ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LA THỊ MỘNG LINH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ - TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LA THỊ MỘNG LINH
NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
VƯỜN QUỐC GIA U MINH HẠ - TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN ĐÌNH HÒE
Hà Nội, 2014
5
MỞ ĐẦU……………………………………………………………
6
1.Lý do chọn đề tài…………………………………………………….....
6
2.Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………….....
7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………….......
7
4. Phạm vi nghiên cứu………………………………………………….....
8
5. Lịch sử nghiên cứu khoa học....................................................................
9
6. Kết cấu luận văn.......................................................................................
12
21
1.3.3. Philippin : Bảo vệ môi trường và phát triển du lịch.............................
21
1.3.4. Namibia : Biến kẻ săn trộm thành người bảo vệ..................................
21
1.4. Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế cho DLST ở VN……………..........
22
1.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………….....
24
1.5.1. Phương pháp thu thập và thừa kế tài liệu về du lịch sinh thái
1.5.2. Phương pháp tham vấn chuyên gia và người dân địa phương về du lịch sinh thái
1.5.3. Phương pháp tham vấn bằng bảng câu hỏi (anket)
1
1.5.4. Phương pháp quan sát các dấu hiệu đặc trưng trên thực địa (điền dã)
1.5.5. Phương pháp đánh giá độ hấp dẫn du lịch sinh thái (chỉ số TAM)
Tiểu kết chương 1....................................................................................
27
2.2.1. Hệ sinh thái đặc thù tự nhiên ………………………………………..
35
* Động vật
* Thực vật
2.2.2. Các giá trị lịch sử- văn hóa ………………………………………….
45
* Các di tích lịch sử
* Các làng nghề truyền thống
* Văn hóa, tín ngưỡng
2.3.Thực trạng DLST VQG U Minh Hạ.................................................
51
2.3.1. Nhu cầu phát triển DLST tại .VQG U Minh Hạ …................. …..
51
2.3.2. Sản phẩm du lịch sinh thái ……………………………………….
52
2.3.3. Nhân sự - lao động du lịch…………………………………………
54
2.3.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch……………………………..
3.1.1. Triết lý của du lịch sinh thái Vườn Quốc gia U Minh Hạ ……………..
64
3.1.2. Bảo vệ tài nguyên môi trường du lịch sinh thái………………………..
65
3.1.3. Tăng cường đóng góp cho cộng đồng địa phương…………………….
67
3.1.4. Huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương ……………………
69
3.2. Đề xuất các giải pháp để phát triển du lịch sinh thái
Vườn Quốc Gia U Minh Hạ ……………………………………………….
70
3.2.1. Phát triển thêm các tuyến, điểm du lịch sinh thái……………………..
70
3.2.2. Tổ chức dịch vụ lưu trú, phát triển du lịch Homestay…………………
72
3.2.3. Tăng cường năng lực vận tải du khách………………………………..
PHỤ LỤC.......................................................................................................
85
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT:
BVMT
=
Bảo vệ môi trường
VQG
=
Vườn Quốc gia
DLST
=
Du lịch sinh thái
DLBV
=
=
(Khu) Dự trữ sinh quyển thế giới
NXB
=
Nhà xuất bản
UNWTO
=
(United Nation- World Tourism Organization)Tổ chức
=
(United
Du lịch Thế giới
UNESCO
Nation
Education
Science
and
38
Bảng 2.2.
Tiêu chí tăng hấp dẫn DLST ở
40
VQG U Minh Hạ
Bảng 2.3.
Tiêu chí giảm hấp dẫn DLST ở
41
VQG U Minh Hạ
Bảng 2.4
Số lượng khách du lịch từ 2009- 2013
42
Bảng 25.
So sánh VQG U Minh Hạ với các
44
VQG ở ĐBSCL
Bảng 2.6
Frangialli, Tổng thư kí Tổ chức Du lịch Thế giới Liên hợp quốc.
Du lịch thiên nhiên ở các nước phát triển là một ngành kinh doanh sinh lợi, ở
Mỹ hàng năm đón khoảng 270 triệu khách đến các VQG, Canada cũng khoảng 30
triệu với doanh thu hàng chục tỉ USD. Đối với nhiều nước đang phát triển, DLST
đóng vai trò quan trọng trong việc thu ngoại tệ. Ở Costa Rica hằng năm DLST đem
lại khoảng 500 triệu USD đứng sau xuất khẩu chuối. [1 ; Tr.3]
Việt Nam có nhiều cảnh quan đặc sắc và các hệ sinh thái điển hình, có nhiều
tài nguyên du lịch tự nhiên như các bãi biển, các VQG, các khu bảo tồn thiên
nhiên… đã và đang được khai thác sử dụng để phục vụ phát triển du lịch trong đó
có DLST. Ngày 26/05/2009 UNESCO đã công nhận Khu dự trữ sinh quyển Thế
giới Mũi Cà Mau là khu Ramsar của Thế giới (Vườn Quốc gia U Minh hạ nằm
6
trong Khu DTSQTG Mũi Cà Mau) là vì thế việc phát triển du lịch sinh thái không
nằm ngoài những tác động nêu trên.
Các năm qua, việc nghiên cứu trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn về du
lịch sinh thái ở nước ta nói chung chỉ mơí bước đầu, dưới dạng những nghiên cứu
nhỏ lẻ, thiếu tính hệ thống. Đặc biệt những nghiên cứu về phát triển du lịch sinh thái
tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ hầu như chỉ dừng lại ở các bài viết trên báo và các
trang báo mạng, chưa có nghiên cứu theo hướng một công trình khoa học. Vì vậy
việc nghiên cứu sâu hơn các cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm phát triển DLST ở
Vườn Quốc Gia U Minh Hạ là hết sức quan trọng và cần thiết. Cần có những chiến
lược phát triển DLST tại VQG U Minh Hạ một cách bền vững nhằm phát huy lợi
thế của VQG mà vẫn bảo tồn được những giá trị mang tính chất toàn cầu của một
Khu Dự Trữ Sinh Quyển Thế Giới. Đó chính là lí do đề tài ‘Nghiên cứu phát triển
du lịch sinh thái Vườn Quốc Gia U Minh Hạ - tỉnh Cà Mau” được lựa chọn cho
luận văn này.
nước ngoài về du lịch sinh thái, du lịch bền vững. Ngoài ra tác giả cũng tiến hành
khảo sát thực tế nhiều đợt, tham vấn ý kiến các nhà quản lý , du khách và người địa
phương.
Việc tổ chức khảo sát thực tế tại các địa bàn thuộc VQG U Minh Hạ để hỗ trợ
đánh giá thực trạng khách du lịch- DLST, qua đó phát hiện bức tranh về DLST đang
có nhiều mãng sáng tối, chưa phối hợp hài hòa và thiếu tính bền vững. Làm rõ tiềm
năng, tài nguyên DLST, hiện trạng DLST tại VQG U Minh Hạ, làm rõ nguyên nhân
hiện trạng thiếu bền vững và nhu cầu phát triển của DLST tại VQG này.
Đề xuất giải pháp nhằm phát triển DLST tại VQG U Minh Hạ theo hướng bền
vững.
Luận văn đã phân tích đứng trên bình diện xuyên suốt với nguyên tắc hướng
đến tối ưu khai thác tài nguyên DLST trong phạm vị luật pháp quy định và tận dụng
tài nguyên hiện có để xây dựng mối liên hệ phát triển DLST bền vững.
4.Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi không gian: các hệ sinh thái còn hoang sơ có giá trị du lịch sinh
thái tại VQG U Minh Hạ thuộc hai huyện Trần Văn Thời và U Minh tỉnh Cà Mau.
8
4.2. Phạm vi khoa học: DLST đã và đang phát triển ở Việt Nam, song thực tế
còn rất mới và phát triển chưa nhiều. Hoạt động DLST khá đa dạng, phức tạp vì
tính nhạy cảm cao của loại hình du lịch này tác động đến môi trường và liên quan
đến nhiều lĩnh vực hoạt động của xã hội. Do đó, đề tài tập trung vào nghiên cứu và
đánh giá thực trạng, tiềm năng, tìm hiểu nguyên nhân và nhu cầu phát triển DLST
từ đó đưa ra các đề xuất và giải pháp để phát triển du lịch sinh thái hữu hiệu đối với
phạm vi nghiên cứu.
5. Lịch sử nghiên cứu DLST
5.1. Giới thiệu tổng quát tình hình nghiên cứu về DLST
Nghiên cứu về du lịch sinh thái phục vụ cho việc phát triển du lịch tuy mới
tích về nguồn tài nguyên của Việt Nam có thể đưa vào khai thác du lịch, bên cạnh
đó tác giả cũng phân tích một số điểm mạnh và yếu và những tác động từ du lịch
mang lại cho môi trường. Tác giả cũng cung cấp thông tin tham khảo cho công tác
hoạch định chính sách, quản lý, điều hành, hướng dẫn du lịch và cho công tác
nghiên cứu về du lịch sinh thái.
Đề án Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam và
Nghiên cứu đề xuất tiêu chí khu DLST Việt Nam của Viện Nghiên cứu Phát Triển
Du lịch ( 2007), đã khái quát một số vấn đề lý luận về du lịch sinh thái, các
nguyên tắc phát triển du lịch sinh thái và các điều kiện để phát triển, đề án cũng đã
rút ra kinh nghiệm từ một số nước phát triển loại hình du lịch sinh thái trên thế giới
và đề xuất tiêu chí khu du lịch sinh thái ở Việt Nam.
Đề án Quy hoạch du lịch Cà Mau đến năm 2020 tầm nh n 2030 của Sở Văn
hóa Thể thao và Du lịch (2013)…cũng đã đưa du lịch sinh thái trở thành một trong
những sản phẩm du lịch chiến lược cần tập trung phát triển bên cạnh các loại hình
du lịch đặc thù khác. Tổng hợp được toàn bộ các lý luận cơ bản về phát triển du lịch
sinh thái ; đề xuất quy trình xây dựng và phát triển, nguyên tắc phát triển thương
hiệu điểm đến du lịch. Đề án cũng phân tích, đánh giá hai chiều, làm rõ thực trạng
du lịch Cà Mau; So sánh cạnh tranh khu vực và đúc rút được các giá trị đặc trưng và
10
cốt lõi thương hiệu phù hợp; Đề xuất các giải pháp cụ thể về quản lý phát triển du
lịch sinh thái và quảng bá truyền thông. Đề xuất các giải pháp hỗ trợ phát triển du
lịch sinh thái, nâng cao nhận thức về phát triển du lịch kết hợp với bảo vệ môi
trường.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các tác giả nói trên, những năm
qua còn có nhiều bài viết về du lịch sinh thái được đăng trên các bài báo và mạng xã
hội cũng đề cập về vấn đề bảo tồn và phát triển du lịch sinh thái tại VQG U Minh Hạ.
Tuy nhiên, trên đây chỉ là những bài viết, những quyển sách đã xuất bản chủ
Chương 2. Thực trạng Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia U Minh Hạ
Trình bày những tiềm năng phát triển du lịch sinh thái và phân tích hiện tài
nguyên và hiện trạng khai thác loại hình du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia U Minh
Hạ tỉnh Cà Mau.
Chương 3. Giải pháp phát triển Du lịch sinh thái tại Vườn Quốc gia U
Minh Hạ theo hướng bền vững
Trình bày những định hướng khai thác, những giải pháp cần thiết nhằm khắc
phục những hạn chế và phát huy thế mạnh của Vườn quốc gia U Minh Hạ trong
hoạt động du lịch.
12
Chương 1. CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
1.1.1. Khái niệm chung
“Du lịch sinh thái” (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới nhưng đã
mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác
nhau. Cho đến nay, khái niệm về DLST vẫn còn hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau,
với những tên gọi khác nhau.
Về nội dung, DLST là loại hình du lịch tham quan, thám hiểm, đưa du khách
đến môi trường còn tương đối nguyên vẹn, về các vùng thiên nhiên hoang dã, đặc
sắc để tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái và các nền văn hoá bản địa độc đáo,
làm thức dậy ở du khách tình yêu và trách nhiệm bảo tồn, phát triển đối với tự nhiên
và cộng đồng địa phương [5 ; Tr.5-6 ].
Nói cách khác, DLST là loại hình du lịch với những hoạt động có nhận thức
mạnh mẽ về thiên nhiên và ý thức trách nhiệm đối với xã hội. Thuật ngữ
“Responsible Travel” (Du lịch trách nhiệm) luôn gắn liền với khái niệm DLST
Có thể coi DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản như sau :
- Phát triển dựa vào những giá trị hấp dẫn của thiên nhiên và văn hoá bản địa.
( Theo Du lịch sinh thái, những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt
Nam của Phạm Trung Lương)
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos –
Lascurain đưa ra năm 1987: “Du lịch sinh thái là du lịch đến những khu vực tự nhiên
còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức
trân trọng thế giới hoang d và những giá trị văn hoá được khám phá »
[2 ; Tr.8 ]
Hội DLST Hoa Kỳ đưa ra định nghĩa như sau: “DLST là du lịch tại các vùng
còn chưa bị con người làm biến đổi, nó phải đóng góp cho bảo tồn thiên nhiên và
ph c lợi địa phương
[3 ; Tr.8].
Cùng với thời gian, DLST càng được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm, nhiều quốc gia cũng đưa ra khái niệm DLST dựa vào đặc thù và mục
tiêu phát triển của quốc gia mình. Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế (The
International Ecotourism Society – TIES) đưa ra định nghĩa về DLST như sau: “Du
lịch sinh thái là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn
được môi trường và cải thiện ph c lợi cho người dân địa phương”
("
[3 ;Tr.10]
Ecotourism such as responsible travel to natural areas that conserves the
environment and improves the well-being of local people )
Như vậy, có thể thấy rằng từ định nghĩa đầu tiên được đưa ra năm 1987 cho
Nhìn chung các khái niệm về DLST đang sử dụng tại Việt Nam đều có sự
thống nhất trên quan điểm về nội dung đề cập là: thiên nhiên, bản sắc văn hóa, trách
nhiệm và lợi ích của cộng đồng, phát triển bền vững, tuy nhiên còn đề cập chung
chung và chưa toàn diện
Ở Việt Nam, DLST là lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa thập kỷ 90 của
thế kỷ XX, song đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du
lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ khác nhau,
khái niệm DLST vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất.
15
Để có sự thống nhất về khái niệm DLST làm cơ sở cho công tác nghiên cứu
và hoạt động thực tiễn, Tổng cục Du lịch Việt Nam phối hợp với nhiều tổ chức
quốc tế như: ESCAP, WWF, IUCN,…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà
khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST và các lĩnh vực có liên quan, tổ chức Hội
thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt Nam” từ ngày 7 đến
ngày 9/9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của Hội thảo là lần đầu tiên đã
đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó:
“Du lịch sinh thái là loại h nh du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa,
gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền
vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương .
Đây được coi là mở đầu thuận lợi cho các bước tiếp theo của quá trình phát
triển DLST ở Việt Nam.
Với các định nghĩa DLST rất đa dạng như trên, luận văn này chọn khái niệm
DLST liên quan đến VQG U Minh Hạ như sau : “là một loại hình du lịch dựa vào
môi trường, có trách nhiệm hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn môi trường thiên
nhiên, chú trọng sự tham gia tích cực của người dân địa phương vào việc quản lý
và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch trên cơ sở bảo tồn và phát
triển bền vững”.
điển hình. Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái các hệ sinh thái đồng nghĩa
với sự đi xuống của hoạt động DLST.Với nguyên tắc này mọi hoạt động sẽ phải
được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu tác động đối với môi trường, đồng thời góp
phần thu nhập từ hoạt động DLST sẽ được đầu tư để thực hiện các giải pháp bảo vệ
môi trường và duy trì sự phát triển của hệ sinh thái.
c. Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng
Đây được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động
DLST, bởi vì các giá trị văn hoá bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời
các giá trị môi trường của hệ sinh thái ở một khu vực cụ thể. Sự xuống cấp hoặc
thay đổi tập tục, sinh hoạt văn hoá truyền thống của cộng đồng địa phương dưới tác
động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng vốn có. Hậu quả của quá trình này sẽ tác
động trực tiếp đến DLST.
17
Chính vì vậy, việc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hoá cộng đồng địa phương
có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST.
d. Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của DLST. Nếu như các
loại hình du lịch thiên nhiên khác ít quan đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ
các hoạt động du lịch đều thuộc các công ty lữ hành. Ngược lại, DLST dành một
phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp nhằm cải thiện môi
trường sống của cộng đồng địa phương.
Ngoài ra, DLST luôn luôn hướng tới việc huy động tối đa sự tham gia của
người dân địa phương như: đảm nhiệm vai trò hướng dẫn viên, đáp ứng chỗ nghỉ
cho du khách, cung ứng các nhu cầu về thực phẩm, hàng lưu niệm cho du khách…
thông qua đó sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương. Kết
quả là cuộc sống của người dân sẽ bị ít phụ thuộc hơn vào việc khai thác tự nhiên,
đồng thời họ sẽ nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên
nhất truyền đạt đến cho du khách.
+ Quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể các nhà điều hành và quản lý
DLST luôn cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu bảo tồn thiên
nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tác quản lý với mục
đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa bản
địa, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương
và khách du lịch.
(iii).Hạn chế đến mức tối đa các tác động có hại do hoạt động DLST gây ra
cho tự nhiên và môi trường, do đó DLST phải tính đến điều kiện “sức chứa” hoặc
“sức tải”. Khái niệm sức chứa được hiểu ở 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học
và x hội học. Sức chứa về khía cạnh vật lý được hiểu là lượng khách tối đa mà
điểm đến DLST có thể tiếp nhận, điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ.
(iv).Thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách DLST. Việc thỏa mãn
những mong muốn của khách DLST với những kinh nghiệm, hiểu biết mới về tự
nhiên, văn hóa bản địa là một công việc rất phức tạp nhưng nó lại là yêu cầu thực sự
cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của DLST. Vì vậy những dịch vụ để làm hài lòng
19
du khách phải là ưu tiên hàng đầu chỉ đứng sau công tác bảo tồn những giá trị sinh
thái tự nhiên và giá trị xã hội [3 ; Tr.21]
1.3. Một số kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái trên thế giới
Trong năm năm trở lại đây, một số nước trong khu vực Đông Nam Á, với xuất
phát điểm và điều kiện kinh tế - xã hội khá tương đồng với Việt Nam, nhưng với
những chính sách đầu tư, cơ chế quản lý thông thoáng cũng như các biện pháp phát
triển DLST thích hợp đã góp phần đưa hoạt động DLST nói riêng và ngành du lịch
nói chung phát triển đạt nhiều kết quả vượt trội.
1.3.1. Nhật Bản: Lập Hội đồng Xúc tiến Du lịch Sinh thái
1.3.3. Philippine : bảo vệ môi trường để bảo tồn và phát triển du lịch
Các khẩu hiệu về bảo vệ môi trường và quy định của khu bảo tồn đều được
nhắc đến ở Philipine: “Những gì bạn mang vào khu bảo tồn thì chính bạn phải mang
nó ra” (không rác thải) hay “Không lấy, phá hủy, giết hoặc bỏ lại bất cứ thứ gì”.
Kèm với những quy định trên là những định mức rõ ràng về mức độ xử phạt:
“Người vi phạm vào điều luật trên sẽ bị phạt từ 5.000 đến 500.000 Peso ngoài việc
phải đền bù phần thiệt hại, hoặc bị phạt tù từ 1 năm đến 6 năm; hoặc cả hai theo
quyết định của tòa”. Có thể nói, những quy định rất nghiêm chính là một trong
những lý do thành công của các khu bảo tồn ở thành phố Sagay- Philipine. Một hoạt
động quan trọng trong công tác bảo tồn là nâng cao nhận thức môi trường và tầm
quan trọng của bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho người dân địa phương. Tại Sagay,
công việc này đã được cụ thể hóa bằng việc xây dựng một bảo tàng dành cho trẻ em
có tên là “Museo sang Bata sa Negros”. Trong đó phần thuyết minh do các em học
sinh địa phương thực hiện rất ấn tượng với nội dung xoay quanh về tầm quan trọng
của rừng ngập mặn sự đa dạng của các loài san hô, cá, tôm và sinh vật biển cùng ý
nghĩa của việc bảo tồn sinh học.
1.3.4. Namibia: Biến những kẻ săn trộm thành người bảo vệ
Namibia với dân số 2,2 triệu người là quốc gia đầu tiên của châu Phi đã viết
vấn đề bảo vệ môi trường sống vào hiến pháp. Hơn 40% đất nước Namibia hiện
đang được thụ hưởng lợi ích từ một số hình thức quản lý bảo tồn động vật hoang dã,
trong đó cộng đồng địa phương được hưởng lợi
[7].
Nhiều loài động vật hoang dã
của Namibia đứng trên bờ vực bị de dọa tuyệt chủng trong những năm 1980 bởi tệ
nạn săn bắn trộm động vật hoang dã diễn ra tràn lan. Tuy nhiên, những tư tưởng cấp
21
gặp phải không ít khúc mắc do khả năng phối hợp, giữa các Ban Ngành; giữa nhà
22