NGHIÊN cứu PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI tại vườn QUỐC GIA côn ĐẢOTỈNH bà rịa VŨNG tàu - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG

Viết Thị Hà Xuyên

NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TẠI
VƯỜN QUỐC GIA CÔN ĐẢOTỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Khóa luận tốt nghiệp đại học hệ chính quy
Ngành Khoa Học Môi Trường

Cán bộ hướng dẫn : Lê Văn Lanh

Hà Nội – 2013

1


LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình tới thầy Lê Văn
Lanh – Giảng viên Bộ môn Sinh thái Môi trường, Khoa Môi trường − Trường Đại học
Khoa học Tự nhiên − Đại học Quốc gia Hà Nội. Thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong
suốt quá trình tìm hiểu và thực hiện khóa luận cũng như giúp đỡ rất nhiều về tài liệu và
phương pháp nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô trong khoa Môi trường,
đặc biệt tới các thầy cô trong bộ môn Sinh thái Môi trường − Trường Đại học Khoa
học Tự nhiên − Đại học Quốc gia Hà Nội đã dẫn dắt, truyền thụ cho tôi những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu trong quá trình học tập tại trường.
Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Th.s Lê Xuân Ái −
giám đốc VQG Côn Đảo, anh Lê Hồng Doãn − hạt trưởng hạt kiểm lâm, anh Lê Bá
Lộc − nhân viên phòng DLST, cùng toàn thể các anh chị trong ban quản lý VQG Côn

IUCN
: Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế
KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
UBND
: Uỷ ban nhân dân
UNDP
: Chương trình phát triển Liên hợp quốc
VQG
: Vườn quốc gia
VQGCĐ : Vườn quốc gia Côn Đảo
WTO
: Tổ chức Thương mại Thế giới

MỤC LỤC

3


4


MỞ ĐẦU
Trong những thập niên gần đây, du lịch − ngành công nghiệp không khói có tốc
độ phát triển cực nhanh và dần trở thành nguồn thu hút ngoại tệ lớn của nhiều quốc gia
trên thế giới.
Theo thống kê của tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) và Hiệp hội lữ hành quốc
tế (WTTC), trong năm 2012 toàn ngành du lịch đóng góp tới 6.6 nghìn tỉ đô la Mỹ vào
GDP của toàn thế giới và cung cấp 260 triệu việc làm; ước tính năm 2023 con số này
có thể lên tới 10.5 nghìn tỉ đô la Mỹ đóng góp vào GDP, và hơn 340 triệu công việc
[17].

thực sự nhấn mạnh đến phát triển du lịch sinh thái. Đến năm 2008, Chương trình phát
triển Liên hợp quốc (gọi tắt là UNDP) và Quỹ Môi trường toàn cầu (gọi tắt là GEF)
khởi xướng đề án tư vấn “Xây dựng chiến lược định hướng phát triển du lịch bền vững
cho huyện Côn Đảo” đã thực sự thể hiện sự quan tâm đến loại hình du lịch này, với
mục tiêu đưa Vườn quốc gia Côn Đảo trở thành nơi tiên phong về quản lý du lịch sinh
thái tại Việt Nam.
Đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch sinh thái tại VQG Côn Đảo, tỉnh Bà
Rịa-Vũng Tàu” không nằm ngoài mục đích hỗ trợ cho sự phát triển du lịch sinh thái tại
VQG Côn Đảo. Việc đánh giá đúng tiềm năng, hiện trạng phát triển loại hình du lịch
này, trên cơ sở đó có những đề xuất cụ thể về mặt định hướng và giải pháp là vấn đề có
ý nghĩa thiết thực đối với VQG Côn Đảo trong thời gian tới.
* Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu của đề tài là nhằm tìm hiểu tiềm năng và hiện trạng phát triển của Du
lịch sinh thái tại VQG Côn Đảo, từ đó đề xuất những định hướng phù hợp để nâng cao
hiệu quả hoạt động của mô hình DLST, góp phần bảo tồn tài nguyên, bảo vệ môi
trường du lịch, đồng thời đem lại lợi ích lâu dài cho người dân địa phương.

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1.

Lịch sử hình thành DLST


Thuật ngữ “khách du lịch” hàm nghĩa là “một cá nhân du hành với mục đích
giải trí nhằm mở mang hiểu biết” xuất hiện vào khoảng năm 1800 và đến năm 1811 lần
đầu tiên từ “ du lịch” được đưa vào từ điển Oxford. Tuy nhiên, xuất xứ của hoạt động
này còn từ xa xưa hơn nữa vì nhân loại luôn có mong muốn đi du lịch, thăm viếng
những vùng đất xa lạ và tiếp xúc với những nền văn hóa khác nhau.
Thời Hy Lạp cổ, các nhà lữ hành như Herodotus (năm 484 − 425 trước Công
Nguyên) đã tới thăm các xứ sở và vùng đất bên ngoài quê hương mình và tường thuật

được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đây là
một khái niệm rộng, được hiểu theo những cách khác nhau từ những góc độ tiếp cận
khác nhau.
Trên thế giới
Hector Ceballos-Lascurain − một nhà nghiên cứu tiên phong về du lịch sinh
thái, định nghĩa khái niệm DLST lần đầu tiên vào năm 1987: “Du lịch sinh thái là du
lịch đến các khu vực tự nhiên ít bị ô nhiễm hoặc ít bị xáo trộn với những mục tiêu đặc
biệt như nghiên cứu, trân trọng và thưởng ngoạn phong cảnh và giới động-thực vật
hoang dã, cũng như khám phá các giá trị văn hoá (cả quá khứ và hiện tại) ở những khu
vực này” [14].
Theo chương trình DLST của IUCN: “Du lịch sinh thái học hay du lịch sinh thái
là sự đi lại, thăm thú những vùng thiên nhiên tương đối ít bị gây nhiễu loạn, theo một
cách có trách nhiệm đối với môi trường, nhằm vui thú và thưởng thức thiên nhiên (và
tất cả những đặc điểm văn hóa kèm theo) cả quá khứ lẫn hiện tại; những hoạt động đi
lại, thăm thú đó có tác dụng tăng cường việc bảo vệ môi trường, hạn chế tác động của
du khách đến môi trường, tạo điều kiện cho sự tham gia tích cực về mặt kinh tế, xã hội
của người dân địa phương theo một cách có lợi nhất” [14].
Theo Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (The International Ecotourism Society)
thì “DLST là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, góp phần bảo tồn môi
trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương” [21].
Ở Việt Nam
Năm 1999 trong khuôn khổ hội thảo xây dựng chiến lược quốc gia về phát triển
du lịch sinh thái đã đưa ra định nghĩa như sau: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch
thiên nhiên có mức độ giáo dục cao về sinh thái và môi trường có tác động tích cực đến
việc bảo vệ môi trường và văn hóa, đảm bảo mang lại các lợi ích về tài chính cho cộng
đồng địa phương và có đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn” [7].
Năm 2000, Lê Huy Bá cũng đưa ra khái niệm: “DLST là một loại hình du lịch
lấy các hệ sinh thái đặc thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du
lịch yêu thiên nhiên, du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ
sinh thái. Đó cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch

ở vùng sâu, vùng xa.
Tạo thêm công ăn, việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, góp phần
thúc đẩy phát triển làng nghề truyền thống và giải quyết được lao động thừa, góp phần
vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Cải thiện về cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội cho những địa phương phát triển
hoạt động du lịch sinh thái.


Khuyến khích sự trùng tu, tôn tạo các di sản văn hóa vật thể (các di tích, đền
tháp, đình chùa, lăng miếu); bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống (nhạc cụ dân
tộc, ca múa nhạc, các truyền thống, tập quán...).
Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao lưu văn hóa giữa các dân tộc và các
cộng đồng.
1.3.2. Tác động tiêu cực của DLST

Bên cạnh hiệu quả nhiều mặt mang lại, hoạt động du lich nói chung và hoạt
động DLST nói riêng nếu không được quản lý tốt tất yếu sẽ gây ra những hậu quả to
lớn như ô nhiễm môi trường, phá vỡ tính thống nhất và cân bằng của môi trường nhân
văn xã hội.


Các tác động lên môi trường tự nhiên
Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao như các khu rừng nhiệt đới với nhiều
loại thực động vật quý hiếm, các thác nước, các hang động thường hấp dẫn các du
khách nhưng dễ bị tổn thương do phát triển DLST đặc biệt là khi phát triển đến mức
quá tải.
Các hệ sinh thái của các môi trường ven biển đảo và các dòng sông cũng rất
nhạy cảm và dễ bị tổn thương do sức ép của sự phát triển DLST.
Việc xây dựng trên các cồn cát nhạy cảm gây xói mòn, thay đổi tính chất bờ và
gây mất khu hệ cư trú của cồn cát.

do việc phân bố lợi ích và chi phí của du lịch trong nhiều trường hợp chưa được cân
bằng.
Nảy sinh những nhu cầu mới trong đảm bảo an ninh quốc gia và an toàn xã hội.
1.4. Điều kiện phát triển DLST
Xuất phát từ định nghĩa và nguyên tắc của DLST, có thể tổng quát hóa các điều
kiện để phát triển DLST theo năm nội dung cơ bản sau đây:
Điều kiện thứ nhất: để có thể tổ chức tốt được loại hình DLST tại một điểm
đến điều kiện trước tiên ở đó phải tồn tại các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa
dạng sinh học cao, có sức hấp dẫn du khách. Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng
sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu khu vực và các động thực vật bao gồm: Sinh thái
tự nhiên (Natural Ecology); Sinh thái động vật (Animal Ecology); Sinh thái thực vật
(Plant Ecology); Sinh thái nông nghiệp điển hình (Agricultural Ecology); Sinh thái khí
hậu (Ecoclimate); Sinh thái nhân văn (Human Ecology).
Điều kiện thứ hai: nói lên tính chất quản lý tổ chức của con người
+ Đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhân lực trong hoạt động DLST. Để đảm bảo
tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn viên
du lịch ngoài khả năng về ngôn ngữ truyền đạt, còn là người có am hiểu các đặc điểm
sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng sở tại. Yếu tố này rất quan trọng và có ảnh
hưởng rất lớn đến đến hiệu quả của hoạt động DLST. Trong nhiều trường hợp, cần
thiết phải có sự cộng tác của người địa phương để có những hiểu biết tốt nhất truyền
đạt đến cho du khách.
+ Đòi hỏi người quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể. Trước đây các
nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có bất


kỳ cam kết nào cho việc bảo tồn hoặc quản lý các khu thiên nhiên, họ chỉ đơn giản là
tạo cho du khách cơ hội để tiếp cận những giá trị tự nhiên và văn hóa, mặc cho sau này
những giá trị đó suy giảm hay vĩnh viễn biến mất. Ngược lại các nhà điều hành và quản
lý DLST luôn có sự cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu bảo tồn
thiên nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tắc quản lý với mục

Hiện trạng phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung, những năm gần đây loại
hình DLST ở Việt Nam phát triển mạnh nhất là tại các VQG và KBTTN. Nhà nước đã
từng bước nâng cấp một số khu BTTN thành vườn quốc gia để thu hút đầu tư nước
ngoài và hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như KBTTN Bạch Mã (1991), Tràm
Chim (1998), Cát Bà (1991), Cát Tiên (1992)… Đồng thời sắp xếp lại các khu BTTN
để tăng cường các điểm DLST.
Một số chính sách có liên quan đến phát triển DLST được nhà nước ban hành
như Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế
quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số 104/2007/QĐ-BNN của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn về Quản lý các hoạt động DLST tại các VQG, KBTTN.
Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập, dẫn tới dự quản lý và tổ chức
nghèo nàn không hiệu quả của các hoạt động DLST và bảo tồn thiên nhiên.
Để điều hành hoạt động du lịch, một số VQG đã thành lập Ban du lịch hoặc
Trung tâm DLST và giáo dục môi trường. Cho đến nay, các hoạt động DLST thường
bao gồm: nghiên cứu, tìm hiểu các hệ sinh thái, tham quan tìm hiểu đời sống động thực
vật hoang dã và văn hóa bản địa. Tuy nhiên, du khách đến với các VQG mới chỉ tiếp
cận được các hệ sinh thái rừng, thực vật, một số loại côn trùng mà rất hiếm gặp thú
rừng.
Theo số liệu điều tra của đề tài nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu DLST ở Việt
Nam năm 2009, phần lớn khách du lịch đến các VQG và KBTTN là khách nội địa,
chiếm 80%. Chỉ có rất ít KBTTN thu hút được du khách quốc tế như KBTTN đất ngập
mặn Vân Long đã đón hơn 40 nghìn lượt du khách quốc tế [3].
Hiện tại hoạt động du lịch sinh thái tại Việt Nam còn mang tính tự phát, chưa có
sản phẩm và thị trường mục tiêu, chưa có đầu tư cho công việc xúc tiến và phát triển
công nghệ phục vụ cho DLST. Việc tổ chức du lịch sinh thái ở các VQG còn tùy tiện,
tức là thấy khu bảo tồn của mình có cảnh sắc thiên nhiên đẹp, có nhiều người xin thăm
quan là tổ chức thu tiền, không cần lập đề án không cần xây dựng cơ sở vật chất và
nguồn nhân lực (nơi đón tiếp, cán bộ hướng dẫn, sản phẩm du lịch…). Bên cạnh đó,
1.5.

tới 340C.
Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1300 − 2000mm/năm.
Số giờ nắng từ tháng 1 − 5 trên 200 giờ. Tháng 4 có số giờ nắng trung bình cao
nhất 268 giờ. Từ tháng 6 − 12 có số giờ nắng thấp hơn trung bình dưới 185 giờ. Số giờ
nắng trung bình năm khoảng 2400 giờ.


*Thủy văn: Côn Đảo không có sông rạch, chỉ có khoảng 60 con suối và 10 hồ
lớn nhỏ, lớn nhất là hồ Quang Trung (20 ha). Nước ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu
để dùng trong sinh hoạt cũng như trong các hoạt động kinh tế. Ngoài ra, hồ An Hải và
hồ Quang Trung cũng là hai nguồn cung cấp nước ngọt quan trọng.
Mực nước biển tại Côn Đảo dựa vào mực nước tại Vũng Tàu. Là vùng bán nhật
triều, chiều dài bờ biển 200km, độ mặn nước ven bờ 30%.
*Hải văn: Thuỷ triều của côn đảo thuộc bán nhật triều, mang tính dao động
không đều. Mùa hè từ tháng 5 − 8 độ lớn thuỷ triều cao. Mùa đông từ tháng 10 − 4,
thuỷ triều thấp. Sóng có hướng theo hướng gió, độ cao trung bình từ 1 − 2m. Sóng lừng
có thể lên tới gần 4m.

1.4.3 Kinh tế- xã hội

Cho tới trước năm 1975, Côn Đảo chỉ là nơi sinh sống của các gia đình công
chức thời chính quyền Sài Gòn, làm nhiệm vụ cai quản tù binh và tù chính trị. Từ khi
giải phóng đến nay, dân số trên đảo tăng do dân cư nhiều địa phương di cư đến.
Năm 2012, ở Côn Đảo có 6.717 người sinh sống trên phần đất nổi, chủ yếu ở
hòn Côn Lôn. Tốc độ tăng dân số cơ học trong giai đoạn 2001 − 2005 khá cao (11,8%/
năm) rồi giảm dần trong những năm gần đây. Hiện nay huyện Côn Đảo chưa có số liệu
thống kê chính thức về số dân thường xuyên sống và hoạt động kinh tế trên vùng biển.
Cơ cấu dân tộc: Đại đa số là người Kinh chiếm 98,1%, có nguồn gốc từ đất liền;
ngoài ra Khơme chiếm 1,7%, Êđê chiếm 0,1% và Tày chiếm 0,1%. Về tôn giáo có đạo
Thiên chúa và đạo Phật.

4,28

2011
6.500
1,08
3,08

2012
6.717
1,13
1,97

Cơ cấu các ngành kinh tế

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Giai đoạn năm 2006 − 2008 cơ
cấu kinh tế: dịch vụ-du lịch đạt 73,04%, xây dựng-công nghiệp đạt 17,48%, nông-lâm-


thủy sản đạt 9,47%. Giai đoạn 2009 − 2011: dịch vụ-du lịch đạt 86,53 %, công nghiệpxây dựng đạt 7,74 %, nông-lâm-thủy sản đạt 5,73 % [8].
Hình 1: Cơ cấu kinh tế huyện Côn Đảo giai đoạn 2009 − 2011 [8]


Tình hình giáo dục

Trong những năm gần đây, tình hình giáo dục trên địa bàn huyện ngày càng
được chú trọng. Cơ sở vật chất trường lớp được đầu tư khá tốt, hiện toàn huyện có 02
trường mầm non, 01 trường tiểu học, 01 trường THCS-THPT, 01 trung tâm giáo dục
thường xuyên. Đã hoàn thành phổ cập tiểu học cơ sở, phổ cập giáo dục trung học cơ sở
và trung học cơ sở. Các lớp đào tạo từ xa, các lớp tin học, ngoại ngữ đã được phục vụ
cho một số lao động có cơ hội được làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, năng

Các phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
* Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu
Đây là phương pháp được áp dụng trong quá trình làm đề tài, thu thập, thanh lọc
những tài liệu theo nội dung và yêu cầu cần tìm hiểu, sắp xếp theo từng đề mục, so
sánh, đối chiếu giữa các tài liệu và phân tích, chọn lọc, xử lý tài liệu. Thu thập các số
liệu, tài liệu qua các tài liệu từ những công trình nghiên cứu, những báo cáo đánh giá
của các tổ chức phi chính phủ đầu tư vào khu vực nghiên cứu.
*Phương pháp phân tích SWOT
(S: Strenghts, W: Weakness, O: Opportunities, T: Threats)
Phương pháp phân tích SWOT được sử dụng trong khóa luận, nhằm phân tích,
đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của việc phát triển du lịch sinh thái
tại VQG Côn Đảo.
Phối hợp các chiến lược:
Chiến lược S/O: phát huy điểm mạnh để tận dụng thời cơ
Chiến lược W/O: không để điểm yếu làm mất cơ hội
Chiến lược S/T: phát huy điểm mạnh để khắc phục, vượt qua thử thách
Chiến lược W/T: không để thử thách làm phát triển điểm yếu
* Phương pháp bảng biểu, bản đồ
Trong khóa luận có sử dụng các bản đồ, bảng biểu giúp cho việc trình bày nội
dung được rõ ràng, dễ hiểu hơn.
* Phương pháp khảo sát thực địa


Đây là phương pháp cần thiết để đề tài nghiên cứu mang tính thực tế và khả thi.
Phương pháp khảo sát thực địa cho phép chỉnh lý, bổ sung các tư liệu về tài nguyên, cơ
sở hạ tầng và các vấn đề liên quan khác mà việc phân tích tài liệu thứ cấp không đáp
ứng được. Phương pháp còn cung cấp tài liệu thực tế về đặc điểm tổ chức không gian
của địa bàn diễn ra hoạt động du lịch.

Trong diện tích đất rừng thì rừng cây gỗ lá rộng có diện tích 4.778 ha, rừng tre có diện
tích 109 ha và rừng ngập mặn 18 ha. Các đảo ở đây đều được che phủ bằng thảm thực
vật rừng có độ che phủ tới 92% diện tích tự nhiên, bắt đầu từ mép nước biển lên đến
đỉnh núi. Hệ sinh thái rừng của Vườn quốc gia Côn Đảo thuộc Hệ sinh thái rừng Nhiệt
Đới Hải Đảo, với hai kiểu rừng chính: Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới;
Kiểu rừng kín nửa rụng lá mưa ẩm nhiệt đới.
- Về thành phần thực vật rừng: Qua kết quả điều tra thành phần thực vật rừng
ở VQGCĐ các năm 1993, 1997 và 2000 của Phân viện điều tra Quy hoạch Rừng II
TP.HCM đã thống kê được 1.077 loài thuộc 640 chi của 160 họ thực vật bậc cao có


mạch, trong đó: cây gỗ 420 loài, cây bụi 273 loài, dây leo 137 loài, cây cỏ 137 loài,
khuyết thực vật 53 loài và thực vật phụ sinh 20 loài [6].
Các loài thực vật trên đại diện cho nhiều vùng trong cả nước như:
* Đại diện cho hệ thực vật bản địa miền Bắc Việt Nam gồm có các loài cây
trong họ Xoan (Meliaceae) tiêu biểu là loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) đây là loài
cây gỗ lớn, thuộc nhóm thực vật quý hiếm phân bố rộng trong rừng hỗn loài ở các tỉnh
Miền Bắc nước ta, nhưng ở các tỉnh Nam Bộ hầu như ít gặp.
* Đại diện cho các loài thực vật ở miền Đông Nam Bộ là những loài cây gỗ lớn
như: các loài cây trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Tử vi (Lythraceae). Trong đó
có loài Dầu Côn Sơn (Dipterocarpus condorensis) đây là loài cây gỗ lớn, thuộc loài
thực vật đặc hữu của Vườn quốc gia Côn Đảo và phân bố tự nhiên trên đảo Côn Sơn.
* Đại diện cho thực vật vùng đồng bằng sông Cửu Long như Đước xanh
(Rhizophora mucronata), Mắm trắng (Avicennia alba), Vẹt dù (Brughiera gymnorhiza),
Cóc vàng (Lumnitzera racemosa)… đại diện cho rừng ngập mặn và cây Tràm
(Melaleuca cajeputi) đại diện cho rừng ngập nước úng phèn.
- Về thành phần động vật rừng: Khu hệ động vật có xương sống trên cạn ở
Vườn quốc gia Côn Đảo đã thống kê được 160 loài thuộc 65 họ, 32 bộ. Trong đó, thú
có 29 loài thuộc 16 họ, 10 bộ; chim có 85 loài thuộc 32 họ, 17 bộ; bò sát có 38 loài
thuộc 13 họ, 4 bộ; ếch nhái có 8 loài thuộc 4 họ, 1 bộ.

là các giá trị về đa dạng sinh học với các “lát cắt” sinh học đặc sắc thể hiện tính đa
dạng, phong phú của hệ sinh thái rừng nhiệt đới-biển đảo như ở khu vực bãi Ông
Đụng, Đầm Tre và hòn Bảy Cạnh.
Bên cạnh đó giá trị về cảnh quan là giá trị nổi bật của tài nguyên du lịch sinh
thái ở VQG Côn Đảo. Những cảnh quan này có thể được chiêm ngưỡng tại nhiều điểm


trong VQG như Đầm Tre, bãi Ông Cường, bãi Đầm Trầu, bãi San Hô, bãi Ông Đụng,
đỉnh Thánh Giá, hòn Tre Lớn, hòn Bà, hòn Bảy Cạnh, hòn Cau,...
3.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn.

Nhân dân Việt Nam và một phần du khách quốc tế biết đến Côn Đảo với biệt
danh là “Địa ngục trần gian”. Trong suốt 113 năm thống trị (1862 − 1975), Thực dân
Pháp và Đế quốc Mỹ đã giam cầm, đày đọa hàng chục vạn chiến sĩ cách mạng và
những người yêu nước thuộc nhiều thế hệ. Chúng biến Côn Đảo thành địa ngục trần
gian khét tiếng.
Ngày 29-4-1979, Bộ Văn hoá Thông tin đã ra quyết định số 54/VH.QĐ đặc cách
công nhận khu di tích lịch sử Côn Đảo và công nhận đây là một trong những khu di
tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia. Tại Hội nghị ngày 23-8-1998 do UBND tỉnh chủ
trì đã thông qua đề án quy định khu vực bảo vệ Di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo với 20
địa điểm di tích trọng tâm. Sau đây là một số di tích tiêu biểu, được khai thác nhiều cho
du lịch:
-

Hệ thống nhà tù

Được thiết lập và xây dựng theo Nghị định ngày 1-2-1862 của đô đốc Bonard để
giam những người cộng sản trong suốt hơn 113 năm. Trong 20 năm sau cùng của nhà
tù này, Mỹ ngụy đã tăng quy mô từ 4 trại lên 8 trại, mỗi trại rộng từ 10.000 đến
25.000m2 cùng hàng chục trại phụ với 20 hầm đá, 14 xà lim, 31 gian biệt lập Chuồng

Chẳng hạn nhiều du khách đến tham quan các khu vực biển thuộc VQG bằng tàu từ các
khu du lịch nằm ngoài VQG hoặc tự thuê tàu riêng.
Trong đó có 10.127 khách Việt Nam và 2.767 khách nước ngoài. Khách du lịch
Việt Nam hiện đang chiếm ưu thế tại Côn Đảo; tuy nhiên, trong tương lai khách quốc
tế lại có tiềm năng hơn trong phát triển DLST: gần như cứ 2 trong 3 khách du lịch quốc
tế khi đến Côn Đảo thì sẽ đến tham quan VQGCĐ, trong khi chỉ có khoảng 1 trong 8
khách du lịch trong nước đến Côn Đảo sẽ đến tham quan VQG Côn Đảo. Trong tổng
số khách du lịch quốc tế đến VQGCĐ phần lớn là đến từ Châu Âu. Điều này thể hiện
sự quan tâm của khách du lịch quốc tế đến loại hình DLST tại thời điểm này là cao hơn
so với khách du lịch nội địa. Điều này là một thực tế bởi cho đến nay khách du lịch nội
địa ra Côn Đảo có số lượng không nhỏ là các đoàn các cựu chiến binh, lão thành cách
mạng, đoàn thể ra Côn Đảo với mục đích thăm lại nhà tù Côn Đảo nơi họ, các đồng chí
của họ đã từng bị giam cầm, chiến đấu.
Hình 3: Số liệu khách tham quan VQG Côn Đảo thời kỳ 2007 − 2012 [9]
Thu nhập du lịch: Các chương trình du lịch đến VQG Côn Đảo hiện nay
thường được chào ở mức giá từ 10 đô la Mỹ cho đến 40 đô la Mỹ tùy theo các hành
trình và các hoạt động. Với số khách là 3.795 (năm 2007), thì thu nhập du lịch còn khá
khiêm tốn nhưng trong thời gian gần đây, thu nhập đã tăng lên đáng kể.


Hình 4: Số liệu thu nhập du lịch giai đoạn 2007 − 2012 VQG Côn Đảo [9]
3.2.2. Tính mùa vụ

Du lịch Côn Đảo có tính mùa vụ rõ rệt. Gần nửa số khách du lịch (45%) tới
Côn Đảo trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 7. Nguyên nhân chủ yếu là do thời
tiêt đẹp và biển lặng. Cũng cần chú ý rằng đây là mùa du lịch hè đối với người Việt
Nam. Ngược lại khoảng thời gian từ tháng 12 đến tháng 2 thời tiết biến động và
thường có sóng lớn nên lượng khách tới Côn Đảo thấp.

Hình 5: Lượng khách du lịch đến VQG Côn Đảo các tháng trong năm

tối đa chứa được khoảng 1.106 khách.
Hiện nay các cơ sở lưu trú tại Côn Đảo vẫn còn giới hạn với một khu du lịch
năm sao, 1 khu ba sao, ba khu du lịch tương đương ba sao và các cơ sở còn lại là nhà
khách, khách sạn mini. Việc cung cấp phòng và giường hiện nay đáp ứng được nhu cầu
của du khách với công suất sử dụng phòng trung bình từ 40 − 50%. Trong mùa thấp
điểm công suất sử dụng phòng có thể giảm xuống đến 25% hoặc thấp hơn và trong
mùa cao điểm công suất sử dụng phòng khoảng 60%. Đáng lưu ý là vào dịp cuối tuần
trong mùa cao điểm các khách sạn luôn chật kín phòng.
Bảng thống kê công suất của các cơ sở lưu trú được nêu trong phụ lục 04.


Khả năng cung cấp nước ngọt

Nước ngọt hiện chỉ có với khối lượng hạn chế ở đảo Côn Sơn và hòn Cau,
không có đảo nào bên ngoài có nguồn nước ngọt. Trên đảo Côn Sơn có hai hồ nước
ngọt lớn cung cấp nước ngọt cho toàn huyện: hồ An Hải và hồ Quang Trung. Ngoài ra,
với 12 giếng khoan có chiều sâu không quá 25m thì công suất khai thác còn hạn chế là
4.500m3/ngày. Với nhu cầu của du khách và người dân địa phương ngày càng tăng
trong tương lai sẽ khiến cho việc cấp nước bị hạn chế trong những thời kỳ cao điểm.


Khả năng xử lý nước thải và chất

Hiện tại, việc quản lý môi trường ở Côn Đảo nói chung là rất kém. Hiện chưa có
công trình xử lý nước thải hiện đại nào ở Côn Đảo (ngoài các công trình tại Six Senses
Resort) và, mặc dù chất thải rắn và rác thải được thu gom nhưng việc đổ các loại rác và
chất thải này lại được coi là một vấn đề về môi trường.


Khả năng cung cấp điện

chưa cao. Ngoài ra, vì phần lớn du khách hiện tại đến với VQG Côn Đảo là khách
quốc tế nên phần lớn bảng diễn giải trên cả ba tuyến trên đều chỉ được thể hiện bằng
tiếng Anh.
• Nhân lực du lịch
VQGCĐ hiện tuyển dụng 108 nhân viên với hầu hết là nhân viên kiểm lâm.
Các nhân viên kiểm lâm thường kiêm luôn nhiệm vụ hướng dẫn viên du lịch. Tuy
nhiên, trình độ chuyên môn và đặc biệt là tiếng Anh của các nhân viên này còn rất
thấp. Trước đây, Quỹ Động vật hoang dã thế giới WWF đã hỗ trợ VQGCĐ đào tạo về
du lịch ở trình độ cơ bản, nghiệp vụ hướng dẫn viên du lịch và kiến thức cơ bản về
động vật hoang dã. Khi du lịch phát triển nhanh chóng ở Côn Đảo và khách du lịch
muốn thăm các khu vực chính của VQGCĐ thì nhu cầu cho các chương trình đào tạo
về du lịch như quản lý tua, khách du lịch và bảo tồn động vật hoang dã càng trở nên
cấp thiết.
Hình ảnh các công trình phục vụ DLST hiện có tại VQGCĐ được minh họa ở phụ
lục 02.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status