTCN, Xây dựng
1.1. Công nghiệp-TTCN
Công nghiệp-TTCN tỉnh Vĩnh Phúc tập trung chủ yếu ở vùng phía Đông
Nam tỉnh, bao gồm thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và huyện Bình Xuyên.
Công nghiệp thị xã Phúc Yên chiếm tỷ trọng lớn trong công nghiệp của tỉnh,
chiếm tới trên 75-80% GTSX công nghiệp trên địa bàn tỉnh, tiếp theo là thành phố
Vĩnh Yên 11,2%, huyện Bình Xuyên 7,4%, các địa bàn khác chiếm tỷ trọng
không đáng kể.
Phúc Yên đã và đang là trung tâm công nghiệp của tỉnh Vĩnh Phúc và
tương lai, gắn kết với Bình Xuyên, thị xã sẽ nằm trong vùng động lực phát triển
công nghiệp của tỉnh. Tỷ trọng công nghiệp của thị xã trong GTSX (giá so sánh
1994) của tỉnh ngày càng tăng. Năm 2005, tỷ trọng GTSX công nghiệp Phúc Yên
là 79,8% thì đến năm 2009 đã là 81,4% và năm 2010 ước chiếm 80,9%. Trong
những năm qua, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp nhiều vào giá trị sản
xuất công nghiệp của thị xã Phúc Yên cũng như tỉnh Vĩnh Phúc. Trong năm 2010,
khu vực này đã chiếm tới 95% tổng giá trị công nghiệp của thị xã.
Biểu 8: Vị thế công nghiệp của thị xã trong tỉnh Vĩnh Phúc
Giá trị gia tăng công nghiệp
(tỷ đồng)
Toàn tỉnh
Thị xã Phúc Yên
% so với tỉnh Vĩnh Phúc
Huyện, thị khác
% so với tỉnh Vĩnh Phúc