Phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia xuân thủy nam định - Pdf 41

Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

1

MỞ ĐẦU

Hiện nay, một trong những vấn đề nổi cộm ở các vùng ĐNN trên thế giới là
việc tồn tại một mâu thuẫn giữa các nhà quản lí- những người đang nỗ lực để bảo
tồn và phát triển các hệ sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học với những cư dân địa
phương mà nguồn sống của họ gần như dựa hoàn toàn vào các nguồn lợi thủy sản từ
bao đời nay .
Vấn đề là làm thế nào để dung hòa được mâu thuẫn này và tạo được mối quan
hệ tin cậy trên tinh thần hợp tác giữa những nhà quản lý và người dân địa phương
để hướng đến sự phát triển bền vững và bảo tồn TNTN nơi đây. Do vậy, việc tìm ra
những sinh kế mới, những phương thức sử dụng khôn ngoan các nguồn tài nguyên
phục vụ cho cuộc sống của cộng đồng địa phương mà không làm tổn hại đến đa
dạng sinh học, đang được các nhà quản lý quan tâm và nghiên cứu.
DLST đang được xem như là một phương thức giải quyết hữu hiệu các vấn đề
nêu trên qua đó nâng cao cuộc sống của người dân và làm cho họ càng ngày càng ý
thức hơn với công tác bảo tồn thiên nhiên.
Nhận thức được tầm quan trọng của DLST nên nhiều VQG đã tiến hàn nghiên
cứu xây dựng quy hoạch và triển khai nhiều dự án DLST. VQG Xuân Thủy-Khu
RAMSAR đầu tiên ở Việt Nam và là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Đất ngập
nước ven biển liên tỉnh châu thổ sông Hồng đã và đang tiến tới phát triển DLST để
cải thiện sinh kế cho người dân địa phương. Tuy nhiên, những định hướng và các
hoạt động còn mới ở giai đoạn đầu.
Vì vậy, đề tài “Xây dựng sản phẩm sinh thái tại VQG Xuân Thủy-tỉnh Nam
Định” cũng không nàm ngoài mục đích hỗ trợ cho sự phát triển DLST một cách
hiệu quả hơn và góp phần vào công tác bảo tồn thiên hiên và phát triển cộng đồng ở

1.1. Lịch sử hình thành DLST
Vào khoảng năm 1800 trên thế giới bắt đầu xuất hiện thuật ngữ khách du lịch.
Nhưng cho đến năm 1811 thì lần đầu tiên từ “du lịch” mới được đưa vào từ điển
Oxford. Tuy nhiên về nguồn gốc của hoạt động này đã có từ trước đó rất lâu những
du khách đến tham quan VQG Yellowstone và Yosemite hàng thế kỷ trước chính là
những nhà DLST dầu tiên.
Vào thế kỉ 20 do sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp đánh dấu bằng
sự xuất hiện của những chiếc xe hơi đã kích thích hoạt động du lịch phát triển hơn
nữa. Thêm vào đó là sự ra đời của nhiếp ảnh, đó là một phương tiện quảng cáo hữu
hiệu, nó đưa ra chứng cứ bằng những hình ảnh quyến ruxveef những nơi kì diệu xa
lajvaf bắt đầu thu hút những người ưa thích phiêu lưu mạo hiểm muốn được xem
tận mắt những nơi kì diệu đó. Tuy nhiên bước ngoặt quan trọng là sự xuất hiện của
những chuyến bay thương mại, cho phép ngày càng nhiều người từ nhiều nơi trên
thế giới đi đến những vùng đất xa xôi mà trước đó họ không thể đến được.
Và cũng từ đây do sự bùng nổ số lượng khách du lịch đã làm cho ngành du
lịch bắt đầu chuốc lấy tiếng xấu vì sự phát triển thiếu tính toán làm rối loạn các vấn
đề kinh tế xã hội, làm suy thoái các giá trị tự nhiên và văn hóa địa phương.
Cho tới lúc này những quan điểm về nhành công nghiệp xanh đã bị xem xét lại
do dân chúng ngày càng quan tâm đến môi trường, họ e ngại vì du lịch quy mô lớn
ngày càng gây tác động tiêu cực đến môi trường. Từ đó nảy sinh một hình thức du
lịch khác với quy mô nhỏ hơn, một hình thức du lịch có trách nhiệm, với môi
trường và CĐĐP. Đó chính là Du lịch sinh thái (DLST)
K53 - Khoa học môi trường

3


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam như sau:
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa , gắn với
giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự
tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [1].
Đây được coi là sự mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo trong quá trình
phát triển của DLST ở Việt Nam.
Mặc dù những khái niệm về DLST trên thế giới còn nhiều điểm chưa thống
nhất và trong tương lai sẽ hoàn thiện dần cùng quá trình phát triển và nhận thức.
Song những đặc tính cơ bản nhất của DLST theo tổ chức Du lịch thế giới (WTO)
tóm tắt lại như sau:
• DLST bao gồm tất cả những hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên mà
ở đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìm hiểu về tự
nhiên cũng như các giá trị văn hóa truyền thống ở các vùng thiên nhiên
đó
• Bao gồm các hoạt động giáo dục môi trường và diễn giải môi trường
• Thông thường, DLST được tổ chức cho các nhóm nhỏ du khách. Các
công ty lữ hành trong và ngoài nước, với quy mô khác nhau đều có thể
tổ chức, điều hành, hoặc quảng cáo các tuyến DLST
• DLST hạn chế đến mức thấp nhất các tác động tiêu cực đến môi trường
tự nhiên và văn hóa-xã hội
• Hỗ trợ cho công tác bảo tồn các vùng tự nhiên
• Tạo ra lợi ích kinh tế cho cộng đồng, các tổ chức và các cơ quan quản
lý vùng tự nhiên vì mục tiêu bảo tồn
• Tạo ra các cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho CĐĐP
K53 - Khoa học môi trường


• Có thể là động lực thúc đẩy sự đầu tư của chính phủ và đơn vị tư nhân
K53 - Khoa học môi trường

6


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

để thành lập các KBTTN tương tự.
• DLST cũng là một cộng cụ giáo dục môi trường, mà đối tượng giáo dục
là du khách và cả CĐĐP . Mục tiêu của giáo dục là nâng cao nhận thức
cho du khách và người dân địa phương về giá trị tự nhiên , văn hóa.
• DLST tạo công ăn việc làm mới cho CĐĐP để họ không tham gia các
hoạt động phá hủy các hệ sinh thái và đe dọa đến các nguồn tài nguyên
thiên nhiên.
• DLST sẽ tạo cho du khách có một ấn tượng tuyệt vời mà họ sẽ muốn có
được khi đi tham quan những nơi khác, qua đó giúp cho công tác bảo
tồn thiên nhiên ở những nơi khác.
1.3.2. Những tác động tiêu cực đối với môi trường
Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, DLST vẫn còn những hạn chế
đặc biệt là khi DLST phát triển, vì xét trên khía cạnh kinh tế DLST cũng là một
hình thức kinh doanh thương mại. Và khi nó đạt đến mức phát triển, đương nhiên sẽ
có những tác động không tốt đến môi trường tự nhiên và xã hội. Một số tác động có
thể dễ dàng thấy
• Mất đất sản xuất(nông nghiệp hay NTTS) do sự gia tăng các hoạt động
du lịch.
• Gây tổn thương các hệ sinh thái.
• Gây ảnh hưởng đến da dạng sinh học.

lốc lớn kèm theo sóng biển dâng cao khi triều cường.
1.4.2. Khí hậu - thuỷ văn
Vùng ven biển có rừng ngập mặn ở huyện giao Thuỷ, tỉnh Nam Định có địa
hình dốc từ Bắc xuống Nam, dài từ Tây sang Đông. Độ cao trung bình từ 40,5 40,7 cm, điểm cao nhất là Cồn Lu có độ cao +1,5m so với mực nước biển.
* Khí hậu: Vùng ven biển giao Thủy nằm trong miền nhiệt đới gió mùa, khí
hậu phân thành hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, trùng với mùa
mưa; mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, trùng với mùa khô.
K53 - Khoa học môi trường

8


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

* Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 24oC; nhiệt độ cao nhất trong mùa hè
40,3oC; nhiệt độ thấp nhất trong mùa đông 6,8oC. ẩm độ trung bình 84%. Một số
mô hình sử dụng hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học.
* Lượng mưa: Trung bình năm 1700-1800m; Số ngày mưa trong năm là 133
ngày.
* Gió: Về mùa đông thịnh hành là hướng Bắc, đầu mùa hè là hướng Đông sau
chuyển hướng Đông Nam và Nam. Tốc độ gió: Mùa đông từ 3,2 - 3,9 m/s (trong đất
liền 2,0-2,5m/s), mùa hè từ 4,0 - 4,5 m/s (trong đất liền 2,3-2,6m/s); tốc độ gió lớn
nhất trong khi có bão, giông tố lên tới 45-50m/s (trên cấp 12).
* Thủy văn: Độ mặn ven bờ bãi độ mặn biến đổi rất lớn từ 11-30‰. Sự biến
thiên của độ mặn còn tùy thuộc vào các tháng trong năm và không gian cụ thể của
từng vùng bãi. Cự li xâm nhập mặn ở hàm lượng 1‰ NaCl vào sâu tới 10km và ở
hàm lượng 4‰ tới 5km.
Thủy triều: Chế độ thủy triều ảnh hưởng rất sâu sắc đến hoạt động của người

gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước xã/thôn; 2,39% tham gia đánh cá biển, và
số ít còn lại làm các nghề khác như: buôn bán, làm thuê, nuôi thuỷ sản, khai thác
thuỷ sản tự do ngoài bãi... Như vậy, các chủ hộ ở đây phần lớn là làm nông nghiệp
nhưng đây là vùng ven biển chị ảnh hưởng của nhiều hiện tượng thời tiết bất
thường. Theo như người dân cho biết, trung bình một năm chịu ảnh hưởng trực tiếp
từ 4-6 cơn bão, do đó sản xuất nông nghiệp ở đây gặp rất nhiều khó khăn, không ổn
K53 - Khoa học môi trường

10


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

định [6].
Hiện trạng các nguồn thu nhập :

Hình 2: Thu nhập từ các nghề của người dân vùng đệm VQG Xuân Thủy
Tuy từng loại nguồn thu nhập hay nghề nghiệp khác nhau mà đem lại các mức thu
K53 - Khoa học môi trường

11


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

nhập khác nhau cho một hộ trong khu vực, nhưng nhìn chung nguồn thu/năm của


Những cánh rừng ngập mặn giàu có về đa dạng sinh học với nhiều loài động thực
vật quý hiếm là những lợi thế to lớn để phát triển du lịch sinh thái tại Vườn Quốc
gia Xuân Thủy (Nam Ðịnh), khu bảo tồn dự trữ sinh quyển đất rừng ngập mặn.
Nằm trên địa phận huyện Giao Thủy, ngay tại cửa Ba Lạt của sông Hồng, Vườn
quốc gia Xuân Thủy cách Hà Nội 150 km về phía đông nam, là rừng ngập mặn đầu
tiên ở Việt Nam được quốc tế công nhận theo Công ước RAMSAR, rừng ngập mặn
thứ 50 của thế giới[4]. Khu vực vùng lõi của vườn là diện tích đất ngập mặn trên ba
cồn cát cửa sông là cồn Ngạn, cồn Lu và cồn Xanh thuộc xã Giao Thiện. Toàn bộ
vùng đệm và vùng lõi của Vườn nằm trên địa phận các xã Giao Thiện, Giao An,
Giao Lạc, Giao Xuân và Giao Hải. Diện tích toàn bộ vườn khoảng 7.100 ha, gồm:
3.100 ha diện tích đất nổi có rừng và 4.000 ha đất rừng ngập mặn.[8]
Khu vực này được hình thành tự nhiên do phù sa sông Hồng đổ ra biển gặp dòng
hải lưu dồn tụ chất màu của đất vào đây. Hạt của nhiều loại cây ngập mặn bồng
bềnh trên mặt biển theo sóng dạt vào, khi gặp đất tốt, hạt nảy mầm nối nhau thành
rừng ngập mặn. Ðó là lý do mà rừng ngập mặn ở đây gồm nhiều loại cây như: trang
sú, bần, muồng biển, lau sậy... Các cây này tham gia chắn sóng tạo điều kiện cho
hàng chục loại rong tảo phát triển, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao. Kho
thức ăn vô tận mà thiên nhiên ban tặng đã thu hút nhiều loài quý trong vùng sinh sôi
nảy nở. Rừng ngập mặn thật sự có vai trò hết sức quan trọng, tạo dựng sinh cảnh,
nơi nhân giống và dự trữ thức ăn phong phú cho nhiều loại động vật, đem lại lợi ích
kinh tế đáng kể cho khu vực.
Ngay khi bước vào Xuân Thủy, du khách sẽ bắt gặp những đàn cò, nhiều loài chim
mầu sắc sặc sỡ đang tìm mồi giữa bãi lầy. Hằng năm có tới khoảng 100 loài chim di
13
K53 - Khoa học môi trường


Nguyễn Hoàng Diệu Linh


14


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

Đây là phương pháp cần thiết để đề tài nghiên cứu mang tính thực tế và khả thi.
Phương pháp khảo sát thực địa cho phép chỉnh lý, bổ sung các tư liệu về tài nguyên,
cơ sở hạ tầng và các vấn đề liên quan khác mà việc phân tích tài liệu thứ cấp không
đáp ứng được. Phương pháp còn cung cấp tài liệu thực tế về đặc điểm tổ chức
không gian của địa bàn diễn ra hoạt động du lịch. Tuy nhiên, do còn hạn chế về thời
gian và điều kiện nên việc khảo sát thực địa mới chỉ được tiến hành ở một số nơi
tiêu biểu trên địa bàn nghiên cứu.

4

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Khám phá tiềm năng du lịch ở VQG Xuân Thủy
Tài nguyên du lịch tự nhiên
Hệ sinh thái đất ngập nước ở VQG Xuân Thuỷ đạt được ba điều nhất đó là: “Đa
dạng sinh học cao nhất, năng suất sinh học lớn nhất đồng thời cũng là hệ sinh thái
nhạy cảm nhất”.[7]
Khu RAMSAR Xuân Thuỷ có hệ thực vật khá phong phú & đa dạng. Từ kết quả
điều tra sơ bộ cho thấy ở đây có trên 120 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có
gần 20 loài thích nghi với điều kiện sống ngập nước hình thành nên hệ thống rừng
ngập mặn rộng trên 3000 ha. Có những loài thực vật chính tiêu biểu cho hệ sinh thái
rừng ngập mặn như cây Trang ,Sú , Bần chua, Mắm biển, Cóc kèn... Ngoài những
giá trị bảo tồn cao, rừng ngập mặn còn là nơi ươm giống, cung cấp thức ăn và môi

sinh kinh tế của cộng đồng vùng đệm ở VQGXT.
Về thú có trên một chục loài, trong đó có 3 loài quý hiếm là: Rái cá, Cá heo, Cá đầu
ông sư.[7]
Tài nguyên du lịch nhân văn
Cùng với sự phong phú của tài nguyên du lịch tự nhiên. VQG Xuân Thủy có
rất nhiều tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị có thể kết hợp trong các tour du lịch.
Trước hết, trên đường đi đến thành phó Nam Định du khách có thể tham quan đền
Nhà Trần-nơi còn lưu giữ lại những chứng tích về một triều đại hưng thịnh vào bậc
K53 - Khoa học môi trường

16


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Du khách cũng có thể tham quan chùa
Tháp , đền Bảo Lộc, chùa Cổ Lễ, Phủ Dày…Tiện đường đến VQG, du khách còn có
cơ hội thăm tòa thánh Phú Nhai ở huyện Xuân Trường là một trong những tòa thánh
lớn nhất Đông Nam Á được xây dựng từ năm 1930. Đến đây , du khách sẽ chiêm
ngưỡng và cảm nhận được hết vẻ đẹp và sự kì vị của công trình kiến trúc đồ sộ này.
Khách du lịch sinh thái còn có cơ hội thăm quan trường dòng Bùi Chu. Nơi đây
cùng với nhà thờ Phát Diệm là hai cái nôi đầu tiên của Thiên chúa giáo ở Việt Nam
và cũng là nơi có thể cho chúng ta cái nhìn tổng quát về lịch sử phát triển và ảnh
hưởng của thiên chúa giáo ở nước ta.
Một điểm văn hóa-lịch sử khác cũng rất có ý nghĩa để kết hợp trong các tour du
lịch, đó là nhà lưu niệm có tổng bí thư Trường Chinh tại thôn Hành Thiện,xã Xuân
Hồng. Đây là nơi gắn bó và còn lưu giữ những kỉ niểm thời ấu thơ của người.
Trước hết, khi đến với VQG Xuân Thủy, du khách có thể ghé thăm tượng đồng

trọn Tour du lịch trên, du khách sẽ cảm nhận đầy đủ về mảnh đất và con người của
một vùng quê văn hiến, từ đó mà trân trọng hơn truyền thống , góp phần tích cực
gìn giữ những giá trị vĩnh hằng của nền văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú
của địa phương , đồng thời cũng là những di sản qúy giá của quốc gia và quốc tế.
Hiện trạng hoạt động du lịch
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch hoàn toàn mới mẻ đối với sự phát triển
du lịch ở nước ta. Do vậy chưa hề có thống kê chính xác cho loại hình du lịch này.
Tuy nhiên có thể thấy rằng số lượng khách tới tham quan, du lịch VQG chủ yếu là
Du lịch sinh thái.
Hiện trạng khách du lịch tới VQG
Hàng năm VQG đón từ 3000-5000 khách tới thăm quan nghiên cứu. Các
hoạt động du lịch chính mà khách thường sử dụng là quan sát chim, đi thuyền, tham
quan, nghiên cứu rừng ngập mặn.
Khách du lịch quốc tế
Bảng 1: Số lượng khách quốc tế đến VQG Xuân Thuỷ[10].
Năm

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

Khóa luận tốt nghiệp

Từ năm 2003 đến 2011, khách quốc tế đến VQG Xuân Thuỷ tăng nhưng không đều
qua các năm. Cao nhất là năm 2007, chiếm 15,27% tổng số khách trong 9 năm, thấp
nhất là năm 2005, chỉ chiếm 5,9%.Trung bình có khoảng 30-40 đoàn/ năm và khách
đến từ gần 30 quốc tịch khác nhau. Khách có quốc tịch đông nhất là Anh, chiếm
16,18% tổng số khách quốc tế đến VQG trong gần 9 năm, tiếp theo là Mỹ, chiếm
12,4 %, Bỉ chiếm 11,5%,…Đặc biệt trong vài năm gần đây, lượng khách Đông Nam
Á đến đây tăng đáng kể.
Những năm trước, phần lớn du khách là những nhà khoa học về sinh học (nghiên
cứu chim, rừng ngập mặn và thuỷ sinh) nhưng hiện nay đã có sự thay đổi đáng kể,
lượng khách đến VQG để quan sát chim chiếm tỷ lệ cao nhất (trên 80%). Khách
thường đến vào mùa chim di trú (tháng 9, 10 năm trước – tháng 3, 4 năm sau), theo
thông tin trên mạng Internet hoặc qua các công ty lữ hành như Sài Gòn Tourist,
Dalat Tourist, Vido Tour, Sao Mai, Hoàn Kiếm... Nhìn chung lượng khách quốc
tế còn nhỏ và ít có khách đi theo Tour du lịch sinh thái.
Bảng 2: Số lượng khách quốc tế đến VQG Xuân Thuỷtừ năm 2003 – 2011 theo
quốc tịch[10].
Quốc
tịch

Anh

Mỹ

Bỉ

Đức

Úc


121

158

*Ghi chú: Số lượng khách nêu trên ,mới chỉ là những đối tượng đăng ký tạm trú
ở VQG, còn khoảng 60-100% đối tượng khách quốc tế đến VQG thông qua đối
tượng khác, chỉ thăm chú và làm việc trong ngày, không đăng ký tạm trú, nên
VQG không có số liệu thống kê báo cáo đầy đủ về các đối tượng này.
K53 - Khoa học môi trường

19


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

Khách du lịch nội địa
Bảng 3: Số lượng khách du lịch nội địa đến VQG Xuân Thuỷ từ năm
2003 – 2011[10].
Năm

2003

2004

2005

2006

chủ yếu là khách đi du lịch thiên nhiên chứ chưa phải đã có động cơ du lịch sinh
thái đích thực. Thông thường khách nội địa đến tham quan nghiên cứu là học sinh,
sinh viên, cán bộ nhân viên đến từ khối các cơ quan nhà nước và con em địa
phương đi xa về thăm quê. Số lượng khách hàng năm thường từ 3000 – 5000 lượt
khách, khoảng 200 đoàn/ năm.
Từ các kết quả trên có thể thấy số lượng khách đến VQG Xuân Thuỷ là quá nhỏ bé
so với tiềm năng sẵn có ở đây. Do vậy, việc xây dựng các chiến lược phát triển du
lịch là rất cần thiết.
Tính mùa vụ trong du lịch:
Bảng 4: Số lượng khách nước ngoài đến VQG Xuân Thuỷ từ năm 2003 – 2011 (tính
theo quý)[10].
STT

Năm /Quý

1

2

3

4

1

2003

78

0


2006

30

19

31

54

5

2007

114

28

16

61

K53 - Khoa học môi trường

20


Nguyễn Hoàng Diệu Linh


77

21

25

59

8

2011

98

37

19

42

10

Tổng

648

172

153


việc… còn có Tivi, Điều hoà nhiệt độ, nước nóng. Còn lại là những phòng nghỉ
trung bình (dùng chung công trình phụ).
Hệ thống phòng nghỉ tại VQG Xuân Thuỷ có thể phục vụ được khoảng 15-25
khách/ đêm.
Điều thú vị nữa là: trong chuyến tham quan VQG Xuân Thuỷ, du khách có thể nghỉ
tại nhà dân nếu muốn tận hưởng không khí trong lành, yên ả của một làng quê. Tại
xã Giao Xuân có 8-12 phòng nghỉ với trang thiết bị khá đầy đủ, đảm bảo có thể
phục vụ cùng một lúc tối thiểu là 16 khách và cao nhất là 30 khách. Những người
dân tham gia phục vụ khách du lịch đã được tham gia những khoá tập huấn về
nghiệp vụ du lịch, có khả năng đón tiếp khách chu đáo. (điều tra thực địa 2012)
Dịch vụ ăn uống
Đến tham quan VQG Xuân Thuỷ, du khách có cơ hội được thưởng thức
những món ăn mang đậm hương vị biển. Đó là những món ăn được chế biến từ
những loại thuỷ hải sản do người dân địa phương khai thác được trong khu vực
VQG như: tôm, cua, cá, ngao, mực … Món ăn không chỉ ngon, rẻ, đảm bảo vệ sinh
mà cách trang trí cũng hết sức được chú trọng.
Tại VQG đã có một phòng ăn rộng, có thể phục vụ được nhiều thực khách trong
cùng một thời điểm. (điều tra thực địa 2012)
Dịch vụ vui chơi giải trí và dịch vụ bổ sung
Do DLST là loại hình du lịch có tính chất chuyên biệt, du khách đến đây chủ
yếu tập trung vào những đối tượng mà họ quan tâm chứ ít chú ý đến các hoạt động
khác.Vì vậy các hoạt động vui chơi giải trí và các dịch vụ bổ sung chưa phát triển.
Trong khi đó các dịch vụ như bán đồ lưu niệm, cho thuê đồ lại rất cần thiết bởi nó
góp phần vào sự thành công của Tour du lịch cũng như tuyên truyền, quảng bá các
sản phẩm du lịch ở đây. Mỗi khách du lịch đều muốn mang về một vật kỷ niệm nào
đó để đánh dấu cho chuyến đi, đồng thời thông qua đó hình ảnh du lịch ở đây sẽ
K53 - Khoa học môi trường

22


nên mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn
K53 - Khoa học môi trường

23


Nguyễn Hoàng Diệu Linh

Khóa luận tốt nghiệp

nghiệp vụ cho cán bộ của mình, nhưng chất lượng thực hiện công việc chưa cao,
đặc biệt là trình độ giao tiếp bằng Anh ngữ của cán bộ nhân viên còn hạn chế. Hiện
nay, Vườn mới chỉ có các cán bộ được học Anh văn bằng B Streamline, trong khi
đó yêu cầu về ngoại ngữ đối với mảng du lịch là hết sức cần thiết, đặc biệt là tiếng
Anh chuyên ngành.

Phân tích SWOT trong phát triển du lịch tại VQG Xuân Thuỷ
Phân tích SWOT ( SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ
tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ
hội) và Threats (Thách thức)) là một kỹ thuật phân tích rất mạnh trong việc xác
định Điểm mạnh, Điểm yếu , Cơ hội và Nguy cơ. Đối với VQG Xuân Thủy bên
cạnh rất nhiều điểm mạnh và cơ hội thì cũng có không ít những điểm yếu và thách
thức trong việc phát triển du lịch sinh thái.
Điểm mạnh và cơ hội:
Khu RAMSAR đầu tiên của Việt Nam.
Môi trường tương đối chưa bị ảnh hưởng và có phong cảnh đẹp.
Khu vực có nhiều tài nguyên du lịch - tự nhiên, văn hóa và lịch sử.
Chính phủ và địa phương ủng hộ việc phát triển du lịch bền vững.
Giao thông từ tất cả các nơi đến đê quốc gia, tiếp giáp với ranh giới VQG khá thuận
lợi.

dịch vụ khác như : đi lại, ăn uống,bán hàng, văn nghệ...
Điểm yếu và thách thức
Từ ranh giới đê quốc gia đi ra vùng lõi của VQG thì đường còn xấu. Con đường này
cùng với các trục đường chính từ thành phố Nam Định dẫn đến VQG Xuân Thủy đã
vag đang được nâng cấp tôn tạo xây dựng.
Hệ thống đê bao bằng đất đã được bê tông hóa một phần-đây là tuyến đường bộ duy
nhất có trong khu vực dùng để tuần tra bảo vệ và phục vụ khách tham quan du lịch,
xe ô tô không thể đi được và vào những ngày trời mưa việc đi lại cũng còn gặp
nhiều khó khăn.
K53 - Khoa học môi trường

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status