LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả đã nêu trong luận văn này là công trình
nghiên cứu của tôi cùng với sự cho phép sử dụng chung số liệu của tác giả thực hiện đề
tài “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất thức ăn nuôi phát dục tôm thẻ
chân trắng (P. vannamei) bố mẹ”
Tác giả luận văn
Lê Tiến Lực
iii
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện với sự giúp đỡ của nhóm nghiên cứu đề tài nghiên
cứu khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu xây dựng quy trình công nghệ sản xuất thức ăn nuôi
phát dục tôm thẻ chân trắng (P. vannamei) bố mẹ” do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy
sản III chủ trì, tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Để hoàn thành luận văn này tôi xin trân thành cảm ơn và gửi lời tri ân sâu sắc đến
TS. Lục Minh Diệp, ThS. Nguyễn Văn Dũng và ThS. Trương Thị Bích Hồng đã tận tình
chỉ dạy, hướng dẫn cho tôi trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi của các cán bộ
thuộc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nuôi biển Nha Trang (Phước Đồng-Nha
Trang)-Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, chủ nhiệm đề tài đã tạo điều kiện và
hỗ trợ cho tôi về địa điểm và cơ sở vật chất để thực hiện trong quá trình nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học,
Trường Đại học Nha Trang, cùng quý thầy cô đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt thời
gian vừa qua.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn
thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Nha Trang, tháng 10 năm 2016
1.1.3.
Đặc điểm phân bố ..............................................................................................7
1.1.4.
Đặc điểm dinh dưỡng .........................................................................................8
1.1.5.
Đặc điểm sinh sản ..............................................................................................8
1.1.6.
Các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng ........................................................11
1.2.
Tình hình nghiên cứu về nuôi thương phẩm .......................................................13
1.3.
Tình hình nghiên cứu trong nước ........................................................................14
1.4.
Tình hình sử dụng giun nhiều tơ trong nuôi trồng thủy sản ................................15
Chương 2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ...............................................................17
2.1.
2.5.
Đặc điểm sinh học sinh sản giun huyết ...............................................................22
2.5.1.
Mùa vụ sinh sản ...............................................................................................22
2.5.2.
Kích thước thành thục ......................................................................................22
v
2.5.3.
Phân biệt giới tính, tỷ lệ đực : cái và hình thức sinh sản .................................22
2.5.4.
Xác định sức sinh sản.......................................................................................23
2.5.5.
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục ...........................................................25
2.6.
Phương pháp xử lý số liệu ...................................................................................25
3.2.5.
Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục ...........................................................36
Chương 4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .....................................................................40
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................41
PHỤ LỤC ......................................................................................................................44
vi
DANH MỤC KÝ HIỆU
kg: kilogam
cm: centimet
m: met
µm: micromet
g: gram
m2: met vuông
km: kilomet
ha: hecta
mm: milimet
mL: mililit
W: khối lượng
L: chiều dài
R: hệ số tương quan
♀: cái
♂ : đực
vii
Bảng 3.1. Chất đáy tại các địa điểm khảo sát sự phân bố của giun huyết tỉnh Khánh Hòa và
Ninh Thuận…………………………………………………………………….………26
Bảng 3.2. Kết quả phân tích mẫu nước và mẫu bùn các địa điểm khảo sát tại Khánh Hòa
và Ninh Thuận ...............................................................................................................29
Bảng 3.3. Biến động một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm .................30
Bảng 3.4. Tỷ lệ sống của các nghiệm thức chất đáy sau 60 ngày thí nghiệm ...............30
Bảng 3.5. Chiều dài trung bình giun huyết tại Khánh Hòa ...........................................31
Bảng 3.6. Khối lượng trung bình giun huyết tại Khánh Hòa ........................................32
Bảng 3.7. Kích thước thành thục của giun huyết tại Khánh Hòa ..................................34
Bảng 3.8. Tỷ lệ đực:cái của giun huyết qua các tháng sinh sản tại Khánh Hòa............35
Bảng 3.9. Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của giun huyết tại Khánh Hòa .............36
ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Giun huyết Marphysa mossambica .................................................................3
Hình 1.2. Cấu tạo cơ thể giun nhiều tơ [1] ......................................................................4
Hình 1.3. Hệ bài tiết giun nhiều tơ [1].............................................................................6
Hình 1.4. Ấu trùng trochophora [1] ...............................................................................11
Hình 1.5. Các giai đoạn phát triển của giun nhiều tơ [1] ..............................................12
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu…………………………………………....17
Hình 2.2. Phương pháp thu mẫu giun huyết ..................................................................18
Hình 2.3. Cân khối lượng và đo chiều dài mẫu giun huyết ...........................................18
Hình 2.4. Bản đồ khảo sát sự phân bố giun huyết tại Khánh Hòa và Ninh Thuận .......19
Hình 2.5. Bố trí thí nghiệm chất đáy ưa thích giun huyết .............................................21
Hình 2.6. Sơ đồ phương pháp pha loãng và đếm trứng .................................................24
Hình 3.1. Nhiệt độ trung bình các tháng tại Khánh Hòa và Ninh Thuận…………...…27
Hình 3.2. pH trung bình các tháng ở tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận.........................28
Hình 3.3. Độ mặn trung bình các tháng tại Khánh Hòa và Ninh Thuận .......................28
Nuôi biển Nha Trang – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III để tiến hành nghiên
cứu và phân tích.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chất đáy phù hợp tại các địa điểm có giun huyết
phân bố là cát mịn lẫn bùn và sỏi. Đặc điểm môi trường có sự phân bố của giun huyết
ngoài tự nhiên: nước tương đối trong sạch không vẩn đục, có nhiệt độ từ 28-35°C,
pH 7,8-8,5, độ mặn 26-36 ‰. Các chỉ tiêu BOD, COD và PO42- trong mẫu nước và N
hữu cơ, C hữu cơ, H2S trong mẫu bùn cao hơn những nơi không có sự phân bố của giun
huyết. Kết quả nghiên cứu về chất đáy ưa thích của giun huyết Marphysa mossambica
đã xác định là đáy bùn cát.
Đặc điểm sinh học sinh sản của giun huyết tại Khánh Hòa: Bắt gặp cá thể cái
thành thục quanh năm, cá thể đực thành thục từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa sinh sản tập
trung từ tháng 5-8 trong năm. Kích cỡ thành thục của giun huyết có chiều dài dao động
xi
15-18 cm, khối lượng đạt 2-3 g, số đốt 272-283 đốt, tỷ lệ đực : cái của giun huyết ngoài
tự nhiên trong mùa sinh sản trung bình là 1 : 2,7. Sức sinh sản tuyệt đối trung bình của
cá thể cái là 4072,6±917,8 trứng/cá thể cái, chỉ số này dao động 1188-6003 trứng/cá thể
cái. Sức sinh sản tương đối 589,4±193,7 trứng/g. Quá trình phát triển tuyến sinh dục
giun cái trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn tăng sinh và phát triển, giai đoạn thành thục, giai
đoạn đẻ trứng, giai đoạn sau khi đẻ.
Từ khóa: Giun huyết, Marphysa mossambica, sinh sản, phân bố.
xii
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, tôm đóng vai trò chủ lực trên thị trường trong nước
cũng như xuất khẩu. Vì vậy, để nghề nuôi tôm tiếp tục giữ vững và gia tăng về sản lượng
công sẽ mang lại nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế cũng như đáp ứng được nhu cầu sử dụng
làm thức ngày càng nhiều cho ngành nuôi trồng thủy sản.
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III hiện đang tiến hành đề tài “Nghiên cứu
xây dựng quy trình công nghệ sản xuất thức ăn nuôi phát dục tôm thẻ chân trắng (P.
vannamei) bố mẹ” trong đó có đối tượng nghiên cứu là giun huyết. Được sự cho phép
của chủ nhiệm đề tài và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, tôi thực hiện đề tài
nghiên cứu cho luận văn cao học là: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản
của giun huyết Marphysa mossambica (Peters, 1854)”.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định một số đặc điểm sinh học sinh sản làm cơ sở cho việc sản xuất giống
nhân tạo giun huyết.
Nội dung nghiên cứu
1. Xác định đặc điểm môi trường phân bố ngoài tự nhiên và chất đáy phù hợp.
2. Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản của giun huyết.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả của đề tài nghiên cứu cung cấp thêm các dữ liệu khoa
học về đặc điểm sinh học sinh sản của giun huyết Marphysa mossambica nhằm phục vụ
công tác nghiên cứu về giun nhiều tơ ở Việt Nam.
- Ý nghĩa thực tiễn: Làm cơ sở cho việc sản xuất giống nhân tạo giun huyết để nuôi
làm thức ăn nuôi vỗ cho tôm bố mẹ.
2
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Những nghiên cứu chung về giun nhiều tơ
1.1.1. Hệ thống phân loại
Ngành giun đốt: Annelida
Lớp giun nhiều tơ: Polychaeta
Phân lớp: Errantia
ngắn gồm phần gốc và phần ngọn liên hoàn, không có sự khác biệt và ngăn cách. Hai
bên của thuỳ trước miệng có đôi xúc biện phân đốt rõ. Phần gốc của xúc biện phình lớn,
có hình trứng, phần ngọn có dạng như bướu nhỏ, linh động. Đôi xúc biện là cơ quan
cảm giác, có vai trò như môi bên. Phía mặt lưng của phần trước miệng có 2 đôi mắt màu
đen. Phần quanh miệng ngắn mang hai đôi chi bên ở hai bên. Phần trước hầu lộn ra
ngoài, đưa hàm kitin hình móc, có răng ở phía trong ra ngoài để nghiền hay gặm thức
ăn. Trong điều kiện bình thường, hàm kitin nằm giữa xoang trước hầu và hầu. Bề mặt
của phần trước hầu được phủ kitin và có nhiều núm lồi.
4
Thân giun: Gồm có nhiều đốt, các đốt đều ngắn, chiều dài ngắn hơn chiều ngang,
mỗi đốt thân mang một đôi chi bên. Mỗi chi bên là phần lồi của thành bên cơ thể và
phân thành 2 thùy là thùy lưng và thùy bụng. Trên thùy lưng có sợi lưng, chùm tơ lưng.
Trên thùy bụng có sợi bụng, chùm tơ bụng. Trong các chùm tơ, bên cạnh các tơ nhỏ
thẳng màu đen có một tơ hình que, lớn hơn, được gọi là tơ trụ. Nhờ có các chùm tơ ở
chi bên mà giun có thể bơi hay bò trên nền đáy.
Thành cơ thể của một đốt thân ở giun nhiều tơ đi từ ngoài vào trong gồm có lớp
mô bì (biểu mô) không có tiêm mao, bao ngoài mô bì là tầng cuticun. Lớp này có các tế
bào tuyến tiết chất dịch nhầy (giảm ma sát khi chuyển vận, phát tín hiệu nhận biết nhau
của các cá thể, tạo thành vỏ ống bao bọc cơ thể). Tiếp theo là bao cơ gồm lớp cơ vòng
ở ngoài, trong là lớp cơ dọc và lớp cơ chéo. Trong bao cơ là lớp biểu mô thể xoang
bao quanh thể xoang. Biểu mô thành thể xoang tạo thành màng treo ruột bao
quanh mạch máu lưng, và mạch máu bụng. Kết quả là chia thể xoang của mỗi đốt thành
2 nửa trái, phải. Thể xoang có dịch thể xoang tham gia chức phận nhận và chuyển các
các sản phẩm sinh dục và bài tiết. Ngoài ra thể xoang còn tạo sức ép lên thành cơ thể và
phối hợp với hoạt động của cơ để hỡ trợ cho chi bên chuyển vận theo kiểu uốn sóng,
nhất là khi chui rúc trong cát [1].
Phần đuôi: Là đốt cuối cùng của giun. Thuỳ đuôi có dạng hình nón, không có chi
bên nhưng có hai chi phụ hậu môn dài như hai sợi lông. Phía trước đốt cuối cùng là vùng
với các trung tâm cảm giác: Phần trước điều khiển xúc biện, phần giữa điều khiển anten
và mắt, phần sau điều khiển hố khứu giác. Có các dây thần kinh đến giác quan ở phần
đầu.
Dây thần kinh bụng có 1 đôi và mỗi đốt có một đôi hạch nối với nhau bằng cầu nối
ngang, có dây thần kinh đi đến các cơ quan của mỗi đốt. Kiểu thần kinh có cấu trúc như
vậy được gọi là thần kinh bậc thang (Orthogonal). Hướng tiến hoá của hệ thần kinh của
giun như sau:
6
Tập trung thần kinh theo chiều ngang (thu ngắn khoảng cách giữa các hạch)
tạo thành chuỗi hạch thần kinh. Trong một số trường hợp có sự tập trung các đốt nên
hạch thần kinh dần chuyển tập trung theo chiều dọc.
Hướng thứ 2 là chuyển từ biểu mô vào trong thể xoang.
Cơ quan cảm giác của giun gồm: Các tế bào cảm giác nằm rải rác dưới da. Cơ quan
cảm giác cơ học và hoá học như anten, xúc biện, sợi cảm giác quanh miệng và sợi lưng
của chi bên. Cơ quan thị giác là mắt nằm ở mặt lưng của phần trước miệng. Ở một số
loài mắt đơn giản chỉ là phần biệt hoá lõm vào trong của mô bì và tế bào ở đáy lõm chỉ
có thể phân biệt được sự sáng, tối (như mắt của giống Razanitia) [13,16]. Nhưng ở giun
Perinereis nuntia var. brevicirris mắt phức tạp hơn là túi kín có thủy tinh thể và dịch
thủy tinh thể.
1.1.3. Đặc điểm phân bố
Giun nhiều tơ thuộc ngành giun đốt Annelida, lớp giun nhiều tơ Polychaeta và họ
Eunicidae. Đây là lớp có số lượng loài phong phú (được ghi nhận hơn 10.000 loài), phân
2.400m, là loài rộng muối, có thể sống ở nền đáy là bùn, cát, sỏi và sét. Loài Enuphis
conchyleya lại thích sống trong vỏ trai, vỏ ốc hay hốc đá hay các giống Otopsis
samythella, Macellicephala, Saetmatomice... chúng chỉ sống ở đáy đại dương . Các loài
giun nhiều tơ sống đáy, có nhóm sống định cư trong tổ hay có khả năng di động [28].
Giun huyết phân bố chủ yếu ở vùng trung và hạ triều nơi có chất đáy bùn với lượng
mùn bã hữu cơ cao [20]; [10]. Nơi có độ sâu 25 cm [31]. Nghiên cứu về quần đàn giun
huyết ở vùng Wiscasset, Maine thấy rằng giun huyết sinh trưởng và phát triển ở độ mặn
dao động 10-30 ‰ [10]. Ngoài ra, giun huyết có thể sống ở vùng có hàm lượng oxy hòa
tan thấp có khả năng chịu được độ mặn bất thường.
1.1.4. Đặc điểm dinh dưỡng
Giun nhiều tơ được chia thành hai nhóm là nhóm định cư trong tổ và nhóm có khả
năng di động. Giun nhiều tơ được xếp vào nhóm có khả năng di động thường ăn thịt, ăn
rong tảo hoặc ăn tạp nên chúng phát triển về giác quan trên đầu và chi bên. Chúng di
chuyển trong cát, bùn và trồi lên bắt thức ăn khi sóng đánh đưa vào gần bờ. Đối với
nhóm định cư trong tổ thường ăn mùn bã hữu cơ theo lối ăn lọc nên phát triển phần đầu
còn các chi bên của thân thì biến thành cơ quan bám vào tổ. Hiện tượng hội sinh gặp
khá phổ biến ở giun nhiều tơ. Một số loài giáp xác sống trong tổ của loài Chaetopterus,
nhiều loài khác lại sống hội sinh với thân mềm, giáp xác…[1].
Theo kết quả của Nguyễn Văn Dũng và cộng sự [2] khi phân tích thành phần thức
ăn trong hệ tiêu hóa của giun cát cho thấy có 60 % là thức ăn động vật và 40 % là thức
ăn rong tảo.
1.1.5. Đặc điểm sinh sản
Hệ sinh dục có cấu tạo khá đơn giản: Gồm tuyến sinh dục bám từng đôi trên thành
cơ thể ở tất cả các đốt hay chỉ có ở một số đốt. Có ống dẫn hay không có ống dẫn sinh
dục riêng (họ Capitellidae) [1]. Thường thì tế bào sinh dục chín và nằm ngay trong dịch
thể xoang và được giải phóng vào nước để thụ tinh trong mùa giao hoan. Do không có
ống dẫn sinh dục nên tế bào sinh dục chỉ được giải phóng khi thành cơ thể bị vỡ.
Giun nhiều tơ là loài phân tính, cả giun đực và cái đều phát triển phần sinh sản khi
Wicasset Maine
4.3
5.4
6.0
Creaser et al[9]
All Maine
4.4
6.2
7.2
Creaser et al [9]
SW Nova Scotia
3.0-4.1
4.2-5.9
6.0-6.9
Miller (2009)
Minas Basin
1.7
2.5-2.9
3.8
Miller (2009)
- Mùa vụ và tập tính sinh sản:
Các nghiên cứu về mùa vụ sinh sản của giun huyết (Glycera dibranchiata) cũng
khác nhau tùy từng vùng biển. Nghiên cứu của Klawe & Dickie [20] cho rằng quá trình
sinh sản của giun huyết xảy ra vào giữa tháng 5 ở vịnh Goose. Cuối tháng sáu là mùa
sinh sản của giun huyết ở vùng biển Maine [10] và người dân địa phương vùng biển
Nova Scotia bắt gặp giun đẻ vào tháng 5 và 6. Quá trình sinh sản chỉ diễn ra trong vài
ngày, cá thể đực và cái đều chết sau khi tham gia sinh sản [10]; [36]. Giun huyết là loài
phân tính. Quá trình thụ tinh xảy ra bên ngoài. Trước khi sinh sản giun huyết trải qua sự
9
sự xuất hiện của loại hocmon giới tính 5-methyl-3-heptanone đây là tín hiệu kích thích
sự đẻ trứng và phóng tinh trùng của loài giun này. Nghiên cứu của Hardege và Bartels
10
[16] và Zeeck [43] đã phát hiện ra loại hocmon 3,5-octadiene-2-one trong loài Nereis
japonica loại hocmone này cũng có chức năng giống như 5-methyl-3-heptanone.
Tuổi thọ của giun huyết có thể đạt tối đa 5 năm. Quá trình sinh trưởng diễn ra
nhanh trong năm thứ 2 và 3. Hầu hết giun huyết sinh sản vào năm thứ 3 sau đó chết. Tuy
nhiên có một số cá thể sự thành thục diễn ra chậm hơn nên kéo dài đến năm thứ 4 và 5
[10]; [20].
1.1.6. Các giai đoạn phát triển phôi và ấu trùng
Trứng phân cắt xoắn ốc, hoàn toàn và xác định. Phôi vị phát triển theo kiểu lan
phủ. Phôi phát triển thành ấu trùng trochophora trôi nổi tự do trong nước nhờ vành tiêm
mao trước miệng và sau miệng.
Hình 1.4. Ấu trùng trochophora [1]
1. Cơ quan đỉnh; 2. Miệng; 3.Dạ dày; 4. Ruột; 5. Thân;
6. Hậu môn; 7. Các tế bào trung bì
Sau đó một thời gian hình thành ấu trùng hậu luân cầu (metatrochophora) sống bò
trên đáy, ấu trùng phát triển mọc thêm các đốt mới, đốt hậu ấu trùng cho tới lúc đạt số
đốt như giun trưởng thành. Sự thay đổi bề ngoài được đánh dấu bằng cách hình thành
các đốt khác nhau trong từng giai đoạn. Khi còn là ấu trùng trochophora, mầm lá phôi
giữa ở hai bên hậu môn phân chia tạo thành 2 giải lá phôi giữa nằm ở hai bên ruột. Phần
sau miệng của ấu trùng phân chia cùng một lúc, trước hết là phần ngoài rồi mới hình
thành cùng một lúc các đôi túi thể xoang tương ứng tạo thành một số đốt (3-13 đốt) được
gọi là đốt ấu trùng. Đồng thời giác quan trên phần trước miệng phát triển cùng với các
phần não để tạo thành phần đầu. Lúc này đã chuyển sang giai đoạn ấu trùng
metatrochophora. Ở giai đoạn này 2 bên hậu môn còn giữ vùng sinh trưởng và vùng này
11
ở đáy. Sau 16 tuần thấy xuất hiện giun con bò ở khu vực ngập nước [7].
Theo nghiên cứu của Tosuji & Sato [39], Pechnik et al [30] cho rằng độ mặn ảnh
hưởng lên quá trình phát triển của ấu trùng giai đoạn đầu của Hediste japonica và loài
H. diadroma. Tuy nhiên, độ mặn thích hợp nhất cho sự phát triển của ấu trùng là 27,530‰ mặc dù đây là loài rộng muối 10-34‰ [39].
Nghiên cứu về việc sức chịu đựng của loài Capitella sp. khi giảm dần độ mặn tại
nhiệt độ 20°C thì thấy quá trình phát triển phôi không chậm lại tại độ mặn 10-12 ‰ khi
so sánh với kết quả tại độ mặn 25-30‰ [30]. Điều này chứng tỏ quá trình nuôi vỗ thành
thục, cho đẻ và ương nuôi ấu trùng của loài giun này có thể tiến hành được ở độ mặn
dao động khá lớn từ 10‰ đến 30‰.
Sự thay đổi chất đáy trong ương nuôi loài Pseudopolydora vexillosa ảnh hưởng
trực tiếp đến tỷ lệ sống và sự phát triển của ấu trùng trong quá trình ương khi thay thế
thành phần chất đáy theo tỷ lệ 25, 50 và 75%, thì kết quả cho thấy tỷ lệ sống và tốc độ
tăng trưởng của ấu trùng loài này đạt cao nhất tại chất đáy tự nhiên (đối chứng) [24].
1.2. Tình hình nghiên cứu về nuôi thương phẩm
Hiện nay trên thế giới đã có nhiều nước nuôi thương phẩm loài giun nhiều tơ phục
vụ làm thức ăn cho các đối tượng giáp xác, cá biển và làm mồi câu phục vụ nhu cầu giải
trí. Các công ty sản xuất và nuôi giun chủ yếu tập trung tại Trung Quốc, Úc, Thổ Nhĩ
Kỳ [11]; [14]; [25].
Nuôi giun nhiều tơ thương phẩm sử dụng chất thải và thức ăn thừa trong nuôi cá
cho kết quả tốc độ tăng trưởng nhanh. Ngoài ra, có thể nuôi kết hợp đối tượng này với
một số đối tượng khác trong hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín. Kết quả thử nghiệm sử
13
dụng các loại thức ăn khác nhau trong hệ thống cho thấy rằng, giun nuôi sử dụng thức
ăn thừa khi so sánh với nuôi bằng thức ăn công nghiệp kết hợp với chất thải trong các
hệ thống nuôi cá là thấp hơn [9].
Theo kết quả bước đầu nghiên cứu của Fidalgo e Cost [14] loài giun Nereis
diversicolor cho thấy tốc độ tăng trưởng nhanh khi sử dụng chất đáy là cát, bùn trong
một vài tháng nuôi. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Dean & Mazurkiewicz [12] cho
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Dũng và cộng sự [2] về một số đặc điểm sinh
học sinh sản và phân bố của loài giun nhiều tơ Perinereis nuntia var. brevicirris cho
thấy loài này phân bố ở các tỉnh từ Phú Yên đến Bình Thuận nơi có nền đáy nhiều cát
mịn và cát to, nguồn nước tương đối sạch không vẩn đục. Giun thành thục có chiều dài
dao động từ 16-27 cm. Mùa vụ sinh sản chính của giun nhiều tơ vào thời gian tháng từ
tháng 8 đến tháng 5 năm sau trong thời gian này cơ thể chúng chứa nhiều sản phẩm sinh
dục. Sức sinh sản tuyệt đối trung bình của cá thể cái là 241.185 trứng/cá thể và sức sinh
sản tương đối trung bình là 105.312 trứng/g. Khi chúng thành thục và đến mùa sinh sản
có thể phân biệt được giun đực và cái bằng mắt thường, cá thể cái có cơ thể màu xanh
thẫm và các chân bơi phát triển. Cá thể giun đực có cơ thể màu trắng đục, được chia làm
hai phần: phần phía đầu có màu trắng đục, phần còn lại và chân bơi có màu đỏ tươi, mắt
to và sát lại gần nhau. Tỷ lệ giun đực/cái trong tự nhiên là 1 : 2,3.
Hiện tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 3 đã sản xuất giống và nuôi thương
phẩm loài giun cát. Tuy nhiên loài giun huyết chưa có công trình nghiên cứu nào, do
vậy dựa trên cơ sở một số kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học và thử nghiệm sinh sản
nhân tạo giun nhiều tơ Perinereis nuntia var. brevicirris (Grube, 1857) của Nguyễn Văn
Dũng và cộng sự [2] thành công trên loài giun cát sẽ đem lại kết quả khả thi trên đối
tượng nghiên cứu mới này. Việc mở rộng đối tượng nuôi với quy mô sản xuất lớn mang
lại nhiều ý nghĩa về mặt kinh tế cũng như đáp ứng được nhu cầu sử dụng làm thức ăn
ngày càng nhiều trong nuôi trồng thủy sản.
1.4. Tình hình sử dụng giun nhiều tơ trong nuôi trồng thủy sản
Bờ biển Việt Nam trải dài 3.260 km suốt từ Bắc vào Nam là tiềm năng to lớn cho
nuôi trồng thủy sản nước mặn và nước lợ. Diện tích nuôi tôm gia tăng nhanh chóng từ
50.000 ha năm 1985 lên đến 295.000 ha năm 1998 với 30 tỉnh có nuôi tôm sú, năm 2010
diện tích nuôi tôm nước lợ cả nước trong năm đạt trên 639.000 ha, sản lượng đạt gần
470.000 tấn cả về tôm sú và tôm thẻ. Đến năm 2014 cả nước có 30 tỉnh, thành phố có
nuôi tôm với diện tích thả nuôi là 699.725 ha, tổng sản lượng đạt 661.074 tấn .
Năm 2011 tổng diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 33.049 ha, số lượng con giống
cần là 33 tỷ con , đến năm 2014 diện tích nuôi tôm thẻ chân trắng là 93.000 ha, lượng
15