Header Page 1 of 123.
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu ra trong luận án
là trung thực có nguồn gốc, xuất xứ
rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
NguyÔn §øc Ph- ¬ng
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TT
Footer Page 2 of 123.
Viết đầy đủ
Viết tắt
1
Ban Chấp hành Trung ương
BCHTW
7
Công an nhân dân
CAND
8
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
9
Học viện Chính trị
HVCT
10
Học viện Chính trị Quân sự
HVCTQS
11
Học viện Chính trị Quốc gia
HVCTQG
17
Quốc phòng – an ninh
QP-AN
18
Trang
Tr
19
Trung ương
TW
20
Tư bản chủ nghĩa
TBCN
21
Xã hội chủ nghĩa
XHCN
biển, đảo Tổ quốc trong những năm 2006 - 2011
2.2.
Chủ trương của Đảng về tăng cường bảo vệ chủ quyền
biển, đảo Tổ quốc trong những năm 2006 - 2011
2.3.
Đảng chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển,
đảo Tổ quốc trong những năm 2006 - 2011
Chương 3
ĐÁNH GIÁ VÀ KINH NGHIỆM
3.1.
Đánh giá quá trình Đảng lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển,
đảo Tổ quốc trong những năm 2001 – 2011
3.2.
Một số kinh nghiệm
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Footer Page 3 of 123.
5
9
23
23
41
53
2. Lý do lựa chọn đề tài luận án
Việt Nam là một quốc gia ven Biển Đông, có lợi thế chiến lược đặc biệt
thuận lợi về biển. Vùng biển, đảo Việt Nam với hơn 1 triệu km2 thềm lục địa,
khoảng 3000 đảo lớn, nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nằm ở
giữa Biển Đông, được coi là vùng biển giàu tiềm năng, có vị trí địa kinh tế chính trị - quân sự vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của Việt
Nam, mà còn đối với cả khu vực và thế giới.
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam coi vùng biển,
đảo của Tổ quốc là địa bàn trọng yếu gắn với bước đường sinh tồn, phát triển
của dân tộc. Vì vậy, vấn đề khai thác kinh tế biển, đi đôi với giữ gìn, bảo vệ
CQB,ĐTQ đối với dân tộc Việt Nam luôn được đặt ra như một tất yếu.
Bước vào thế kỷ XXI, trong bối cảnh nguồn tài nguyên trên lục địa ngày
càng cạn kiệt, sự gia tăng dân số khiến không gian sống trở nên chật chội, các
nước ven biển, kể cả những nước không có biển, đều nhất loạt hướng về biển, hiện
thực hóa quá trình vươn ra biển, nhằm khẳng định ưu thế quốc gia trong tìm kiếm,
tranh giành nguồn lợi ích to lớn trên biển.
Footer Page 4 of 123.
Header Page 5 of 123.
6
Biển Đông, vốn là một vùng biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự giao
lưu, phát triển của khu vực và thế giới, cho nên luôn được nhiều quốc gia quan tâm,
chú ý. Các nước trong khu vực luôn đẩy mạnh, tăng cường quá trình tranh chấp
CQBĐ. Một số nước có tiềm lực khoa học - công nghệ, tiềm lực kinh tế, quân sự
mạnh, như: Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản… vì các tham vọng kinh tế, chính trị
riêng đã và đang tìm mọi cách can thiệp sâu vào địa bàn chiến lược này, khiến cho
tình hình Biển Đông vốn phức tạp, càng trở nên phức tạp hơn. An ninh chủ quyền
biển đảo của khu vực bị đe dọa nghiêm trọng...
7
thời gian 10 năm (2001 - 2011), làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng về bảo vệ chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến năm 2011, đồng thời rút ra một số
kinh nghiệm nhằm góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo
vệ CQB,ĐTQ của Đảng trong giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2011.
- Đánh giá khách quan hoạt động lãnh đạo bảo vệ CQB,ĐTQ của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong 10 năm (2001 - 2011).
- Rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá trình Đảng Cộng sản Việt
Nam lãnh đạo bảo vệ CQB,ĐTQ trong những năm 2001 - 2011 dưới góc độ
khoa học Lịch sử Đảng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống chủ trương và quá trình chỉ đạo thực hiện chủ trương
của Đảng về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến 2011.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu: Sự lãnh đạo của Đảng về bảo vệ CQB,ĐTQ từ năm
20011 đến năm 2011.
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
về bảo vệ CQB,ĐTQ; đánh giá khách quan quá trình lãnh đạo của Đảng về bảo
vệ CQB,ĐTQ và rút ra những kinh nghiệm.
- Về thời gian: Toàn bộ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng về bảo
vệ CQB,ĐTQ từ năm 2001 đến năm 2011.
- Về không gian: Toàn bộ những vấn đề liên quan có tác động đến
nhiệm vụ bảo vệ CQB,ĐTQ trong những năm 2001 - 2011.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; luật pháp
quốc tế về biển và các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng,
Nhà nước và toàn bộ thực tiễn bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc là cơ sở lý
- Luận giải và làm rõ hơn các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng về bảo vệ CQB,ĐTQ trong những năm 2001 - 2011.
- Trên cơ sở đánh giá hoạt động lãnh đạo, luận án đã chỉ ra 5 kinh nghiệm.
Đây là những kinh nghiệm cần thiết góp phần thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
CQB,ĐTQ thiết thực, hiệu quả hơn.
- Luận án là cơ sơ sở tư liệu dùng để tham khảo phục vụ cho công tác
tuyên truyền, công tác nghiên cứu và giảng dạy một số vấn đề liên quan đến
biển, đảo ở phạm vi trong và ngoài quân đội.
8. Kết cấu của luận án
Kết cấu của luận án gồm: phần mở đầu; tổng quan vấn đề nghiên cứu; 3
chương (8 tiết); kết luận; danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả; danh
mục tài liệu tham khảo; phụ lục.
Footer Page 7 of 123.
Header Page 8 of 123.
9
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài
Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài, nội dung đề cập nhiều vấn đề
liên quan đến kinh tế, chính trị, QP-AN của khu vực Biển Đông nói chung và
vùng biển, đảo Việt Nam nói riêng. Trong đó, chủ yếu các công trình tập trung
luận giải mấy vấn đề chính sau:
Một là, về vấn đề tranh chấp CQBĐ giữa các quốc gia trong khu vực,
nhất là vấn đề tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Những công trình đề cập trực tiếp đến vấn đề này, tiêu biểu có: “Cuộc
tranh chấp quần đảo Trường Sa: Ai là người sở hữu đầu tiên?” của Daniel J.Dzuck [32]; “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” của
Monique Cheminier [61]; “Phân tích về địa lý - chính trị cuộc xung đột và
quốc gia ở hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa đều nhận định: mặc dù khi tranh
chấp các bên đều đưa ra các chứng lý của riêng mình để khẳng định chủ quyền
ở hai quần đảo này, nhưng về mặt luật pháp, nhất là về cơ sở lịch sử, những
chứng cứ của Việt Nam đưa ra là có tính thuyết phục nhất. Luật gia người Mỹ
Michel Bennett trong bài báo “Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng
luật pháp quốc tế trong tranh chấp quần đảo Trường Sa”, từng nhận xét:
Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ, hoặc không được
thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra ở đây là liệu những cuộc tiếp
xúc riêng rẽ bởi các ngư dân Trung Quốc có đủ thiết lập chủ quyền trên Spratlys (Trường
Sa) theo luật quốc tế không. Vì vậy giá trị lập trường chính thức của Trung Quốc (đưa ra
khi tranh cãi) là đáng nghi ngại [57, tr.91- 92].
Riêng nhà nghiên cứu người Pháp, giáo sư Monique Chemillier Gendrau
trong công trình nghiên cứu “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và
Trường Sa”, thẳng thắn khẳng định: “Chủ quyền ở hai quần đảo (Hoàng Sa,
Trường Sa) trên Biển Đông (cũng như những yêu sách về biển của Trung Quốc
hiện nay) bộc lộ rõ tham vọng bá chủ khu vực, xa hơn nữa là bá chủ thế giới
của Trung Quốc, đe doạ trực tiếp tới an ninh khu vực và thế giới” [61, tr.83].
Tuy nhiên, có một số nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu, do
nhiều yếu tố chủ quan (chủ yếu là xuất phát từ lập trường chính trị) và khách
quan (chủ yếu xuất phát từ tính phức tạp, nhậy cảm của vấn đề, sự thay đổi
trong thực tiễn luật pháp quốc tế về biển…), dưới góc độ này hay góc độ khác
cũng có những quan điểm khác nhau về nhiều vấn đề liên quan đến tranh chấp
CQBĐ ở khu vực Biển Đông. Thực tế cho thấy, vẫn có một số nhà nghiên
cứu, nhất là những nhà nghiên cứu thuộc các nước có liên quan trực tiếp đến
vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, xuất phát từ lập trường dân tộc, từ
lợi ích của quốc gia, trong các công trình hay cố gắng tìm mọi cách đưa ra các
Footer Page 9 of 123.
“Chiến lược của Hải quân Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển
Đông” của Ngô Vĩnh Long [53]; “Trung Quốc tấn công trên biển Nam Trung
Hoa” của Shigeo Hiramatsu [73]...
Footer Page 10 of 123.
Header Page 11 of 123.
12
Về cơ bản các công trình nêu trên đều khẳng định: Biển Đông là vùng
biển chiến lược có tác động lớn tới sự phát triển về kinh tế, QP-AN không chỉ
đối với khu vực mà còn với cả thế giới, vì thế các quốc gia trong khu vực và các
nước khác, nhất là những nước lớn luôn tìm cách cạnh tranh, khẳng định vị thế,
tầm ảnh hưởng của mình ở địa bàn chiến lược này; tình hình Biển Đông đã và
đang diễn biến vô cùng phức tạp bởi sự tranh chấp về lợi ích, chủ quyền giữa các
quốc gia trong khu vực và sự can thiệp của các nước lớn vào địa bàn Biển Đông;
chiến lược của các nước lớn đối với Biển Đông một mặt góp phần tạo thế cân
bằng lực lượng ở khu vực nhưng mặt khác cũng khiến cho an ninh khu vực,
trong đó có Việt Nam thêm phức tạp.
Đối với Trung Quốc, một quốc gia có những lợi ích chiến lược trực tiếp ở
Biển Đông, đồng thời cũng là quốc gia hiện đang có nhiều tham vọng vươn lên trở
thành một cường quốc mà trước hết là một cường quốc về biển, các nhà nghiên cho
rằng: chiến lược biển của Trung Quốc, nhất là chiến lược đối với Biển Đông, có tác
động rất lớn đến an ninh chủ quyền biển, đảo của các nước trong khu vực. Trong
bài “Chiến lược của Hải quân Trung Quốc và hàm ý của nó đối với khu vực Biển
Đông”[53], nhà nghiên cứu Ngô Vĩnh Long trên cơ sở phân tích những động thái
mới của Trung Quốc trong những năm gần đây, đặc biệt là việc Trung Quốc tăng
cường xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh, đã chỉ rõ ý đồ của Trung Quốc
là muốn thao túng khu vực Biển Đông, đồng thời dùng Biển Đông như lá bài để
bài “Mỹ thúc đẩy chương trình đối tác cảnh vệ” [22] của Robert J. Coy, đã
khẳng định rằng Mỹ đã và đang điều chỉnh chiến lược của mình ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á, đồng thời tăng cường sự có mặt
ở khu vực bằng nhiều cách thức khác nhau; an ninh khu vực, an ninh Biển Đông
cũng sẽ phụ thuộc rất lớn vào Mỹ.
Đối với Ấn Độ, trong các bài: “Chiến lược của Ấn Độ trong việc tăng
cường quan hệ với ASEAN”[22], của hai tác giả Trương Đảng Nặc - Kiệt
Quý Nhân; “Trung Quốc và Ấn Độ cạnh tranh ảnh hưởng đối với
ASEAN”[22] của tác giả Sheng Lijun, hay bài “Ấn Độ tăng cường ảnh
hưởng tại Đông Nam Á” [22] của Viện Nghiên cứu và phân tích quốc phòng
Ấn Độ, đã làm rõ quyền lợi của Ấn Độ ở Đông Nam Á nói chung và Biển
Đông nói riêng. Các công trình trên cũng chỉ rõ, hiện nay Ấn Độ đang tìm
cách tăng cường sự có mặt của mình và cạnh tranh với các cường quốc khác
về lợi ích kinh tế, chính trị ở khu vực này.
Với nước Nga, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nước Nga hiện nay cũng
đang mở cuộc chạy đua với các cường quốc khác vào khu vực Đông Nam Á và
Biển Đông vì lợi ích của Nga ở khu vực này là rất quan trọng. Công trình nghiên
cứu “Đông Nam Á nằm trong lợi ích của Nga” [22], của Viện nghiên cứu và phân
tích quốc phòng Ấn Độ, hay bài “Nga tiến vào châu Á thông qua Inđônêxia” [22],
Footer Page 12 of 123.
Header Page 13 of 123.
14
của nhà nghiên cứu Đông Phương Thuần, phân tích lợi ích của Nga ở khu vực,
đồng thời chỉ rõ nỗ lực cũng như sự điều chỉnh chiến lược trong quá trình khẳng
định ảnh hưởng của Nga ở Đông Nam Á và trên địa bàn Biển Đông.
Đối với Nhật Bản, cuốn “Chính sách ngoại giao của Nhật Bản đối với
Header Page 14 of 123.
15
Biển đối với quốc gia là an ninh và phát triển, đối với hàng chục triệu con
người thuộc hơn nửa các tỉnh, thành, đặc khu (của Việt Nam) là đời sống và phồn
vinh, biển không thể tiếp tục bị coi nhẹ như hiện nay và chỉ hiểu là biển ven bờ.
Biển hiểu theo ý nghĩa đầy đủ của nó phải là một trong hai vế của chiến lược bảo vệ
và xây dựng đất nước để đưa dân tộc thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu.[54, tr.185].
Trong công trình “Biển và hải đảo Việt Nam” do Ban Tuyên giáo Trung
ương ấn hành [6], các tác giả khẳng định:
Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược
đặc biệt đối với khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình dựng xây và
phát triển của đất nước và con người Việt Nam. Việc xây dựng, quản lý, phát
triển và bảo vệ quyền lợi biển là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc giữ
gìn toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh
tế- xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập
quốc tế [6, tr3].
Hai là, chủ quyền của Việt Nam trên biển, đặc biệt là chủ quyền lãnh thổ
của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Chủ quyền của Việt Nam trên biển, đặc biệt là đối với hai quần đảo
Hoàng Sa, Trường Sa, là vấn đề lớn được rất nhiều nhà khoa học cũng như các
nhà hoạt động chính trị quan tâm. Đã có nhiều công trình đề cập trực tiếp đến
vấn đề này dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, trong đó có những công
trình tập trung đi sâu luận giải về chủ quyền của Việt Nam trên biển, như các
công trình: “Vùng biển và quyền làm chủ” của Vũ Phi [66]; “Việt Nam đất,
biển, trời” của Lưu Văn Lợi [54]; “Biển và hải đảo Việt Nam” [6]; “Chiến lược
bảo vệ chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển Việt Nam đến
năm 2020”, đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của Viện Nghiên cứu và Phát triển
[17]; “Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa
việc đấu tranh khẳng định, giành chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng
Sa, Trường Sa; đánh giá thực trạng quản lý biển của Việt Nam, những hạn chế bất
cập của hệ thống luật pháp, các văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến biển,
đồng thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước biện pháp giải quyết, tạo điều kiện nâng
cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước về biển, đáp ứng
yêu cầu phát triển kinh tế biển và tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia bảo
Footer Page 15 of 123.
Header Page 16 of 123.
17
vệ CQB,ĐTQ. Những số liệu thống kê, các luận cứ mà công trình đưa ra, là hết sức
cần thiết, góp phần để Đảng, Nhà nước nhận thức rõ hơn về nhiều vấn đề liên quan
đến công tác phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường củng cố QP-AN bảo vệ
vững chắc CQBĐ TQ.
Đối với công trình: Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa của tác giả Nguyễn Nhã [64]. Công trình này chủ yếu tập trung
luận giải vấn đề cơ bản: trình bày có hệ thống các vấn đề về lịch sử chủ quyền của hai
quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, trên cơ sở đó chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối
với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phản bác các luận chứng thiếu căn cứ mà một
số nhà nghiên cứu, cũng như chính quyền một số nước, nhất là chính quyền Trung Quốc
đưa ra để tranh giành chủ quyền hai quần đảo này với Việt Nam.
Ba là, phát triển kinh tế biển và tăng cường QP-AN bảo vệ CQB,ĐTQ.
Vấn đề phát triển kinh tế biển và tăng cường QP-AN bảo về CQB,ĐTQ đã
được một số công trình nghiên cứu đề cập đến ở nhiều góc độ nghiên cứu khác
nhau. Khi đề cập đến vấn đề này, hầu hết các công trình nghiên cứu thống nhất
cho rằng: vùng biển, đảo Việt Nam có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng đối
với quá trình phát triển đất nước, vì thế đẩy mạnh phát triển kinh tế biển, đi đôi
CQB,ĐTQ…[17, tr.118;119].
Trong công trình “Việt Nam đất, biển, trời”, nhà nghiên cứu Lưu Văn Lợi
cũng đã nhấn mạnh: “Nước ta cần có một chính sách toàn diện về biển cho bây
giờ, cho ngày mai” [54, tr.188-189].
Trong công trình “Kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng cường củng cố
quốc phòng - an ninh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới” [97], (bài
nghiên cứu đăng trên các số 9, 10, 11 Tạp chí Quốc phòng toàn dân năm 2008),
nhóm tác giả Quốc Toàn - Mạnh Hùng - Mạnh Dũng đã trình bày một số vấn đề
cơ bản liên quan đến phát triển kinh tế biển gắn với tăng cường củng cố QP-AN
bảo vệ CQB,ĐTQ của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Ở công trình này, các
tác giả trên cơ sở nêu bật vị trí, vai trò vùng biển, đảo quốc gia, trình bày khái
quát quan điểm của Đảng về bảo vệ CQB,ĐTQ đã bước đầu làm rõ thực trạng và
đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy mạnh kết hợp phát triển kinh tế biển với tăng
cường QP-AN bảo vệ CQB,ĐTQ.
Trong công trình “Quá trình triển khai chính sách về biển của Việt Nam
từ năm 1986 đến năm 2010” [60] (luận án tiến sĩ Lịch sử), tác giả Nguyễn
Footer Page 17 of 123.
Header Page 18 of 123.
19
Thanh Minh trên cơ sở phân tích cơ sở hình thành chính sách về biển đã trình
bày khá rõ nét toàn bộ quá trình triển khai chính sách về biển của Việt Nam
trong giai đoạn 10 năm đổi mới đất nước trên các lĩnh vực cụ thể như: an ninh quốc phòng; kinh tế biển; hợp tác quốc tế biển; phân định biển; bảo vệ môi
trường biển, đồng thời đánh giá kết quả và rút ra một số kinh nghiệm trong quá
trình triển khai chính sách về biển.
Ở khía cạnh đối ngoại bảo vệ CQB,ĐTQ, trong công trình “Vận dụng
tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Trong công trình “Giới thiệu một số vấn đề cơ bản của Luật Biển ở Việt
Nam” [5]của Ban Biên giới - Bộ Ngoại giao ấn hành, trên cơ sở làm rõ những
nội dung cơ bản của Luật Biển quốc tế, đánh giá tiến trình phát triển luật lệ về
biển ở Việt Nam, các tác giả đã khẳng định:
Theo luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước của Liên hiệp quốc về Luật
Biển năm 1982, Việt Nam có chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển
thuộc lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với chế độ pháp lý khác
nhau. Lợi ích của quốc gia trên biển ngày càng có ý nghĩa quan trọng; từ đó vấn
đề bảo vệ quyền lợi cũng như nhu cầu hợp tác trên biển cũng ngày càng trở nên
thiết yếu. Nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình trên biển, sử dụng và khai
thác một cách hiệu quả, hợp lý và bền vững vì mục tiêu phát triển, giữ gìn hoà
bình, ổn định và tăng cường hợp tác quốc tế, Việt Nam cần đẩy mạnh và hoàn
thiện công tác quản lý nhà nước về biển [5, tr.7-8].
Công trình “Chiến lược bảo về chủ quyền và quyền tài phán quốc gia
trên các vùng biển, đảo Việt Nam đến năm 2020”[17], trên cơ sở đánh giá
kinh nghiệm quản lý, bảo vệ chủ quyền của những quốc gia mạnh về biển
như: Mỹ, Canada, Ôxtraylia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc…, xuất phát
từ thực trạng các văn bản pháp luật của Việt Nam về biển, cũng như việc vận
dụng Luật Biển quốc tế vào công tác quản lý, bảo vệ CQB,ĐTQ, công trình
này đã nêu rõ: Một trong những yêu cầu cấp thiết nhất đối với Việt Nam trong
quá trình phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc CQB,ĐTQ là phải nhanh
chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật nhà nước về biển. Đánh giá về hệ thống
văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam về biển, Công trình
khẳng định: về cơ bản, trên cơ sở phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế,
Công ước về Luật Biển 1982, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về biển
của Việt Nam bước đầu đã tạo điều kiện và cơ sở pháp lý cho việc tăng cường
Footer Page 19 of 123.
trên Biển Đông, nhất là việc tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa,
Trường Sa giữa Việt Nam và một số nước.
Footer Page 20 of 123.
Header Page 21 of 123.
22
- Luật pháp quốc tế về biển và việc vận dụng luật pháp giải quyết các vấn
đề tranh chấp trên biển; chiến lược và sự can thiệp của các nước lớn ở Biển
Đông và tác động của nó tới an ninh khu vực.
Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học Lịch sử Đảng, chưa có công trình nào
trực tiếp nghiên cứu chuyên sâu về quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
bảo vệ CQB,ĐTQ:
- Một số công trình đã đề cập và bước đầu luận giải một số quan điểm,
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về
quản lý, khai thác và bảo vệ CQB,ĐTQ, nhưng mới chỉ là những vấn đề mang tính
cụ thể, đơn lẻ chứ chưa khái quát, hệ thống để làm rõ chủ trương, chính sách phản
ánh quá trình Đảng, Nhà nước lãnh đạo bảo vệ CQB,ĐTQ trong một thời kỳ, một
giai đoạn nhất định.
- Chưa có công trình đi sâu vào vấn đề tổng kết, trực tiếp đánh giá hoạt động
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về bảo vệ CQB,ĐTQ trong các thời kỳ, nhất
là trong thời kỳ 10 năm đầu thế kỷ XXI (2001 - 2011), trên cơ đó rút ra những
kinh nghiệm vận dụng vào thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đây là cơ sở để tác giả lựa chọn hướng nghiên cứu của Luận án.
Trong giai đoạn hiện nay, vấn đề tổng kết, làm rõ quá trình Đảng lãnh đạo
bảo vệ CQB,ĐTQ từ năm 2001 đến năm 2011, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
sâu sắc. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến năm 2011” làm đề tài luận
quan trọng: đó là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc, đồng thời cũng là điểm tựa
thuận lợi để khai thác các nguồn lợi, phát triển kinh tế biển và vươn ra khai thác
biển cả trong tương lai.
Theo luật pháp quốc tế về biển, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc
về Luật biển (1982), một quốc gia ven biển có chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán trên vùng biển bao gồm: vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng tiếp
giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa [Phụ lục 3 của LA].
Ngày 23 - 6 - 1994, Quốc hội nước Cộng hoà XHCN Việt Nam khoá IX,
kỳ họp thứ 5, đã ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật
Footer Page 22 of 123.
Header Page 23 of 123.
24
biển năm 1982 (Công ước này có hiệu lực từ ngày 16-11-1994). Trên cơ sở phù
hợp với các quy định của Công ước 1982, vùng nội thuỷ, vùng lãnh hải, vùng
đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được mở rộng về phía biển. Với
những quy định này, đất nước Việt Nam không chỉ đơn thuần là lục địa hình chữ
S, mà còn là một “Nước Việt Nam biển” với vùng biển, đảo rộng hơn 1 triệu
km2, gấp 3 lần diện tích lãnh thổ đất liền của Tổ quốc. Toàn bộ vùng biển, đảo
rộng lớn đó của Việt Nam là một bộ phận cấu thành không thể tách rời của lãnh
thổ Việt Nam.
Xét trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị - xã hội, QP-AN, vùng biển, đảo
Việt Nam là một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Về kinh tế: vùng biển, đảo Việt Nam là địa bàn giàu tiềm năng cho phát
triển kinh tế đất nước. Do có vị trí chiến lược, nằm trên các tuyến hàng hải
huyết mạch thông thương giữa khu vực châu Á-Thái Bình Dương và các khu vực
Việt Nam đã xác định được nhiều bồn trầm tích có khả năng dầu khí, như bồn
Cửu Long, Nam Côn Sơn, các bồn ở vùng biển Trung Bộ, bồn Sông Hồng và bồn
Thổ Chu - Mã Lai trong vịnh Thái Lan. Một số mỏ dầu khí đã đi vào khai thác với
kết qủa khả quan, mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước (mỏ Bạch Hổ, mỏ
Rồng…) [29, tr.37-38].
Triển vọng phát triển ngành dầu khí ở vùng biển Việt Nam là rất lớn. Hiện
nay ngành này đang có những bước khởi sắc và ngày càng khẳng định là một
ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nguồn lợi kinh tế cao cho Việt Nam.
Đối với nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển giao thông vận tải
biển,Việt Nam là một quốc gia ven Biển Đông, có nhiều ưu thế về địa lý cho
việc phát triển ngành giao thông hàng hải. Người ta ví Việt Nam như một
“ngôi nhà mặt phố” để nói tới tiềm năng to lớn về phát triển thương mại, dịch
vụ trong nước và quốc tế. Trong đó, cần phải nói tới vị trí chiến lược của Việt
Nam trong lĩnh vực hàng hải. Bờ biển Việt Nam dài, vùng biển rộng với
nhiều eo, vịnh biển, cửa sông phân bố khá dày từ Bắc vào Nam rất thuận lợi
cho việc xây dựng hệ thống cảng biển, trong đó nhiều nơi có khả năng xây
dựng các cảng nước sâu mang tầm cỡ khu vực và quốc tế, như: Cái Lân, Cửa
Ông, Nghi Sơn, Chân Mây, Dung Quất, Văn Phong, Cam Ranh… hơn nữa bờ
biển và vùng biển Việt Nam, nhất là ở khu vực Trung Bộ, rất gần với các
tuyến hàng hải quốc tế. Những yếu tố đó cho phép Việt Nam bằng đường biển
có thể giao thông thuận lợi với tất cả các nước trong khu vực và trên thế
giới, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát triển ngành
dịch vụ hàng hải.
Đối với nguồn tài nguyên phục vụ cho phát triển du lịch biển, vùng ven
biển nói riêng và các vùng biển, đảo Việt Nam nói chung có ưu thế lớn trong
Footer Page 24 of 123.
Header Page 25 of 123.
xâm phạm nghiêm trọng, cả đất nước, dân tộc đang hướng về biển đảo Tổ quốc với
sự quan tâm sâu sắc, vùng biển đảo không chỉ thuần túy có giá trị như một địa bàn
sống, nơi khai thác các tiềm năng to lớn về kinh tế, mà ý nghĩa chính trị quan trọng
Footer Page 25 of 123.