LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Vũ Thị Tuyết, tôi thực hiện công trình nghiên cứu khoa học với tên đề
tài: “Thái độ của sinh viên khoa Quản trị văn phòng về vấn đề tệ nạn xã hội hiện
nay”.
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi. Các tài liệu sử dụng trong
bài nghiên cứu là kết quả của quá trình khảo sát của tôi trong thời gian qua. Nếu
không đúng tôi xin chịu trách nhiệm về tài liệu, thông tin sử dụng trong công trình
nghiên cứu này.
Hà Nội, tháng 08 năm 2015
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ths. Nguyễn Tiến Thành là người hướng dẫn tôi
thực hiện tốt đề tài này.
Trong quá trình khảo sát và nghiên cứu tôi gặp khá nhiều khó khăn, mặt khác
do trình độ nghiên cứu còn hạn hẹp và nhiều nguyên nhân khác nên dù cố gắng
song đề tài nghiên cứu của tôi cũng không tránh khỏi những sai sót. Vì thế tôi
rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy(cô) trong trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
QTVP
Quản trị văn phòng
HN
Hà Nội
lụy đáng tiếc cho bản thân mà còn các thế hệ tương lai.
Tệ nạn xã hội như là một căn bệnh nguy hiểm có sức cuốn hút, cám dỗ và lây lan
mạnh mẽ đến tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng là
những chủ nhân tương lai của đất nước, họ là những đối tượng dễ sa vào tệ nạn xã
hội. Nếu không được định hướng và giáo dục đầy đủ thì sẽ dẫn đến những hậu quả
khó lường.
Chúng ta đều biết thái độ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả
hoạt động của con người mà còn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Chính
vì vậy đối với mọi người nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng muốn đạt được
thành công thì phải có thái độ đúng đắn đối với vấn đề tệ nạn xã hội. Đặc biệt trong
công tác phòng chống tệ nạn xã hội học sinh, sinh viên là một lực lượng đóng vai
trò quan trọng trong công tác này thì việc nâng cao thái độ, ý thức của học sinh,
sinh viên về vấn đề tệ nạn xã hội là vô cùng quan trọng. Mỗi người học sinh, sinh
viên nếu có thái độ tích cực thì sẽ nâng cao được hoạt động phòng chống tệ nạn xã
hội.
Tệ nạn xã hội đã và đang len lỏi vào mỗi con đường, ngóc ngách trên mọi miền tổ
quốc. Đặc biệt là ở trường học mà chủ yếu là ở các trường đại học. Trong những
năm gần đây tệ nạn xã hội ở các trường đại học như: cờ bạc, lô đề, game online, cá
độ bóng đá, ma túy mại dâm, sống thử,.... Những hành vi vi phạm pháp luật này
đều có những ảnh hưởng nghiêm trọng đến xã hội, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống
vật chất, tinh thần của một bộ phận sinh viên.
Nếu mỗi sinh viên không có thái độ tích cực đẩy lùi tệ nạn xã hội trong trường học
và cả xã hội thì chắc rằng trong tương lai chúng ta sẽ phải gánh những hậu quả do
tệ nạn xã hội gây ra. Bên cạnh đó không ít các bạn trẻ trong đó có sinh viên chưa ý
thức được tầm quan trọng của việc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội. Nhiều
người còn thờ ơ coi nó không phải việc của mình, có những suy nghĩ ích kỷ chỉ
biết lợi cho bản thân. Nhiều câu hỏi được đặt ra xoay quanh vấn đề này. Vậy
những thế hệ trẻ tương lai mà cụ thể là các bạn sinh viên còn ngồi trên giảng
giúp cho sinh viên tích cực, chủ động hơn trong công tác phòng chống tệ nạn xã
hội.
Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu thái độ của sinh viên ngành quản trị văn
phòng(QTVP) trường Đại học Nội vụ Hà Nội.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu thái độ của sinh viên khoa QTVP trường Đại học
Nội vụ Hà Nội(HN).
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thái độ học tập, ý thức của
sinh viên về tệ nạn xã hội của khoa QTVP trường Đại học Nội vụ HN.
5.
Giả thuyết nghiên cứu
Nếu sinh viên trường Đại học Nội vụ HN nói chung và sinh viên khoa QTVP nói
riêng không có thái độ đúng đắn và tích cực về vấn đề tệ nạn xã hội thì tương lai
của các bạn sinh viên sẽ như thế nào?
6.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài như: thái độ, tệ nạn
xã hội, sinh viên, thái độ của sinh viên khoa QTVP đối với vấn đề tệ nạn xã hội.
7.
Phương pháp nghiên cứu
Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Vấn đề tệ nạn xã hội mà quan trọng là thái độ của mọi người về vấn đề đó
được nhiều nhà khoa học chú ý và nghiên cứu. Đặc biệt là các công trình
nghiên cứu của các nhà Tâm lý học ở Đức và Nga(Liên Xô). Nhiều công
trình nghiên cứu có đóng góp to lớn cho ngành Tâm lý học nói riêng và khoa
học nói chung trên thế giới. Trọng tâm của các công trình nghiên cứu là tác
giả đi sâu vào nghiên cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc thái độ và mối quan hệ
giữa thái độ và hành vi của con người. Trong một nghiên cứu tổng quan khi
nghiên cứu lịch sử về thái độ trong Tâm lý học gồm có: nhà Tâm lý học
người Nga Shikhirev P.M đã chia quá trình này thành ba thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất: từ khi khái niệm thái độ được sử dụng đầu tiên vào năm
1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là thời kỳ phát triển
mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa,
cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ và hành vi.
Thời kỳ thứ hai: từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến cuối những năm
1950. Nội dung của thời kỳ này là sự hoài nghi vai trò của thái độ trong việc
chi phối hành vi của con người. Cũng vì lý do chiến tranh mà ở thời kỳ này
các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng.
Thời kỳ thứ ba: đầu năm 1960 cho đến nay. Các nước phương tây phục hồi
và phát triển trở lại sau chiến tranh, cùng với sự phát triển đi lên của đất
nước các công trình nghiên cứu thái độ cũng tiếp tục với nhiều ý tưởng,
quan điểm mới.
Như vậy qua nghiên cứu của tác giả Shikhirev P.M, chúng ta có thể nhận
thấy: Lịch sử nghiên cứu thái độ nói riêng và khoa học tâm lý nói chung,
cũng trải qua những thăng trầm của lịch sử phát triển con người.
Ngoài Shikhirev P.M còn có các tác giả khác Daryl Bem và Leon Festinger
Như vậy, ở Việt Nam và trên thế giới các công trình nghiên cứu về thái độ
của mọi người có nhiều nhưng đi sâu vào nghiên cứu thái độ của sinh viên
đối với vấn đề tệ nạn xã hội vẫn chưa được cụ thể, sâu rộng, mới chỉ nghiên
cứu ở mức độ riêng lẻ, tách bạch các tệ nạn xã hội.
1.2.
Một số khái niệm
1.2.1. Các lý luận về thái độ
1.2.1.1.
Định nghĩa về thái độ
Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, cùng với
rất nhiều nghiên cứu khác về thái độ. Mỗi định nghĩa lại bàn về một khía cạnh của
các nhà Tâm lý học về thái độ, góp phần làm phong phú thêm cách hiểu về phạm
trù này.
Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận và hoạt động của cá nhân về một
hướng nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết. Đó là tổng thể
những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩa, tình cảm của cá nhân đối với con người
hay một sự việc nào đó”.
Theo Allport “Thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phản ứng, là
một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quá khứ và nó
điều khiển cũng như ảnh hưởng đến hành vi của các nhân.”
Còn gần đây, James, W.Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích hay không
thích một sự vật hay một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnh hưởng tới hành vi
của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó”. Nhà tâm lý học John Traven
cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài
đối với sự vật hay con người đó”.
Thái độ là một thuộc tính của nhân cánh bao gồm các đặc trưng: ổn định, tính
không ổn định và tính chân thực.
Tính ổn định: thái độ của con người là một chỉnh thể thống nhất bao gồm ba yếu
tố: nhận thức, hứng thú và hành vi. Các yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Vì vậy khi nghiên cứu thái độ của con
người với một vấn đề nào đó thì chúng ta cần xem xét chúng trong mối liên hệ với
các yếu tố khác của thái độ.
Tính không ổn định: có nhiều nguyên nhân dẫn đến tính không ổn định như tác
động của môi trường xung quanh và sự giáo dục thì thái độ của con người trong
từng hoàn cảnh cụ thể cũng có sự thay đổi theo chiều hướng tích cực và tiêu cực
tùy vào khả năng hiểu biết, nhận thức của mỗi cá nhân. Tuy nhiên thái độ thay đổi
từ từ theo thời gian chứ không có sự thay đổi ngay tức khắc khi có tác động.
Tính chân thực: thái độ luôn biểu hiện rõ ra bên ngoài thông qua các hoạt động,
hành vi. Hành vi, hành động như thế nào thì biểu hiện của con người như thế đó.
Chính vì thái độ luôn biểu hiện ra bên ngoài mà ta có thể biết được một phần nào
đó tính cánh của con người.
1.2.1.4.
-
Quan hệ của thái độ với các thuộc tính của nhân cách
Thái độ với ý thức cá nhân
Trong tâm lý học, ý thức là: “Hình thức phản ánh tâm lý bậc cao, đặc trưng
của loài người, là năng lực nhận thức được cái phổ biến và cái bản chất trong
hiện thực khách quan, do đó đồng thời là năng lực định hướng, điều khiển
một cách tự giác thái độ,hành vi, quan hệ giữa con người với hoàn cảnh tự
nhiên và xã hội”... cấu trúc ý thức gồm ba thành phần cơ bản: nhận thức, thái
lĩnh. Động cơ là vật chất hay tinh thần nhằm quy định lựa chọn hướng
hoạt động và vì nó hoạt động được tiến hành. Là nguyên nhân dẫn đến
những hành động, hành vi của cá nhân.
Leonchiev cho rằng: “Động cơ là đối tượng của nhu cầu”. Chức năng của
động cơ là thúc đẩy hướng hoạt động, kích thích sự sáng tạo của con
người.
Nhờ có động cơ mà con người tiếp cận một cách rõ hơn tới đối tượng
mình quan tâm nhằm thỏa mãn nhu cầu. Chính vì thế cùng với nhu cầu,
động cơ là tiền đề cho sự hình thành thái độ đối với hiện thực. Vì động cơ
được sinh ra bởi nhu cầu, nhu cầu đã có sự nhận thức. Qua đó ta có thể
hiểu rõ được mối quan hệ giữa thái độ với các thuộc tính khác: nhu cầu động cơ - thái độ - đối tượng.
Như vậy thái độ là biểu hiện trực tiếp của động cơ. Để phân biệt thái độ
với động cơ các nhà tâm lý học cho rằng thái độ có liên quan nhiều hơn
tới đối tượng, hiện tượng, sự vật, sự kiện trong môi trường sống; còn
động cơ liên quan đến hoạt động là yếu tố thúc đẩy hoạt động thực hiện.
Ngoài những thuộc tính kể trên thì thái độ còn có mối quan hệ với nhiều
thuộc tính tâm lý khác, tùy vào từng mục đích nghiên cứu mà ta xác định
các mối quan hệ giữa thái độ với các yếu tố có liên quan thông qua biểu
hiện của thái độ trong hoạt động thực tiễn của mỗi con người cụ thể.
1.2.2. Khái niệm tệ nạn xã hội
Tệ nạn xã hội là những biểu hiện của sự sai lệch xã hội. Nó đi ngược lại với những
chuẩn mực xã hội.
Vậy “chuẩn mực xã hội là gì?” Chuẩn mực xã hội là tập hợp các yêu cầu hoặc sự
mong đợi mà cộng đồng xã hội muốn hướng tới nhằm tạo lập các khuôn mẫu hành
vi và hoạt động của các thành viên trong một nhóm tổ chức, giai cấp, xã hội nào
đó.
Chuẩn mực xã hội được thể hiện qua các văn bản pháp luật, nội quy, quy định,
hương ước hay ở dạng bất thành văn.
Với quan niệm này tệ nạn xã hội có bốn đặc trưng:
- Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật có tính phổ biến, lây
lan.
- Tệ nạn xã hội là những hành vi sai lệch đi ngược lại với các chuẩn mực
xã hội.
- Tệ nạn xã hội gây nguy hiểm cho xã hội.
- Tệ nạn xã hôi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội. Đặc
trưng này chỉ ra rằng pháp luật cần phù hợp với thực tiễn, cần bám sát
thực tiễn để có nội dung điều chỉnh cho phù hợp.
Qua các nội dung trên ta có thể hiểu: “ Tệ nạn xã hội là một hiện tượng xã
hội bao gồm những hành vi làm sai lệch chuẩn mực đạo đức của con người
khiến người ta lao vào con đường phạm pháp gây vi phạm đạo đức và pháp
luật, để lại hậu quả xấu cho con người và đời sống xã hội. Những tệ nạn xã
hội xẩy ra khi có mâu thuẫn, cạnh tranh giữa người với người trong một
cộng đồng vì cuộc sống sinh nhai của mình. Vì vậy tệ nạn xã hội cũng đang
là một vấn đề làm nhức nhối các nhà chức tránh và cần sớm được loại bỏ”.
1.2.3. Sinh viên
Sinh viên là thế hệ trẻ tương lai, gợi lên những gì trong sáng, vui tươi nhất của đời
người. Thế hệ sinh viên chưa có nhiều trải nghiệm với cuộc sống nhưng cũng
không quá non nớt, yếu đuối khi bước chân ra ngoài xã hội. Thế hệ sinh viên với
bao ước mơ, hoài bão, họ học hỏi, rèn luyện để hoàn thiện bản thân. Ở họ có những
khát vọng của tuổi trẻ, là thế hệ đẹp của một thời đại.
Sinh viên là thế hệ cần học hỏi và không bao giờ ngại bỏ công sức để theo đuổi tri
thức. Thời sinh viên là thời đẹp đẽ nhất trong cuộc đời, họ học hỏi để biết, học hỏi
để sống và để sinh tồn.
Sinh viên Việt Nam đang cố gắng hết mình để xây dựng lại đất nước sau nhiều
năm do chiến tranh tàn phá cả về vật chất và tinh thần. Đó vừa là vận mệnh vừa là
thách thức đặt ra cho thế hệ trẻ, thế hệ sinh viên: học và học mãi để sửa chữa
40 năm qua, trường đã đào tạo trên 45.700 học sinh, sinh viên, trong đó có trên 70
lưu học sinh, thực tập sinh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Giai đoạn 2011 – 2020, quy mô, ngành đào tạo của nhà trường được xác định theo
nhu cầu nguồn nhân lực của Bộ Nội vụ, theo nhu cầu xã hội và góp phần đáp ứng
nhân lực phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Hiện nay nhà trường có ba cơ sở
đào tạo.
Cơ sở 1: 36 Xuân La, phường Xuân La,Tây Hồ, Hà Nội.
Cơ sở 2: Khu Đô thị mới Điện Nam, Điện Ngọc, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam.
Cơ sở 3: Trường Đại học Nội vụ HN tại thành phố Hồ Chí Minh.
2.2. Các tệ nạn xã hội
2.2.1. Tệ nạn ma túy
Theo Liên Hợp Quốc: “Ma túy là các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên và nhân
tạo khi xâm nhập cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức và
trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nên những tổn thương cho
từng cá nhân và cộng đồng, do vậy, việc vận chuyển, mua bán, sử dụng chúng phải
được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của các
cơ quan bảo vệ pháp luật”.
Theo nghĩa rộng: “Nghiện ma túy là tình trạng một bộ phận trong xã hội là những
người có thói quen dùng các chất ma túy, thường tìm mọi thủ đoạn, hành vi để có
được các chất ma túy và sử dụng chúng bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật và
dư luận xã hội”.
Theo nghĩa hẹp: “Nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đối với các
chất ma túy. Sự lệ thuộc đó đã tác động lên hệ thần kinh trung ương tạo nên những
phản xạ có điều kiện không thể quên và từ bỏ được”.
Những người nghiện ma túy họ phải lệ thuộc vào thuốc gây nghiện gồm: heroin,
cocain, moocfine, thuốc phiện, cần sa,... khiến người nghiện có sự thèm muốn
mãnh liệt khó cưỡng lại được. Khi sử dụng các chất gây nghiện thì người dùng có
nhau nhưng chủ yếu là những người sống xa nhà như: công nhân, nhân viên và
sinh viên.
Nhiều người muốn “sống thử” trước khi bước đến “sống thật”, nhưng trong quá
trình sống thử thì có rất ít cặp đôi dẫn đến hôn nhân chính thức. Bởi khi về sống
với nhau có nhiều vấn đề xẩy ra nó không giống như lúc yêu nhau, xẩy ra nhiều
mâu thuẫn mà khi yêu họ không biết về đối phương, dẫn đến xung đột và rồi chia
tay. Đây là vấn đề đang được xã hội quan tâm. Có người ủng hộ quan điểm sống
thử nhưng lại có người cho rằng sống thử là không nên. Vì xã hội ngày càng phát
triển, vấn đề hôn nhân cũng thoáng hơn vì thế mà tình trạng chia tay, li hôn ngày
càng nhiều.
2.2.5. Cá độ bóng đá
Cá độ bóng đá là dùng vật chất để cược vào sự thắng thua của các đội bóng trong
mỗi trận đấu. Tệ nạn này đã và đang gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho cá
nhân, gia đình và xã hội. Nó khiến con người bị tha hóa, gia đình phải gánh những
khoản nợ mà khó có thể trả được, khiến nhiều gia đình tan vỡ.
2.2.6. Bạo hành
Bạo hành là tất cả hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ,... làm người khác bị tổn thương
về thể xác cũng như tinh thần, trong cuộc sống riêng tư cũng như nơi công cộng.
Nhiều người dùng bạo hành để giải quyết công việc bấp chấp sự nghiêm cấm của
pháp luật, họ bạo hành người khác nhiều lúc không cần đến lý do.
2.2.7. Mê tín dị đoan
Mê tín dị đoan là niềm tin một hiện tượng xẩy ra vì là hậu quả của một hiện tượng
khác. Họ tin vào có ma quỷ, tin vào những điều tưởng như không tưởng. Mê tín dị
đoan khiến con người bị mê muội, tiêu cực. Trong thực tế, khi người ta làm một
hành động nào đó để một sự việc khác xẩy ra trong khi không có mối liên hệ nhân
quả nào giữa nhưng hiện tượng này.
2.3.
Do gia đình đông con, bố mẹ không quan tâm đầy đủ đến các con dẫn đến sự mặc
cảm bản thân. Từ đó không coi trọng giá trị bản thân. Đồng thời phương pháp giáo
dục của bố mẹ cũng ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng, lối sống của nhiều bạn trẻ.
Gia đình nghèo khổ, có hoàn cảnh éo le dẫn đến nhiều bạn trẻ có ý đồ xấu như
trộm cắp, chơi lô đề,... hoặc trong gia đình bố mẹ mải lao vào kiếm tiền mà quên đi
con cái. Con cái thiếu đi sự chăm lo, dạy dỗ của bố mẹ cũng dẫn đến sa vào tệ nạn
xã hội.
2.3.3. Yếu tố nhà trường
Nhà trường là môi trường có tác dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển
nhân cách mỗi con người ngay từ nhỏ. Tuy nhiên nhiều nơi, nhà trường có những
yếu kém, sai lầm góp phầm làm gia tăng các tệ nạn xã hội ở học sinh, sinh viên.
Kỷ luật của nhà trường, đoàn hội, đội chưa nghiêm, còn thờ ơ, lỏng lẻo.
Thiếu giáo dục toàn diện, không có chiều sâu dẫn đến học sinh, sinh viên sa sút về
phẩm chất, lối sống và vi phạm pháp luật.
Thiếu phong trào hoạt động lành mạnh, ít tổ chức giao lưu văn hóa tinh thần cho
học sinh, sinh viên.
Học mà không thấy tương lai khiến sinh viên dễ chán nản, lơ là việc học, dễ sa
vào tệ nạn xã hội.
2.3.4. Yếu tố xã hội
Sự gia tăng dân số dẫn đến thiếu việc làm, dư thừa lao động xuất hiện các tệ nạn xã
hội như trộm cắp, cướp giật,.... Tình trạng thất nghiệp ngày càng nhiều kéo theo sự
gia tăng các tệ nạn xã hội.
Tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy, tác động xấu tới tư tưởng con người.
Pháp luật của nhà nước chưa nghiêm dẫn đến các tệ nạn xã hội phát triển tràn lan
dưới nhiều hình thức, mức độ và tính chất khác nhau, khó phát hiện.
Các cơ quan chức năng không quản lý chặt chẽ, không kiểm soát hoặc không có
giải pháp ngăn chặn từ gốc rễ các tệ nạn xã hội. Chính sách mở cửa trong nền kinh
tế thị trường cũng kéo theo tệ nạn xã hội xuất hiện ngày càng nhiều. Sống trong
trọng trong công tác phòng chống và đẩy lùi tệ nạn xã hội nói chung.
Nhìn chung sinh viên khoa QTVP có nhận thức tương đối rõ ràng, đúng đắn về vai
trò của công tác phòng chống tệ nạn xã hội. Theo các bạn sinh viên cho rằng: bản
thân phải có kiến thức nhất định về các tệ nạn xã hội và tích cực tham gia vào các
phong trào để phòng chống tệ nạn xã hội. Có thể nói nhận thức của sinh viên về vai
trò của công tác phòng chống tệ nạn xã hội rất quan trọng. Bởi đây là một hoạt
động thiết thực và có ý nghĩa, nhưng bản thân mỗi bạn sinh viên phải hiểu rõ được
vai trò của công tác phòng chống tệ nạn xã hội thì mới có thái độ tích cực đối với
hoạt động này.
Không phải lúc nào bản thân có nhận thức đúng đắn thì có thái độ tích cực về các
vấn đề tệ nạn xã hội. Nhiều bạn sinh viên có thái độ dửng dưng trước những người
sa vào tệ nạn xã hội, và các vấn đề tệ nạn xã hội đang ngày càng lây lan và phổ
biến rộng khắp hiện nay.
2.4.2. Thái độ của sinh viên khoa QTVP trường Đại học Nội vụ Hà Nội đối với
vấn đề tệ nạn xã hội
Thông qua phương pháp trò chuyện với các bạn sinh viên mà tôi thấy rằng thái độ
của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội chưa có sự nhất quán cũng như chưa thật
sự đúng đắn. Thái độ của các bạn sinh viên còn tùy thuộc vào đối tượng mắc tệ nạn
xã hội, cụ thể là:
Người thân và bạn thân của các bạn sinh viên mắc vào tệ nạn xã hội thì họ có thái
độ rất bực tức và có người cảm thấy bực tức còn thái độ dửng dưng trước hiện
tượng này chiếm tỷ lệ rất ít. Khi người thân và bạn thân của họ mắc tệ nạn xã hội
thì thái độ của các bạn sinh viên là rất nghiêm túc, đúng đắn về vấn đề này. Và đây
cũng là hai đối tượng khi hỏi các bạn sinh viên thì thái độ của các bạn rất nghiêm
khắc,kiên quyết.
Nhưng bên cạnh đó một số đối tượng như bạn bè và những người xung quanh thì
nhiều bạn sinh viên có thái độ dửng dưng, thờ ơ trước những đối tượng ấy khi mắc
vào tệ nạn xã hội. Vì bản thân họ cho rằng đó không phải việc của mình, không
hội của sinh viên
Qua quá trình điều tra tôi thấy sinh viên đạt mức độ tích cực ở mức độ khá trong
việc tham gia các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội.
Các phòng trào như “nói không với vấn đề tệ nạn xã hội” hay “các hoạt động
phòng chống tệ nạn xã hội do đoàn trường, hội sinh viên tổ chức” có số lượng sinh
viên tham gia và hưởng ứng rất đông. Nhưng cũng có một số ý kiến cho rằng “các
hoạt động tệ nạn xã hội do đoàn trường, hội sinh viên tổ chức” chưa thật sự phong
phú về nội dung và hình thức và nhiều sinh viên không có điều kiện tham gia đầy
đủ các phong trào vì các cuộc thi thường giới hạn thí sinh tham gia do điều kiện
của nhà trường không cho phép.
Nhìn chung các hoạt động phong trào tệ nạn xã hội thu hút sinh viên ở mức độ vừa
phải vì vậy cần có các biện pháp góp phần nâng cao tính tích cực cho sinh viên
trong việc tham gia các hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội.
2.4.3.2.
xã hội
Tính tích cực của sinh viên trong việc phát hiện các hành vi tệ nạn
Nhiều sinh viên chưa thật sự quan tâm và thờ ơ khi phát hiện các hành vi tệ nạn xã
hội. Họ quan niệm không phải việc của mình thì không quan tâm, dây dưa vào có
khi mất mạng. Đối với từng loại tệ nạn xã hội thì tính tích cực của sinh viên cũng
khác nhau. Như tệ nạn ma túy, mại dâm, lô đề, cờ bạc thì phần đông sinh viên coi
như không biết gì, không có những biện pháp để ngăn chặn sự lây lan và phát triển
của các tệ nạn xã hội.
Đối với tệ nạn bạo hành thì nhiều bạn có ý kiến là báo cáo với cơ quan công an
hoặc góp ý trực tiếp với đối tượng vi phạm.
Đặc biệt đối với xu hướng sống thử thì hầu như sinh viên cho rằng là không nên
quan tâm vì đấy là quyền riêng tư của mỗi người. Mình không phận sự, không