BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
===o0o===
ĐÀO VĂN CHIÊU
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH
TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ HỒNG BÀNG
===o0o===
ĐÀO VĂN CHIÊU
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH
TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA
Chuyên ngành
: VIỆT NAM HỌC
Mã số chuyên ngành : 60220113
Hƣớng dẫn Khoa học : PGS.TS. Huỳnh Quốc Thắng
trọng tới các thầy cô, cán bộ làm việc tại viện đào tạo sau đại học trƣờng Đại
học Quốc tế Hồng Bàng đã mở ngành Việt Nam Học, tận tình giảng dậy và tạo
các điều kiện để tác giả đƣợc theo học và có kết quả nghiên cứu nhƣ hôm nay.
Trân trọng cảm ơn.
Đào Văn Chiêu
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................................ i
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................................. ii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................... 1
1.
Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề .................................................................. 4
3.
4.
5.
Mục đích nghiên cứu............................................................................................ 4
Đối tƣợng nghiên cứu .......................................................................................... 4
Phạm vi nghiên cứu .............................................................................................. 5
ĐÔNG TRIỀU QUẢNG NINH TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA ............... 36
2.1 Hệ thống các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã Đông Triều tỉnh Quảng
Ninh đối với hoạt động du lịch văn hóa ...................................................................... 36
iii
2.1.1. Di tích kiến trúc - nghệ thuật ....................................................................... 36
2.1.2.
Di tích kiến trúc lịch sử - văn hóa ........................................................ 53
2.1.3. Di tích danh lam thắng cảnh ........................................................................ 55
2.2 Tình hình hoạt động du lịch văn hóa gắn với di tích lịch sử văn hóa tại
Đông Triều Quảng Ninh ............................................................................................. 58
2.2.1 Về cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật ................................................................ 58
2.2.2 Cơ sở lƣu trú, ăn uống, dịch vụ tham quan du lịch ........................................ 61
2.2.3 Về tổ chức quản lý ......................................................................................... 65
2.2.4 Về chất lƣợng và sản phẩm du lịch ................................................................ 68
2.2.5 Về hiệu quả kinh doanh du lịch...................................................................... 72
CHƢƠNG 3: ĐỊNH HƢỚNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI
THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU THỈNH QUẢNG NINH ................................................................. 78
THÔNG QUA DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA ..................................................................... 78
3.1. Đánh giá chung .................................................................................................. 78
3.1.1 Những thành tựu ............................................................................................. 78
3.1.2 Những hạn chế ............................................................................................... 80
3.1.3 Phân tích SWOT về phát triển du lịch văn hóa tại thị xã Đông Triều
tỉnh Quảng Ninh. .................................................................................................... 83
3.2. Quan điểm, định hƣớng phát triển ..................................................................... 83
3.2.1. Phát triển du lịch văn hóa phải trên cở sở xử lý mối quan hệ giữa bảo
tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa. ................................................. 83
3.2.2. Mối quan hệ hữu cơ và tƣơng tác giữa phát triển du lịch và bảo tồn,
phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa ............................................................. 84
yếu tố hiện đại nhƣ: Tour du lịch thƣờng gắn với các điểm tham quan mang nặng
tính vui chơi, mới lạ với các trò chơi cảm giác mạnh, nghỉ dƣỡng tại những khách
sạn sang trọng đầy đủ tiện nghi, các bữa ăn với thực đơn tuy phong phú hấp dẫn
nhƣng lại không có những món ăn mang dấu ấn của ẩm thực địa phƣơng… Những
sản phẩm du lịch hiện đại này trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nƣớc là không thể thiếu để góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế, xã hội, giúp Việt Nam hòa nhập với các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
Nhƣng Việt Nam là đất nƣớc có lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ
nƣớc, trải dài trên mảnh đất hình chữ S là một tiềm năng phát triển du lịch vô cùng
to lớn không chỉ đến từ vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên mà còn từ nguồn tài nguyên
nhân văn phong phú, đa dạng. Nguồn tài nguyên đó chính là các lễ hội truyền thống,
là những phong tục tập quán của 54 dân tộc anh em, là các di tích lịch sử văn hóa.
Do vậy việc phát triển loại hình du lịch văn hóa đã đƣợc Đảng, nhà nƣớc đặc biệt
quan tâm.
Khi cuộc sống của con ngƣời ngày càng đƣợc nâng cao, xã hội đã hiện đại
1
hóa, bên cạnh các tour du lịch mà ngƣời trong nghề thƣờng gọi là du lịch năm sao,
du lịch cao cấp hay du lịch tận hƣởng với đầy đủ tiện nghi và đƣợc phục vụ tới chân
tơ kẽ tóc thì một bộ phận lớn các du khách lại có nhu cầu trở về với những tour du
lịch cội nguồn để khám phá và tìm hiểu những nét đẹp văn hóa, lịch sử truyền thống
cũng đã trở thành một nhu cầu tất yếu. Khi du khách tham gia vào những tour du lịch
tìm về cội nguồn thì họ luôn có nhu cầu tham quan, khám phá các di tích lịch sử văn
hóa, các lễ hội, làng nghề truyền thống của mỗi vùng đất họ đạt chân tới. Và các
ngành các cấp chính quyền địa phƣơng, những ngƣời hoạt động trong ngành du lịch
tại những điểm tham quan này cũng luôn cố gắng mang đến cho du khách có đƣợc
sự thỏa mãn cao nhất về nhu cầu hiểu biết, tìm hiểu khám phá của họ về những nét
đẹp văn hóa, những giá trị lịch sử lâu đời, những danh nhân văn hóa qua các thời đại
của vùng đất họ đang tham quan.
Suốt chiều dài thăng trầm của lịch sử đã để lại trên đất nƣớc chúng ta hàng
tích đền An Sinh và Quần Thể Lăng Mộ Các Vua Trần đƣợc công nhận là di tích cấp
quốc gia đặc biệt), 15 di tích xếp hạng cấp tỉnh, còn lại 110 di tích đã đƣợc kiểm kê
và có hồ sơ lƣu trữ, các khu di tích trải rộng trên địa bàn 4 xã: Thuỷ An, An Sinh,
Tràng An và Bình Khê.
Từ những số liệu trên, có thể thấy rằng thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh là
địa phƣơng có số lƣợng các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc loại
lớn nhất tỉnh. Bản thân mỗi di tích này lại ẩn chứa trong nó những giá trị to lớn về
mặt tâm linh, nhân văn sâu sắc, cao cả và mang ý nghĩa giáo dục văn hóa sâu sắc.
Chính những giá trị này là tiềm năng to lớn trong việc khai thác, phát triển để biến
nó thành sản phẩm du lịch văn hóa cho hiện tại và tƣơng lai. Tuy nhiên hoạt động du
lịch văn hóa gắn với các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã Đông Triều tỉnh Quảng
Ninh trong những năm qua vẫn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng vốn có, chƣa khai
thác đƣợc hết những giá trị mà bản thân các di tích lịch sử văn hóa này mang lại.
Với mục đích tìm hiểu các di tích lịch sử văn hóa tại thị xã Đông Triều tỉnh
Quảng Ninh trong hoạt động du lịch văn hóa để từ đó nêu lên những ƣu điểm cần
phát huy, hạn chế cần khắc phục và từ đó đƣa ra những định hƣớng, giải pháp phát
triển nhằm bảo tồn và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng
cảnh góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch văn hóa của thị xã Đông Triều nói
riêng, tỉnh Quảng Ninh và vùng du lịch Bắc Bộ nói chung. Tác giả luận văn quyết
định chọn và nghiên cứu đề tài “Di Tích Lịch Sử Văn Hóa tại thị xã Đông Triều, tỉnh
Quảng Ninh trong hoạt động Du Lịch Văn Hóa” làm luận văn tốt nghiệp cao học của
mình.
3
2. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Trƣớc tác giả đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch và di tích tại
Quảng Ninh nói chung, Đông Triều nói riêng nhƣ: Luận văn thạc sỹ Phát Triển Du
Lịch Văn Hóa Tại Tỉnh Quảng Ninh của tác giả Đồng Thị Huệ, đề tài Tìm Hiểu Các
Di Tích Lịch Sử Văn Hóa ở huyện Đông Triều - Quảng Ninh của tác giả Nguyễn
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là: 8 di tích đã đƣợc xếp hạng cấp
quốc gia theo tiêu chí là di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, thắng cảnh và một số di
tích khác mà tác giả luận văn qua khảo sát thấy có lƣợng du khách tham quan khá
4
đông trong thời gian gần đây.
5. Phạm vi nghiên cứu
-
Phạm vi không gian: Luận văn tập trung tìm hiểu, nghiên cứu chính 8 về
di tích đƣợc xếp hạng cấp quốc gia và một số di tích xếp hạng cấp tỉnh có lƣợng
khách tham quan du lịch tƣơng đối lớn, những di tích còn lại đã kiểm kê có hồ sơ
lƣu trên toàn địa bàn thị xã Đông Triều tỉnh Quảng Ninh nhằm phục vụ cho việc
phát triển du lịch.
-
Phạm vi thời gian: Số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ năm 2001 đến năm
2015, là giai đoạn (Nghị quyết 08 năm 2001 của Ban Thƣờng vụ tỉnh ủy tỉnh Quảng
Ninh về đổi mới phát triển du lịch) đƣợc ban hành.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
-
Để hoàn thành luận văn này tác giả luận văn đã tiếp cận đề tài từ góc độ
nghiên cứu liên ngành Việt Nam học chủ yếu là Văn hóa học kết hợp Du lịch học,
-
Từ hệ thống các di tích tại Đông Triều Quảng Ninh tác giả đề xuất hình
thành tuyến điểm du lịch thích hợp trong lộ trình tham quan của du khách
-
Nêu lên định hƣớng, chiến lƣợc và có những đề xuất, giải pháp, kiến nghị
5
với các cấp quản lý nhằm thúc đẩy du lịch của Đông Triều Quảng Ninh ngày càng
phát triển
8. Bố cục luận văn
-
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng:
Chƣơng I: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng II: Hiện trạng di tích lịch sử văn hóa tại Đông Triều - Quảng
Ninh trong hoạt động du lịch văn hóa
Chƣơng III: Định hƣớng, giải pháp phát triển du lịch văn hóa tại Đông
Triều - Quảng Ninh gắn với di tích lịch sử văn hóa
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan,
tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định). Khác với quan
7
điểm trên, các học giả biên soạn từ điển bách khoa toàn thƣ Việt Nam (1966) đã tách nội
dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt với nhau nghĩa hiểu nhƣ sau.
Từ những khái niệm trên ta thấy về cơ bản du lịch hàm chứa những nội dung tiêu
biểu nhƣ sau:
- Du lịch là một hiện tƣợng kinh tế xã hội;
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lƣu trú ngoài nơi ở thƣờng xuyên
của các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú đa dạng nhằm
phục vụ cho các cuộc hành trình, lƣu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân
hoặc tập thể khi họ ở ngoài cƣ trú thƣờng xuyên của họ;
- Các cuộc hành trình, lƣu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều
đồng thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
Căn cứ vào những nội dung tiêu biểu của du lịch nhƣ đã trình bày ở trên
chúng ta có thể tạm hiểu rằng du lịch có những chức năng nhƣ sau:
1.1.2. Chức năng của du lịch
Du lịch cũng nhƣ bất kỳ các hoạt động nào khác, nó luôn mang trong
mình những chức năng riêng của nó. Chúng ta có thể sắp xếp các chức năng cơ bản
của du lịch thành bốn nhóm tƣơng ứng với bốn chức năng nhƣ sau: Nhóm xã hội,
nhóm kinh tế, nhóm sinh thái và nhóm chính trị.
- Nhóm 1: Chức năng xã hội:
Chức năng xã hội của du lịch thể hiện ở vai trò giữ gìn sức khỏe, góp phần
Chức năng kinh tế còn đƣợc thể hiện qua doanh thu toàn ngành du lịch và số
lƣợng khách du lịch đến Việt Nam trong những con số cụ thể nhƣ sau: Ngày
15/01/2016, Tổng cục Du lịch tổ chức họp báo về tình hình hoạt động của ngành du
lịch năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016, tại buổi họp báo này Tổng cục
trƣởng Tổng cục du lịch Việt Nam ông Nguyễn Văn Tuấn cho biết: Năm 2015 mặc
dù toàn ngành còn phải đối mặt với nhiều khó khăn nhƣng với sự phấn đấu của tập
thể ngành dƣới sự lãnh đạo của Đảng và nhà nƣớc tập trung cho phát triển du lịch.
Việt Nam đã đón ƣớc đạt hơn 7,94 triệu lƣợt khách quốc tế, con số này tăng trƣởng
0,9% so với cùng kỳ. Khách du lịch nội địa đạt 57 triệu lƣợt khách. Tổng doanh thu
từ du lịch trong năm 2015 đạt 338 ngàn tỷ đồng. Từ kết quả của năm 2015 ngành du
lịch phấn đấu năm 2016 đón 8,5 triệu lƣợt khách quốc tế, phục vụ 60 triệu lƣợt
khách nội địa và doanh thu toàn nghành đạt 370 ngàn tỷ đồng [3], với sự tăng
trƣởng của ngành du lịch ngày 25/12/2016 tại cảng hàng không quốc tế Phú Quốc
trên chuyến bay VN 1815 lãnh đạo bộ VH – TT&DL cùng đại diện chính quyền
tỉnh Kiên Giang, huyện đảo Phú Quốc đã đón vị khách quốc tế thứ 10 triệu đến
9
Việt Nam.
Đây có thể coi là một nỗ lực to lớn của toàn ngành du lịch trong điều kiện kinh
tế đất nƣớc còn nhiều khó khăn, cơ sở vật chất đầu tƣ cho du lịch còn nhiều hạn chế,
điều kiện khách quan là các dịch bệnh nhƣ Zika đang diễn ra ở nhiều quốc gia có
nguồn khách đến Việt Nam đông, vấn đề chính trị nhiều lúc còn ảnh hƣởng tới hoạt
động du lịch đặc biệt là lƣợng khách Trung Quốc, sự sụp giảm lƣợng khách Nga và
một số thị trƣờng trọng điểm…
- Nhóm 3: Chức năng sinh thái:
Chức năng sinh thái của du lịch đƣợc thể hiện trong việc tạo nên môi trƣờng
sống ổn định về mặt sinh thái. Du lịch là hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí,
chữa bệnh… do đó, ngành du lịch phải đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trƣờng ổn
lịch cũng có đề cập là du lịch góp phần phục hồi sức khỏe, đảm bảo tái sản xuất,
mở rộng lực lƣợng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt. Phát triển du lịch còn tạo ra
công ăn, việc làm và tạo điều kiện tăng thêm thu nhập cho cộng đồng nhân dân địa
phƣơng vì chính họ là ngƣời tham gia vào các dịch vụ du lịch.
- Phát triển du lịch còn góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của
địa phƣơng vì khi khai thác các nguồn tài nguyên để phục vụ du lịch đòi hỏi đi kèm
là phát triển đồng bộ hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ tại chỗ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách.
- Thông qua du lịch, con ngƣời đƣợc thay đổi môi trƣờng, có ấn tƣợng
và cảm xúc mới, thoả mãn đƣợc trí tò mò, đồng thời mở mang kiến thức, đáp
ứng lòng ham hiểu biết, do đó góp phần hình thành phƣơng hƣớng đúng đắn trong
mơ ƣớc sáng tạo, trong kế hoạch tƣơng lai của mình.
- Phát triển du lịch còn góp phần giáo dục thế hệ trẻ lòng yêu quê hƣơng
đất nƣớc vì thông qua các chuyến tham quan du khách có dịp tìm hiểu về lịch sử,
văn hóa, truyền thống của dân tộc mình.
- Phát triển du lịch có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn và phát huy các di
sản văn hoá lịch sử, các danh lam thắng cảnh của một dân tộc. Bởi khi có doanh thu
từ hoạt động du lịch thì sẽ có nguồn để tái đầu tƣ cho công tác bảo tồn trùng tu, tôn
tạo các di tích đó.
- Thông qua hoạt động du lịch con ngƣời hiểu nhau nhiều hơn, họ xích lại
gần nhau hơn trong mỗi chuyến đi, họ có điều kiện khám phá, tìm hiểu nền văn hóa
nơi họ tới từ đó làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị giữa các quốc gia, củng cố
nền hoà bình của các dân tộc trên thế giới.
1.1.4. Phân loại du lịch
- Trong “Nhập môn khoa học du lịch” Trần Đức Thanh đã phân chia các
11
loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản và cách phân chia này cũng đƣợc đa số các
của con ngƣời từ thuở sơ khai và đƣợc phát triển cho tới ngày nay. Chỉ hai từ “Văn
hoá” thôi nhƣng lại chứa đựng trong nó một nội hàm rộng lớn với rất nhiều cách
hiểu khác nhau, liên quan đến mọi đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Sở
dĩ có những cách hiểu khác nhau về văn hóa là do nhiều nguyên nhân nhƣ: Nhận
thức của ngƣời hiểu khác nhau về trình độ văn hóa, động cơ nhận thức khác nhau
hay góc độ tiếp cận của họ khác nhau. Trong phạm trù văn hóa thì phƣơng Đông và
phƣơng Tây cũng có cách hiểu khác nhau. Nhƣng theo nhiều tài liệu thì ngƣời sử
dụng từ văn hóa sớm nhất có lẽ là Lƣu Hƣớng ở thời Tây Hán (206 TCN - 25 SCN)
với nghĩa nhƣ một phƣơng thức giáo hóa con ngƣời – văn trị giáo hóa và có thể coi
là đối lập với vũ lực. Còn ở phƣơng Tây trong tiếng Nga có từ kuitura, kuitura lại
xuất phát từ tiếng Latinh là chữ cultus animi mang nghĩa là trồng trọt tinh thần. Vậy
chúng ta có thể hiểu rằng cultus là văn hóa mang trong mình nó hai khía cạnh là:
Trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay
cộng đồng để con ngƣời không còn là con vật nhƣ bản chất tự nhiên khi họ sinh ra,
và trải qua quá trình đào tạo đó họ có những phẩm chất tốt đẹp hơn.
12
-
Mặc dù từ văn hóa đã ra đời và đƣợc sử dụng trong cả ngôn ngữ phƣơng
Đông và phƣơng Tây từ rất sớm nhƣ đã trình bày nhƣng phải đến thế kỷ thứ XVIII,
từ “Văn hoá” mới đƣợc đƣa vào khoa học, sử dụng nhƣ một thuật ngữ khoa học.
Tuy vậy việc xác định và sử dụng các khái niệm về văn hóa không đơn giản và cho
đến nay có rất nhiều khái niệm về văn hóa.
-
Năm 1952, trong công trình văn hoá : “Tổng luận phê phán các quan niệm
lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: Tƣ tƣởng và tình cảm, đạo đức với
phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý
thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến
đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh”[5]
13
-
Trần Ngọc Thêm đã đƣa ra một định nghĩa về văn hoá nhƣ sau: “Văn hoá là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích
luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi
trƣờng tự nhiên và xã hội của mình”. Chúng ta có thể thấy từ định nghĩa này đã nêu
bật 4 đặc trƣng quan trọng của văn hoá: Tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử, tính
nhân sinh. Từ những cách hiểu về văn hóa, cách định nghĩa về văn hoá nhƣ trên và
nhiều định nghĩa, khái niệm chƣa đƣợc trích dẫn trong luận văn này , ta có thể tạm
quy văn hóa về hai loại. Văn hoá hiểu theo nghĩa rộng nhƣ lối sống, lối suy nghĩ, lối
ứng xử…Văn hoá hiểu theo nghĩa hẹp nhƣ văn học, văn nghệ, học vấn… và tuỳ
theo từng trƣờng hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau.
1.2.2. Các đặc trưng và chức năng của văn hóa
-
Tính hệ thống là đặc trƣng đầu tiên của văn hoá. Đặc trƣng này cần để phân
biệt hệ thống với tập hợp. Chính nhờ có tính hệ thống mà văn hóa với tƣ cách là
một đối tƣợng bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện đƣợc một trong ba
chức năng cơ bản của mình là chức năng tổ chức xã hội. Chính văn hoá thƣờng
xuyên làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phƣơng tiện cần
thiết để ứng phó với môi trƣờng tự nhiên và xã hội của mình. Nó là nền tảng của xã
nó bao giờ cũng hình thành trong một quá trình và đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ.
Chính nhờ vào tính lịch sử đã tạo cho văn hóa có một bề dày và một chiều sâu, nó
buộc văn hóa phải thƣờng xuyên tự điều chỉnh và tiến hành phân loại, phân bố lại
các giá trị. Tính lịch sử đƣợc duy trì bằng truyền thống văn hóa, truyền thống là
những giá trị tƣơng đối ổn định đƣợc tích lũy và tái tạo trong cộng đồng ngƣời qua
không gian và thời gian, đƣợc đúc kết thành khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dƣới
dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, pháp luật… Truyền thống văn hoá tồn
tại nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng thứ tƣ của văn hoá. Văn hoá
thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định, mà còn bằng
những giá trị đang hình thành. Hai loại giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn
mực mà con ngƣời hƣớng tới. Nhờ đó mà văn hoá đóng vai trò quyết định trong
việc hình thành nhân cách. Từ chức năng giáo dục, văn hoá có chức năng phát sinh
là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
1.2.3. Phân loại văn hóa
Trong văn hóa thì Luật Di sản văn hóa lại chia thành di sản văn hóa vật thể
và di sản văn hóa phi vật thể:
-
Theo Luật Di sản văn hóa của nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam, điều 4.2 có nêu Di sản văn hoá vật thể là: “Sản phẩm vật chất có giá trị lịch
sử, văn hoá, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh và di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”.
-
Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại, nó mang dấu ấn
của một cộng đồng thể hiện đời sống tinh thần của con ngƣời dƣới hình thức vật
chất, văn hóa vật thể chính là kết quả của cả một quá trình lao động, sáng tạo để
biến những chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có giá trị sử dụng và
có thể sử dụng. Nguồn sử liệu tại các di tích văn hóa - nghệ thuật tạm thời có thể
chia ra làm hai, đó là sử liệu trực tiếp từ bản thân di tích và sử liệu từ các di vật có
trong di tích.
+ Di tích lịch sử cách mạng – kháng chiến: Là một bộ phận cấu thành trong
hệ thống các di tích lịch sử văn hoá. Tuy nhiên nó có những điểm khác với các di
tích tôn giáo tín ngƣỡng nhƣ đình, đền, chùa, miếu… ở chỗ: Đó là những địa điểm
cụ thể, công trình kiến trúc có sẵn …những di tích ghi lại một sự kiện quan trọng
của lịch sử cách mạng địa phƣơng, có ảnh hƣởng tới sự phát triển của phong trào
địa phƣơng, khu vực hay cả quốc gia nhƣ: Di tích lịch sử cách mạng nhƣ: Chiến khu
Tân Trào, Khu di tích chiến thắng Điện Biên Phủ, địa đạo Củ Chi, thành cổ Quảng
16
Trị…
+ Các loại danh lam thắng cảnh: Theo điều 4 của Luật Di sản văn hóa thì:
“Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa
cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ,
khoa học”
-
Di sản văn hoá phi vật thể: Theo điều 4 của Luật Di sản 2013 đƣợc quốc
hội thông qua trong văn bản hợp nhất 10/VBHN – VPQH 2013 định nghĩa di sản
văn hóa phi vật thể là: “Sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật
thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện
bản sắc của cộng đồng, không ngừng đƣợc tái tạo và đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức
khác” [6].
nhạc, các tri thức dân gian nhƣ y học cổ truyền, nghệ thuật ẩm thực, những hiểu biết
về mặt thiên nhiên…
-
Tính đến hết năm 2015 Việt Nam đã có 10 di sản văn hóa phi vật thể đƣợc
UNESCO ghi danh bên cạnh đó còn là 8 di sản văn hóa vật thể nhƣ:
+
Nhã nhạc cung đình Huế, đƣợc UNESCO ghi danh vào tháng 11 năm
2003 là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại. Đây là thể loại nhạc đƣợc
sử dụng trong cung đình phong kiến Việt Nam dƣới triều Nguyễn, loại hình nghệ
thuật này thƣờng chỉ đƣợc biểu diễn vào các dịp lễ hội của triều đình nhƣ: Lễ đăng
quang, băng hà của nhà vua, các lễ hội tế trời, đất… đây cũng là loại hình văn hóa
đầu tiên của Việt Nam đƣợc UNESCO ghi danh.
+
Nghi lễ kéo co đƣợc ghi danh vào năm 2015. Đây là hồ sơ di sản đa quốc
gia đầu tiên Việt Nam tham gia đệ trình và đƣợc UNESCO chấp nhận vì nghi lễ kéo
co này đất nƣớc chúng ta tham gia đệ trình cùng với Camphuchia, Hàn Quốc,
Philippins.
+
Dân ca quan họ Bắc Ninh đƣợc UNESCO vinh danh vào tháng 09 năm
2009.
đất Việt, thể hiện lòng thành kính, biết ơn, tƣởng nhớ của con cháu đến tổ tiên trong
sự nghiệp dựng nƣớc và giữa nƣớc.
+
Đàn ca tài tử Nam Bộ: Đƣợc UNESCO vinh danh là di sản văn hóa phi
vật thể của nhân loại vào tháng 12/2013. Tính đến hết quý 1 năm 2016 Nam Bộ của
Việt Nam mới có duy nhất loại hình Đàn ca tài tử Nam Bộ đƣợc vinh danh.
+
Dân ca ví – giặm Nghệ Tĩnh: Đƣợc UNESCO vinh danh là di sản văn hóa
phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 27/11/2014, đây là loại hình đƣợc vinh
danh với 100% số phiếu của các thành viên tham gia kỳ họp thứ 9 của Ủy ban Liên
chính phủ về bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể ở Paris (Pháp) tán thành. Loại hình
nghệ thuật này ở hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh của Việt Nam.
+
Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên: Đƣợc UNESCO vinh
danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11/2015, loại
hình văn hóa này diễn ra tại 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên của Việt Nam là: Gia
Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Đắk Nông. Vùng Tây Nguyên theo nhiều nhà
nghiên cứu coi là vùng văn hóa duy nhất tại Việt Nam hiện nay không bị ảnh hƣởng
của các nền văn hóa lớn nhƣ: Ấn Độ, Trung Hoa, Hy Lạp, La Mã. Chủ thể của
không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên là các dân tộc bản địa sinh sống từ
ngàn đời nay trên mảnh đất này nhƣ: Ê đê, Ba Na, Mạ, Lặc…
- Từ 10 di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc UNESCO công nhận tại Việt
Nam nhƣ trình bày ở trên chúng ta có thể thấy sản phẩm văn hóa phi vật thể mang