2
MỞ ĐẦU
Chiến lược “DBHB”, BLLĐ là một bộ phận trong chiến lược toàn cầu phản cách
mạng của CNĐQ và các thế lực phản động chống phá các nước XHCN và phong trào độc
lập dân tộc, nhằm xoá bỏ toàn bộ các nước XHCN, thiết lập, củng cố vai trò lãnh đạo của
chúng trên toàn thế giới.
Sau sự sụp đổ của CNXH ở đông Âu và Liên xô, Việt Nam là một trọng điểm
chống phá của chúng. Vì vậy Đảng ta xác định “DBHB” là một trong bốn nguy cơ đe doạ
trực tiếp ĐLDT và CNXH ở nước ta.
Vì vậy, nghiên cứu chiến lược “DBHB” và đề ra chủ trương, giải pháp phòng,
chống chiến lược “DBHB”, BLLĐ là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu trong nhiệm vụ QPAN
của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hiện nay.
PHẦN MỘT
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC “DBHB”, BLLĐ
CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT VỀ CHIẾN LƯỢC “DBHB”, BẠO LOẠN LẬT ĐỔ CỦA CÁC
THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
1. Chiến lược "Diễn biến hoà bình".
a. Khái niệm:
Là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước tiến bộ,
trước hết là các nước XHCN từ bên trong chủ yếu bằng biện pháp phi quân sự, do
chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là đế quốc Mỹ tiến hành.
=> Như vậy qua khái niệm trên ta thấy:
- DBHB là một chiến lược của CNĐQ nhằm lật đổ các nước XHCN và các nước
không phù hợp với lợi ích của Mỹ bằng biện pháp phi vũ trang là chủ yếu, trong đó địch
sử dụng các biện pháp chống phá từ bên trong như:
+ Kích động mâu thuẫn tôn giáo, dân tộc.
+ Khuyến khích, thúc đẩy tư nhân hoá nền kinh tế.
+ Triệt để lợi dụng những sai lầm yếu kém của Đảng, nhà nước khoét sâu mâu
thuẫn làm trầm trọng thêm.
trận địa của CNTB, CNĐQ bị thu hẹp dần buộc Mỹ phải tìm cách đối phó.
+ Chiến lược của Mỹ lúc này là "ngăn chặn" và tiêu diệt CNXH bằng biện pháp
vũ trang là chủ yếu. Tuy nhiên lần đầu tiên các biện pháp kinh tế, chính trị, văn hoá,
ngoại giao được Mỹ sử dụng đồng bộ để ngăn chặn ảnh hưởng và làm suy yếu Liên xô.
Đây là cơ sở cho sự hình thành chiến lược DBHB sau này.
+ Với chiến lược “ngăn chặn” này Mỹ tích cực chạy đua vũ trang, xây dựng các
căn cứ quân sự khắp các nơi, lập các khối liên minh quân sự, tìm kiếm đồng minh làm tay
sai ở các châu lục, hình thành các vành đai để ngăn chặn sự phát triển của CNXH.
+ Cùng với các biện pháp quân sự, CNĐQ và các thế lực thù địch tích cực tuyên
truyền lối sống dân chủ tư sản, nói xấu CNXH, hỗ trợ các nước đồng minh tay sai giàu
mạnh để lừa bịp nhân dân các nước XHCN.
- Thời kỳ 1989 – 1993.
+ Trong khi CNTB biết tận dụng thành tựu của CM khoa học công nghệ, biết điều
chỉnh thích nghi thì Hệ thống XHCN lại bộc nhiều khuyết điểm trong mô hình xây dựng
CNXH. Khi nhận ra sai lầm đã tiến hành cải cách, cải tổ. Tuy nhiên, trong quá trình cải tổ
lại vấp phải sai lầm nghiêm trọng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức dẫn đến khủng
hoảng KT - CT - XH trầm trọng.
+ Chiến lược của Mỹ lúc này là “vượt trên ngăn chặn”. Đây là một chiến lược tiến
công nhằm vào Liên Xô và các nước XHCN, dựa trên cơ sở duy trì sức mạnh quân sự răn
đe và tiến hành tổng hợp các thủ đoạn, biện pháp về CT- TT, KT,VH- XH khiến các
nước XHCN “tự diễn biến” và tự sụp đổ nhanh chóng. Trong chiến lược này CNĐQ đã
can thiệp vừa tinh vi, vừa trắng trợn đối với Liên xô và các nước XHCN đông Âu.
- Từ 1993 đến nay.
4
+ Thời kỳ này Thế giới chỉ còn một siêu cường duy nhất là Mỹ, nhân cơ hội này
Mỹ ra sức tìm cách tiêu diệt các nước XHCN còn lại và phong trào CM thế giới, thiết lập
một trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo.
+ Chiến lược mới của Mỹ lúc này là “dính líu, khuếch trương”. Đây là giai đoạn
độ thẩm thấu từ từ không vội vã, ít khốc liệt rầm rộ như chiến tranh vũ trang, nhưng
hiệu quả thu dược rất lớn hơn chiến tranh huỷ diệt.
- Năm là: Chiến lược DBHB mang tính toàn cầu, không giới hạn về thời gian,
không gian, chống phá CNXH và ĐLDT mang tính toàn cầu trên tất cả các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quân sự, ngoại giao…
2. Bạo loạn lật đổ.
a. Khái niệm. “Bạo loạn lật đổ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ
chức, do lực lượng phản động hay lực lượng ly khai đối lập trong nước hoặc cấu kết
với nước ngoài tiến hành, nhằm gây rối an ninh chính trị, TTATXH hoặc lật đổ chính
quyền (địa phương hoặc trung ương) có bạo loạn chính trị; bạo loạn vũ trang; bạo
5
loạn chính trị kết hợp với vũ trang. Bạo loạn lật đổ là một thủ đoạn của CNĐQ và các
thế lực phản động trong chiến lược “DBHB” để xoá bỏ CNXH ở Việt Nam”.
- Khái niệm chỉ rõ:
+ BLLĐ là hành động chống phá bằng bạo lực có tổ chức, trong đó địch lôi kéo
kích động quần chúng nhân dân tham gia.
+ Lực lượng tiến hành là bọn phản động hay lực lượng ly khai đối lập trong nước
cấu kết với lực lượng phản động nước ngoài, có sự chỉ đạo của CNĐQ.
+ Mục tiêu là nhằm gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc lật đổ
chính quyền cách mạng, lập nên chính quyền phản cách mạng.
+ Hình thức bạo loạn ( có 3 hình thức)
* Bạo loạn chính trị: Thường bằng các hoạt động biểu tình, bãi công bãi khoá, chống
đối, đòi các quyền lợi chính trị, KT, VH-XH, các lợi ích tôn giáo, dân tộc, nêu các khẩu hiệu
chống đối đảng cầm quyền, nhằm lật đổ chính quyền cách mạng.
* Bạo loạn vũ trang: Là lực lượng quần chúng bị lôi kéo, mua chuộc, lừa phỉnh,
khống chế kết hợp với lực lượng phản động có vũ trang tấn công vào các công sở chính
quyền, các mục tiêu chính trị, KTVHXH.
đường lối, chính sách KTXH,
+ Nhân dân gặp nhiều khó khăn về đời sống bất bình với những sai trái, yếu kém
của Cán bộ, Đảng viên và chính quyền, mất lòng tin đối với chế độ.
- XH phân hoá giàu nghèo ngày càng lớn, với sự phân tầng giai cấp và bất bình
đẳng giữa các tầng lớp trong xã hội cùng với nhiều mâu thuẫn nội bộ đã tích tụ từ lâu.
Biểu hiện:
+ Xã hội phân tầng giai cấp, hố sâu khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
ngày càng lớn dẫn đến mâu thuẫn giai cấp sâu sắc.
+ Trong xã hội tồn tại nhiều mâu thuẫn bức xúc đã tích tụ lâu ngày mà không
được giải quyết thoả như các chính sách xã hội chưa hợp lý (vấn đề đất đai nhà ở, chữa
bệnh, học hành...), phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng.
- LLVT mơ hồ mất cảnh giác hoặc bị vô hiệu hoá.
+ LLVT mơ hồ không nhận rõ âm mưu, thủ đoạn kẻ thù dẫn đến chủ quan mất
cảnh giác, không có các phương án đối phó với các tình huống hoặc đã bi “vô hiệu hoá”
(thực tiễn Liên Xô trước đây đã chứng minh ).
- Bạo loạn có thể xảy ra khi trong nước có những biến động về chính trị.
Ví dụ: + Do Đảng phạm sai lầm trong bố trí cán bộ, sự suy thoái về chính trị.
tư tưởng, đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên làm mất uy tín trước nhân dân.
+ Do mâu thuẫn nội bộ và các tệ nạn xã hội phát triển, kẻ thù lợi dụng những
khuyết điểm đó để kích động BLLĐ.
c. Quy mô địa bàn có thể xảy ra BLLĐ
* Quy mô:
- BLLĐ có thể diễn ra ở một vùng hoặc một số vùng và có thể xảy ra đồng thời
ở nhiều vùng.
- Quy mô BLLĐ: có thể từ nhỏ đến vừa và lớn, từ một nơi, một khu vực lan ra
nhiều nơi, nhiều khu vực.
* Địa bàn:
- Có thể ở nhiều vùng, nhưng trọng điểm là các trung tâm chính trị, kinh tế, nơi
nhạy cảm về chính trị. ( vùng có nhiều tôn giáo, vùng nhiều dân tộc, vùng biên giới, vùng
đang có tranh chấp đất đai, vùng có khiếu kiện dài ngày mà không được giải quyết thoả
+ Các phần tử cơ hội chính trị, bất mãn nhen nhóm thành các tổ chức công khai
hợp pháp.
+ Bọn thoái hoá biến chất, lưu manh và một số quần chúng bị lừa gạt, ép buộc
tham gia.
- LL phản động bên ngoài:
+ Bọn phản động lưu vong ở nước ngoài được huấn luyện, trang bị, chỉ đạo trực
tiếp hoặc gián tiếp của Mỹ và các thế lực phản động quốc tế.
+ LL quân sự Mỹ và đồng minh ngoài vai trò răn đe, khi có điều kiện có thể sử
dụng LL phản ứng nhanh trực tiếp tham gia chi viện, hỗ trợ cho bọn phản động trong
nước.
=> Từ nghiên cứu mục đích, phương pháp, lực lượng tiến hành BLLĐ chúng ta rút ra:
* Mặt mạnh của địch:
+ Chủ động về không gian, thời gian.
8
+ Là người cùng một nước nên hiểu phong tục tập quán, địa bàn, hoàn cảnh, tâm
lý đặc tính dân tộc…
+ Có sự chỉ đạo, hỗ trợ của các thế lực phản động bên ngoài cả về LL, VC,
phương tiện, khi cần có thể sử dụng sức mạnh QS.
* Hạn chế của địch:
+ Sử dụng nhiều thành phần, LL tham gia BL thường tổ chức không thống nhất
nên chỉ đạo, chỉ huy giữa các LL gặp khó khăn.
+ Mục đích, quyền lợi khác nhau nên dễ phát sinh mâu thuẫn.
+ LLVT phản động lúc đầu hạn chế về số lượng, trang bị.
+ Quần chúng nhân dân bị địch lừa gạt, lôi kéo, kích động, nếu ta vận động tuyên
truyền tốt dễ bị phân hoá có lợi cho ta, nếu ta đấu tranh tốt dễ tìm ra kẻ cầm đầu, bóc gỡ
các tổ chức phản động.
e. Mối quan hệ giữa “DBHB” và BLLĐ.
- “DBHB” và BLLĐ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
- Lấy tư tưởng là khâu “đột phá”, kinh tế là “mũi nhọn”, dân tộc, tôn giáo là “ngòi
nổ”, ngoại giao là “hỗ trợ”, quân sự làm “răn đe”. Kết hợp chặt chẽ giữa “DBHB” với
BLLĐ và răn đe quân sự, sẵn sàng gây chiến tranh khi cần thiết.
=> Đặc trưng chủ yếu của “DBHB”, BLLĐ ở VN là:
- “DBHB” luôn kết hợp chặt chẽ với BLLĐ và li khai.
- Hết sức coi trọng “tự diễn biến”, triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”,
“dân chủ”, “nhân quyền” để kích động BLLĐ và ly khai.
2. Âm mưu thủ đoạn chủ yếu
Ở Việt Nam CNĐQ cho rằng không thể áp dụng các biện pháp thủ đoạn như ở
Liên Xô và Đông Âu mà cần phải điều chỉnh biện pháp, thủ đoạn cho phù hợp. Từ đó
chúng đưa ra âm mưu thủ đoạn cụ thể là:
- Tuyên truyền xuyên tạc nhằm loại bỏ CN Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng cộng sản Việt Nam. Thúc đẩy tự diễn biến;
làm suy yếu hệ thống chính trị, hình thành đa nguyên, đa đảng tiến tới làm sụp đổ chế
độ XHCN ở Việt Nam.
+ Tìm cách phủ nhận CN Mác - Lê nin.
+ Xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh.
+ Phủ nhận những thành tựu của cách mạng.
+ Vu cáo, quy kết mọi khó khăn yếu kém về kinh tế xã hội của ta là do đảng, do
bản chất của CNXH.
+ Đòi đa nguyên, đa đảng, tự do dân chủ, tự do báo chí
+ Bôi đen, hạ thấp uy tín của Đảng, vu cáo cán bộ. Kích động, phân hoá, chia rẽ
nội bộ đảng, vô hiệu hoá LL vũ trang.
- Lợi dụng quan hệ kinh tế để thâm nhập, gây sức ép, từng bước chuyển hoá
Việt Nam theo quỹ đạo của Mỹ.
+ Chúng sử dụng các thiết chế kinh tế tài chính, tiền tệ quốc tế để ép ta điều chỉnh
pháp luật, cải cách chính trị (đòi xoá điều 4 HP, điều 88 BLHS - tội chống phá nhà nước
XHCN, đòi tư nhân hoá báo chí…).
+ Thông qua đầu tư, viện trợ để xâm nhập vào các ngành kinh tế quan trọng, các
lịch sử để lại Mỹ và các thế lực thù địch hỗ trợ bọn phản động trong nước kích động đồng
bào dân tộc đấu tranh đòi ly khai ( Tây bắc, Tây nguyên, Tây nam bộ).
=> DBHB được chúng sử dụng đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế,
văn hoá, quân sự, ngoại giao… tuy nhiên nơi nào, lĩnh vực nào là điểm yếu của ta thì
chúng sẽ khoét sâu vào chỗ ấy.
Tóm lại
DBHB là một chiến lược cơ bản của CNĐQ nhằm lật đổ các nước XHCN và các
quốc gia có chế độ chính trị xã hội tiến bộ nhưng không phù hợp với lợi ích của Mỹ . Sau
khi CNXH ở Đông Âu Xô sụp đổ, CNĐQ đang tập trung chống phá các nước XHCN còn
lại, trong đó VN là một trọng điểm.
Vì vậy, phòng chống DBHB, BLLĐ là một nhiệm vụ cấp thiết nóng bỏng, vừa cơ
bản lâu dài vừa là ý nghĩa sống còn của CM nước ta. Đòi hỏi mỗi CBĐV phải không
ngừng nhân cao nhận thức, giác ngộ, thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách
mạng, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân làm thất bại mọi âm mưu của chúng .
11
DBHB không phải ở đâu xa, mà ngay trên địa bàn QK4 chúng ta hàng ngày, hàng
giờ qua các phương tiện thông tin hiện đại, kẻ thù cũng đang tác động vào mọi CBĐV và
QCND gieo rắc sự hoài nghi “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong xã hội. Kích động các
phần tử bất mãn, các phần tử cực đoan lợi dụng tôn giáo, dân tộc để chống phá như:
Nguyễn Văn Lý xứ đạo An Tuyền TP Huế, Giáo xứ Tam toà Quảng Bình…
Tuy nhiên, có lúc có nơi, có lĩnh vực nhận thức của CBĐV và nhân dân ta còn chủ
quan mất cảnh giác, thậm chí có người còn cho rằng phòng chống DBHB là việc đại sự
quốc gia, của cấp trung ương, còn địa phương, cơ sở mình làm gì có DBHB mà phòng
chống (?) đây là một điều hết sức nguy hiểm .
PHẦN HAI
PHÒNG CHỐNG CHIẾN LƯỢC"DBHB", BLLĐ
vụ
chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
* Vì sao?
12
Vì đây là con đường cách mạng Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn mà Đảng, Bác Hồ
và nhân dân ta đã lựa chọn từ những năm 30 của thế kỷ trước, nó vừa phù hợp với
nguyện vọng của nhân dân, vừa phù hợp với xu thế của thời đại.
Ngày nay độc lập dân tộc và CNXH vẫn là mục tiêu hàng đầu của CMVN, Đảng
ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới cũng vì mục tiêu này. Vì vậy xoá bỏ mục tiêu này
chính là mục đích chủ yếu của chiến lược “DBHB” đối với Việt nam.
* Yêu cầu.
- Kiên định CN MLN, TTHCM, kiên định nguyên tắc lãnh đạo Nhà nước, lãnh
đạo xã hội, kiên định con đường đi lên CNXH. Phải kiên định, giữ vững mục tiêu con
đường đi lên của cách mạng Việt Nam là ĐLDT gắn liền với CNXH.
- Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Vì đây là sự cụ thể hoá mục tiêu ĐLDT và
CNXH trong giai đoạn hiện nay.
- Phải kiên quyết đấu tranh chống các âm mưu phá hoại của địch, chống sự thoái hoá
biến chất về tư tưởng, chống chủ nghĩa cơ hội xét lại về chính trị. Khắc phục tư tưởng chủ
quan mơ hồ mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm trong đấu tranh chống lại luận điệu sai trái,
phản động.
- Phải thường xuyên đề phòng nguy cơ “tự diễn biến” dẫn đến chệch hướng
XHCN từ bên trong nội bộ.
Hai là: Phát huy sức mạnh tổng hợp của HTCT, dưới sự lãnh đạo của Đảng,
tiến hành đấu tranh toàn diện trên tất cả các lĩnh vực.
* Vì sao?
- Sức mạnh BVTQ là sức mạnh tổng hợp của khối Đại đoàn kết dân tộc, của cả HTCT
dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Cuộc đấu tranh chống DBHB, BLLĐ là cuộc đấu tranh hết sức gay go, phức tạp
vì vậy phải sử dụng các công cụ chuyên chính của Nhà nước để bảo vệ thành quả cách
mạng, ngăn ngừa, đập tan bạo loạn của địch bảo vệ chính quyền, bảo vệ chế độ XHCN.
*Yêu cầu.
- Tăng cường xây dựng HTCT vững mạnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo
vệ an ninh quốc gia và quốc phòng, quản lý đất nước bằng pháp luật. Chăm lo xây
dựng LLVT vững mạnh, đặc biệt là QĐND và CAND.
- Phải đề cao cảnh giác làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hoá” quân đội và
công an, hòng xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với LLVT. Vô hiệu hóa công cụ bạo
lực của chính quyền trong bảo vệ cách mạng.
4. Phương châm phòng, chống DBHB, BLLĐ.
Một là: Giữ vững sự ổn định bên trong, chủ động phòng ngừa, kết hợp giữa
xây và chống.
- Lấy ngăn ngừa, đẩy lùi là yêu cầu hàng đầu nhằm đánh bại âm mưu thủ đoạn của
địch. Đây là phương châm chỉ đạo chung cho cả phòng chống DBHB, BLLĐ. Phương châm
này thể hiện tính chủ động, tích cực của ta trong phòng chống DBHB, BLLĐ.
- Với tư tưởng chủ đạo “Trong ấm, ngoài êm”. Đảng ta coi trọng sự ổn định vững
mạnh bên trong vừa là mục tiêu vừa là điều kiện căn bản để ngăn ngừa, đẩy lùi “DBHB”,
BLLĐ của địch.
+ Vì vậy, phòng chống “DBHB”, BLLĐ phải giữ cho “trong ấm, ngoài êm” chủ
động phòng ngừa, quyết liệt, lâu dài, một mất một còn giữa ta và địch.
- Xây dựng đất nước vững mạnh về mọi mặt, đồng thời cảnh giác đấu tranh làm
thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của kẻ thù, luôn là hai mặt cơ bản trong
các giải pháp phòng chống DBHB, BLLĐ.
Hai là: Khi bạo loạn xảy ra, cần phát huy sức mạnh tổng hợp kết hợp các biện pháp,
các mặt đấu tranh, xử trí kiên quyết nhanh chóng, không để lan rộng kéo dài.
Phương châm này chỉ đạo phương thức đấu tranh và hoạt động của ta trong xử
trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, tác phong, phương thức lãnh đạo. Đặc biệt coi trọng công tác
cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì, cán bộ chiến lược.
+ Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt Đảng, đẩy mạnh đấu
trang phê và tự phê bình, củng cố tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong đảng. Khắc phục
tình trạng bè phái, cục bộ, mất đoàn kết trong đảng, kiên quyết đưa ra khỏi đảng những
phần tử thoái hoá biến chất. ( xa rời nguyên tắc này - đa nguyên chính trị)
+ Tăng cường nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy, phát triển lý luận về
xây dựng CNXH ở Việt Nam trong điều kiện mới, để thống nhất nhận thức và hành động,
củng cố đoàn kết nhất trí trong Đảng.
+ Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng. Kiên
quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử cơ hội, thoái hoá biến chất ra khỏi Đảng để tăng cường
15
sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền.
+Tăng cường củng cố các tổ chức cơ sở đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến
đấu của các chi bộ đảng vì:
* Tổ chức cơ sở đảng vững mạnh là pháo đài vững chắc chống lại địch móc nối,
xâm nhập, cài cắm gián điệp để tác động chuyển hoá nội bộ đảng.
* Chi bộ vững mạnh sẽ là nơi tiên phong đấu tranh với các phần tử cơ hội chính
trị, thoái hoá biến chất, xét lại, chống đảng.
- Thứ hai là phải xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân.
+ Nhà nước pháp quyền là công cụ để thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.
Vì vậy muốn xây dựng nhà nước TSVM phải tiến hành cải cách hành chính theo hướng công
khai, minh bạch, vì dân. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức giỏi về nghiệp vụ, trong sạch
về đạo đức, lối sống…
+ Triệt để chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí củng cố niềm tin của nhân dân
đối với chế độ, không tạo ra kẽ hở cho địch lợi dụng khoét sâu.
- Thứ ba là xây dựng các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức quần chúng vững
mạnh thực sự là cái cầu nối liền giữa Đảng, Nhà nước và các tầng lớp nhân dân.
Lĩnh vực tư tưởng văn hoá là thế mạnh của ta, vì nó là cơ sở tạo ra tiềm lực sức mạnh
tinh thần trong giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc XHCN hiện
nay. Tuy nhiên đây là lĩnh vực nhạy cảm rất dễ bị kẻ địch tấn công.
* Mục tiêu của Mỹ và các thế lực thù địch là tập trung chống phá về quan điểm,
tư tưởng và đường lối. Trước hết là: Phủ nhận Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh; phủ nhận con đường ĐLDT gắn liền với CNXH của cách mạng Việt Nam.
- Tạo tư tưởng hoài nghi mất niềm tin trong CBĐV và nhân dân, dẫn đến sự suy
thoái về chính trị, đạo đức, lối sống xa rời mục tiêu cách mạng của Đảng( tự diễn biến)
* Nội dung biện pháp phòng chống DBHB trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá là:
- Tăng cường công tác tư tưởng lý luận, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh
đường lối của Đảng bảo vệ củng cố vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh.
+ Chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước, niềm tự hào và tinh thần tự cường dân
tộc. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn khuynh hướng tư tưởng tư sản, các luận điệu tuyên
truyền bôi nhọ, xuyên tạc phủ nhận Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng
cường tổng kết lý luận, đổi mới công tác tư tưởng sát từng đối tượng, tăng cường quản
lý thông tin báo chí, xuất bản, văn hoá văn nghệ.
- Xây dựng và phát triển nền VH Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. tiếp thu
những giá trị tinh hoa văn hoá nhân loại. Kiên quyết ngăn chặn đẩy lùi văn hoá độc hại, có
nội dung xấu độc. Chống quan điểm thương mại hoá các hoạt động văn hoá.
- Làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; quản lý, kiểm soát chặt chẽ công tác
tuyên truyền, xuất bản và có định hướng thống nhất chỉ đạo nghiên cứu lý luận, nâng
cao hiệu quả công tác tư tưởng văn hoá trong tình hình mới.
d. Về dân tộc, tôn giáo.
- Tôn giáo, dân tộc là vấn đề nhạy cảm, phức tạp ở nhiều nơi trên thế giới. Những năm
qua CNĐQ và các thế lực thù địch luôn lợi dụng kích động vấn đề này để làm suy yếu và can
thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia, dân tộc; gây mất ổn định và ly khai ở nhiều nơi trên
thế giới, với những cuộc xung đột đẫm máu.
- Đối với nước ta là một quốc gia đa dân tộc và tôn giáo, mà sức mạnh giữ nước
của dân tộc ta là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, cho nên trong lịch sử thực dân
động quần chúng ly khai, chống Đảng và chính quyền phá hoại khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
+ Phát huy vai trò của MTTQ và các tổ chức CTXH, các già làng, trưởng bản, nhân
sỹ, chức sắc tôn giáo trong công tác vận động quần chúng.
+ Tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận thức rõ âm mưu thủ đoạn lợi dụng các
vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền của CNĐQ đang ra sức chống phá cách
mạng Việt Nam.
-
Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng trong xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chương trình phát
triển KTXH. Thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, tôn trọng quyền làm chủ của
nhân dân.
đ. Về quốc phòng- an ninh.
Trong DBHB, BLLĐ địch rất coi trọng các hoạt động tình báo, gián điệp, răn đe quân sự,
xâm nhập nội địa, phá hoại từ bên trong, hỗ trợ xây dựng LLVT phản động và làm cơ sở để thực
hiện DBHB trên các lĩnh vực khác.
* Vì vậy phòng chống DBHB trên lĩnh vực QPAN cần phải:
- Trước hết phải cảnh giác với mọi mưu đồ “phi chính trị hoá” LLVT để xoá bỏ
vai trò lãnh đạo của Đảng và “vô hiệu hoá” công cụ sắc bén bảo vệ Tổ quốc.
- Tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp QP-AN, xây dựng
LLVT vững về chính trị, tư tưởng và tổ chức sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc mọi
18
thành quả CM. Không để địch cài cắm, móc nối, mua chuộc cán bộ, bảo vệ bí mật quân
sự, bí mật quốc gia.
- Làm tốt công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị ở những nơi
địa bàn trọng yếu, biên giới, hải đả, khu vực nhạy cảm về chính trị
thuận trong cá mối quan hệ lợi ích đan xen, phụ thuộc lẫn nhau trên thế giới, trong khu vực.
Chủ động tiến công trên mặt trận đối ngoại, vạch trần và làm thất bại các luận điệu xuyên tạc
vu cáo, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam dưới mọi hình thức.
- Vận động việt kiều tham gia phát hiện đấu tranh vơi những âm mưu hành động
chống phá của bọn phản động trong người Việt lưu vong. ( Nguyễn Cao Kỳ…)
19
- Phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với ANQP trong phòng và chống DBHB,
BLLĐ không cho địch lợi dụng lãnh thổ các nước láng giềng để xâm nhập, hỗ trợ chỉ đạo
chống phá Việt Nam.
- Làm tốt công tác đối ngoại nhân dân, nhất là các tỉnh biên giới, hải đảo, thành
phố thị xã và các khu công nghiệp tập trung các nước đầu tư cho ta.
2. Phòng chống bạo loạn lật đổ.
* Mục tiêu phòng chống bạo loạn lật đổ là nhằm bảo vệ Đảng, chính quyền, chế độ
XHCN và nhân dân. Lấy ngăn ngừa, đẩy lùi bạo loạn là chủ yếu.
- Muốn ngăn ngừa, đẩy lùi BLLLĐ cần phải giữ cho “trong ấm, ngoài êm”, triệt
tiêu các điều kiện, thời cơ gây BLLĐ của địch. Trước hết là triệt tiêu các mầm mống gây
mất ổn định đã là:
+ Sự chống phá ngày càng tinh vi quyết liệt của các thế lực thù địch.
+ Sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường.
+ Tệ suy thoái phẩm chất đạo đức lối sống, quan liêu, tham nhũng, xa rời dân dẫn
đến nội bộ Đảng phân hoá chia rẽ…
+ Vi phạm dân chủ ở cơ sở và lợi ích chính đáng của nhân dân.
+ Phân hoá giàu nghèo trong xã hội ngày càng tăng, mâu thuẫn nội tại trong xã
hội ngày càng lớn…
=> Khi mâu thuẫn bên trong tích tụ dồn nén cộng với sự kích động của kẻ thù sẽ
tạo ra bạo loạn.
* Vì vậy để ngăn ngừa bạo loạn cần phải:
“Nhanh gọn, kiên quyết, linh hoạt, đúng đối tượng, không để lan rộng kéo dài”.
Vì sao?
+ Địch sử dụng tổng hợp các hình thức biện pháp chống phá gồm cả chính trị, quân
sự, kinh tế… Do vậy đòi hỏi ta phải sử dụng sức mạnh tổng hợp, lực lượng tổng hợp và vận
dung linh hoạt nhiều hình thức đấu tranh.
+ Khi tiến hành BLLĐ, hành động của địch rất kiên quyết, khẩn trương và quyết liệt.
+ Nếu trong xử trí BLLĐ mà mơ hồ, do dự sẽ càng làm cho ta lúng túng bị động,
không kiểm soát được tình hình.
+ Trong xử trí BLLĐ phải hết sức khôn khéo phân hoá cô lập bọn cầm đầu, đồng
thời khôn khéo mềm dẻo trong đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của
quốc tế.
+ Nếu để kéo dài khi bạo loạn đã lan rộng, đe doạ đến tồn vong của chế độ thì việc
xử trí sẽ khó khăn…
b. Nguyên tắc xử trí.
Từ những quan điểm, phương châm, tư tưởng chỉ đạo trong phòng, chống bạo loạn
nói chung, khi xử trí bạo loạn cần nắm vững một số nguyên tắc sau:
- Giữ vững quan điểm lập trường linh hoạt về sách lược, phân hoá cô lập kẻ thù, tranh
thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế.
- Phát huy dân chủ, vận động thuyết phục, giữ vững kỷ cương, pháp luật và kỷ luật
trong nội bộ.
- Phân hoá, cô lập bọn đầu sỏ ngoan cố, xử trí kiên quyết, nghiêm minh, kết hợp
giáo dục vận động những người lầm đường.
- Kiên quyết tiêu diệt bọn ác ôn ngoan cố, kết hợp công tác vận động khoan hồng
nhân đạo đối với người nhận ra sai lầm khuyết điểm.
- Xử trí bạo loạn phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền,
các ban, ngành làm tham mưu, quân đội và công an chỉ huy các lực lượng thuộc quyền.
2. Xử trí BLLĐ.
a. Xử trí bạo loạn chính trị. (BLCT là hình thức phổ biến)
* Dấu hiệu của BLCT là:
lấy đấu tranh chính trị, vận động thuyết phục, giải tán biểu tình là chủ yếu.
- Bảo vệ giữ vững các mục tiêu trọng yếu Chính trị, kinh tế, ANQP…
- Cô lập các khu vực bạo loạn không cho lực lượng bạo loạn kéo vào các đô thị.
- Cô lập, phân hoá, trấn áp các phần tử cầm đầu, phản động quá khích.
- Kết hợp tuyên truyền vận động không để địch lôi kéo, kích động.
- Kết hợp hoạt động ngoại giao, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc tế.
=> Coi trọng kết hợp các hình thức đấu tranh, các biện pháp tổng hợp phi quân sự;
lấy đấu tranh chính trị an ninh là chủ yếu, lực lượng công an làm nòng cốt và làm tham
mưu chủ yếu là trung tâm hiệp đồng các lực lượng.
* Hoạt động của Đảng, Nhà nước và LLVT.
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp QP- AN là: Đảng cộng sản Việt Nam
lãnh đạo tuyệt đối trực tiếp về mọi mặt đối với sự nghiệp QP- AN. Vì vậy trong xử lý
22
BLLĐ sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố giữ vai trò chủ đạo, chi phối mọi hoạt động của
cả Hệ thống chính trị.
Khi có bạo loạn xảy ra BCT, BBT TW trực tiếp lãnh đạo HTCT, chỉ đạo các ngành, địa
phương xử trí BLLĐ.
- Sự lãnh đạo của Đảng tập trung vào các vấn đề chủ yếu sau:
+ Quyết định những vấn đề mang tính định hướng lớn về chủ trương, quan điểm,
phương thức, hình thức đấu tranh, sử dụng lực lượng chính trị, quân sự và các lực lượng
khác.
+ Động viên các cấp, các ngành, các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp để đánh
thắng BLLĐ của địch.
+ Đảng lãnh đạo công tác tư tưởng, tổ chức cán bộ, chính sách, kiểm tra giám sát
việc cụ thể hoá nghị quyết của Đảng và tổ chức thực hiện của Nhà nước, chính quyền các
cấp, tổ chức đảng, tổ chức quần chúng trong chống BLLĐ.
+ Đảng lãnh đạo thông qua Nhà nước và các đoàn thể để huy động lực lượng
phương tiện làm thất bại âm mưu hành động can thiệp của nước ngoài, nhanh chóng khắc
an và LLVT.
+ Đảng, Nhà nước cần coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, động viên các
cấp các ngành và nhân dân nhận rõ âm mưu của kẻ thù. Mặt khác, đẩy mạnh công tác
tuyên truyền đối ngoại, đấu tranh ngoại giao, để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của quốc
tế, ngăn ngừa và làm thất bại âm mưu hành động can thiệp của nước ngoài.
* LLVTND trong ngăn ngừa, xử trí BLCT.
- Là lực lượng răn đe, hỗ trợ đắc lực cho đấu tranh chính trị, bảo vệ các mục tiêu
trọng yếu, tham gia giữ gìn ANCT đập tan BLCT của địch.
+ Sử dụng LLVT cần phải dựa trên những văn bản luật: (Luật quốc phòng; luật
ANQG; pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp; Chỉ thị 107 của Thủ tướng Chính phủ; Thông
tư 284 BQP …).
+ Khi sử dụng quân đội chống BLLĐ phải do Bộ trưởng QP hoặc do Tổng TMT
trực tiếp ra lệnh theo sự lãnh đạo của BCT, thông qua Thường vụ ĐUQSTW.
- Chức năng của LLVT ND trong ngăn ngừa, xử trí BLCT.
+ Làm tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp trong phòng ngừa và xử trí
bạo loạn.
+ Tham gia củng cố cơ sở chính trị, vận động quần chúng.
+ Phối hợp cùng với công an, tổ chức năm địch bên trong và ngoài địa bàn.
+ Khi bạo loạn xảy ra, bảo vệ các mục tiêu trọng yếu, chống khủng bố, ngăn chặn
lực lượng bên ngoài xâm nhập. Tham gia hỗ trợ đấu tranh chính trị, giữ gìn an ninh trên
địa bàn.
+ Hỗ trợ và tham gia xây dựng HTCT cơ sở sau bạo loạn; khắc phục hậu quả, ổn
định sản xuất và đời sống của nhân dân.
- Nguyên tắc của LLVT trong ngăn ngừa và xử trí BLCT.
+ Lấy răn đe, ngăn ngừa là chính. Chủ động sử dụng đúng thời cơ, đối tượng, mục
tiêu, đúng pháp luật, được cấp có thẩm quyền cho phép.
+ Dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của chính quyền, chỉ huy thống nhất từ
BTTM.
+ Hành động kiên quyết nhưng không manh động.
+ Phù hợp với khả năng của từng lực lượng, có quy mô hợp lý.
công việc nội bộ của ta, sẵn sàng đánh bại can thiệp quân sự từ bên ngoài.
- Nhanh chóng khắc phục hậu quả, chăm lo cải thiện đời sống và ổn định sản xuất
của nhân dân.
* Tổ chức sử dụng lực lượng.
+ Phải huy động, sử dụng lực lượng tại chỗ của các ngành và nhân dân địa
phương, lấy CA, QĐ và DQTV làm nòng cốt.
+ Phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng, điều hành của chính quyền, có sự
tham gia hỗ trợ của các bộ, ngành.
+ Các lực lượng phải được tổ chức chặt chẽ để cùng đấu tranh trên các mặt: Chính trị,
an ninh, quân sự, ngoại giao và nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định tình hình địa phương.
- Lực lượng đấu tranh chính trị.
+ Bao gồm các ngành, đoàn thể và nhân dân dưới sự điều hành của cấp uỷ chính
quyền địa phương, do MTTQ làm tham mưu, tổ chức; có sự hỗ trợ phối hợp của các đội
công tác xây dựng cơ sở, vận động quần chúng của quân đội, công an, biên phòng và
các ban, ngành.
+ Lực lượng làm nòng cốt trong các hoạt động: tuyên truyền đấu tranh vạch trần
âm mưu thủ đoạn vu cáo, lừa bịp kích động của địch và bọn phản động cơ hội, đấu tranh
với các phần tử cầm đầu quá khích.
25
-> Tuyên truyền đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động thuyết
phục quần chúng không tham gia biểu tình chống chính quyền, tôn trọng pháp luật và
tham gia đấu tranh chính trị địch vận.
-> Tổ chức mít tinh biểu dương lực lượng ủng hộ đảng, chính quyền; chống chia
rẽ, ly khai, phản đối sự can thiệp của nước ngoài.
-> Tuyên truyền làm rõ sự thật chính nghĩa của Đảng, Nhà nước; vạch trần luận
điệu vu cáo, kích động và hành động chống phá của kẻ thù. Qua đó tranh thủ sự ủng
hộ của quốc tế với duy trì ổn định, giữ vững ANCT ở địa phương.
- Lực lượng giữ gìn ANTT.
26
+ Mọi hoạt động chống BLLĐ phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của
Chính phủ nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả HTCT.
+ Việc lãnh đạo, điều hành trong chống BLLĐ phải theo cơ chế 02 của BCT (Khoá
VI). Đồng thời phải tuôn thủ các quy định pháp luật hiện hành như: Luật ANQG; luật QP;
pháp lệnh về tình trạng khẩn cấp; các thông tư củ BQP, BCA…
+ Thực hiện tốt vấn đề này vừa bảo đảm sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành tập trung
thống nhất từng lực lượng vừa bảo đảm đoàn kết thống nhất, hỗ trợ lẫn nhau để cùng
hoàn thành nhiệm vụ.
- Tổ chức lãnh đạo chỉ huy.
+ Khi có bạo loạn, tỉnh có ban chỉ huy thống nhất do chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh trực
tiếp điều hành các ngành, các lực lượng; với sự tham gia của CA, QĐ và các ngành.
+ ở những địa bàn chiến lược trọng yếu, quân khu có thể tổ chức Sở chỉ huy
tiền phương để chỉ huy điều hành các LLVT của quân khu và địa phương tham gia xử trí
bạo loạn.
+ Khi có tình trạng khẩn cấp,Nhà nước sẽ tổ chức Ban chỉ đạo của Chính phủ để huy
động, điều hành, phối hợp các lực lượng xử trí BL về tình trạng khẩn cấp.
+ Khi có tình trang khẩn cấp BQP có thể tổ chức Sở chỉ huy tiền phương bên cạnh
Ban chỉ đạo của Chính phủ. BCT, BBT trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo HTCT và các địa
phương xử trí tình hình.
* Phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CA, QĐ.
+ CA và QĐ là 2 lực lượng nòng cốt, tham mưu cho Đảng bảo vệ chế độ, trực
tiếp cùng các lực lượng và toàn dân xử trí BL.
+ Vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng lực lượng, mối quan hệ đã được xác
định rõ trong chỉ thị 107/CT- TTg của Thủ tướng Chính phủ; thông tư 284/BQP và thông
tư 14/BCA của Bộ công an.
+ Ở địa phương, chỉ huy trưởng quân sự cùng giám đốc CA làm tham mưu…về nhận
định, đánh giá tình hình, xác định quyết tâm xử trí. Trực tiếp chỉ huy, điều hành các lực lượng
thuộc quyền và các lực lượng khác đập tan BLLĐ ở địa phương.