Header Page 1 of 89.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2015
Footer Page 1 of 89.
Header Page 2 of 89.
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH LOAN
LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành
: Kinh tế chính trị
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN
1
6
ĐỀ TÀI
1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước
1.3. Đánh giá khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài và những
vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH KINH TẾ CỦA NGƯỜI LAO
6
13
24
29
ĐỘNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƯ
NƯỚC NGOÀI
2.1. Lý luận về lợi ích kinh tế
2.2. Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của người lao động trong các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam
4.1. Những quan điểm cơ bản nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn
thành phố Hà Nội
4.2. Các giải pháp chủ yếu nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động
trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố
Hà Nội
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Footer Page 4 of 89.
118
127
148
151
152
Header Page 5 of 89.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Footer Page 5 of 89.
FIE
:
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
ISO
:
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá
FDI
:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
:
Tổng sản phẩm quốc nội
KCN
:
Khu công nghiệp
XHCN
:
Xã hội chủ nghĩa
Header Page 6 of 89.
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Các quốc gia có số vốn đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam 6
61
tháng đầu năm 2014
Bảng 3.1: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp vào sự
88
tăng trưởng của GDP
Bảng 3.2: Mức lương tối thiểu vùng đối với doanh nghiệp FDI
Footer Page 6 of 89.
90
Header Page 7 of 89.
96
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
Biểu đồ 3.6:
Hoàn cảnh cư trú của người lao động trong các doanh
98
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn Hà Nội
Sơ đồ 2.1:
Mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa người lao động,
doanh nghiệp, nhà nước
Footer Page 7 of 89.
59
Header Page 8 of 89.
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tình hình hiện nay trước sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật thông tin
và xu thế toàn cầu hóa kinh tế đã tạo cho nền kinh tế thế giới phát triển năng
động mạnh mẽ hơn, cùng với xu thế chung đó đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng đã có sự gia tăng hơn trước rất nhiều.
2
trí trong không gian chật hẹp, thiếu điện nước thường xuyên. Đời sống tinh thần của
công nhân cũng rất hạn chế, ngoài giờ làm việc công nhân ít được tiếp xúc với các
phương tiện thông tin đại chúng như sách báo, phim ảnh, ti vi…
Nhìn chung, tình trạng một số DNCVĐTNN vẫn chưa quan tâm thích đáng
đến lợi ích kinh tế của người lao động cụ thể là:
- Vi phạm lợi ích kinh tế trực tiếp của người lao động: Tiền công; tiền
thưởng; quỹ phúc lợi, bảo hiểm.
- Vi phạm lợi ích kinh tế gián tiếp: Điều kiện môi trường làm việc độc hại,
trang thiết bị cho người lao động không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh, an toàn lao
động thấp; đời sống tinh thần thiếu thốn.
- Xuất hiện nhiều hiện tượng tiêu cực trong quá trình sử dụng lao động, lừa
đảo, đánh đập người lao động, không thể hiện sự quan tâm đến lợi ích kinh tế của
người lao động...
Do điều kiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động trong các
DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội không được bảo đảm dẫn tới tình trạng
người lao động trong nhiều DN đình công, đấu tranh đòi tăng lương, cải thiện môi
trường làm việc, yêu cầu các chủ DN quan tâm tới các nhu cầu và lợi ích chính
đáng của công nhân. Mặt khác, cũng do lợi ích của công nhân bị xâm hại, mức
lương thấp, điều kiện cuộc sống khó khăn đã có một bộ phận công nhân sa vào các
tệ nạn xã hội trộm cắp, cờ bạc, lừa đảo… Tất cả các hiện tượng tiêu cực nảy sinh
trong đời sống của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố
Hà Nội đã tác động không tốt đối với sự phát triển kinh tế và trật tự an toàn xã hội
(TTATXH) trên địa bàn thành phố.
Trước thực trạng trên dẫn đến có nhiều cuộc đình công, bãi công, của người
lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Do tích tụ mâu
thuẫn trong giải quyết lợi ích kinh tế của người lao động trong các DNCVĐTNN
xuất hiện những xung đột xã hội, gây ra những biến động xấu về kinh tế, chính trị.
Đây không chỉ là vấn đề bức xúc mà còn là vấn đề phải giải quyết cơ bản lâu dài
trong quá trình thu hút đầu tư nước ngoài và bảo đảm lợi ích kinh tế cho người lao
thành phố Hà Nội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án
- Về nội dung: Trên địa bàn thành phố Hà Nội có vốn đầu tư nói chung, mà
chỉ nghiên cứu trong DN thuộc loại 100% vốn đầu tư nước ngoài.
- Về không gian: Trên địa bàn thành phố Hà Nội ở 3 khu công nghiệp
(KCN): KCN Bắc Thăng Long huyện Đông Anh, Hà Nội; KCN Nội Bài huyện Sóc
Sơn, Hà Nội, và KCN Quang Minh huyện Mê Linh, Hà Nội.
- Về thời gian: Luận án nghiên cứu từ năm 2000 đến 2014 và đề xuất giải
pháp đến năm 2020.
Footer Page 10 of 89.
Header Page 11 of 89.
4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1. Cơ sở lý luận của luận án
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chủ
trương, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; chính sách, pháp luật của Nhà
nước; kết quả của những công trình nghiên cứu khoa học tiêu biểu có liên quan đến
LIKT của người lao động trong các DNCVĐTNN. Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận
cho đề tài của luận án.
4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án
- Về phương pháp luận: Luận án sử dụng các phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học để phân
tích các vấn đề lý luận và thực tiễn.
- Về phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng các phương pháp thống kê,
phân tích, lô gíc kết hợp với lịch sử, khảo sát thực tiễn.
- Kế thừa một cách có chọn lọc kết quả nghiên cứu của các công trình khoa
- Về mặt thực tiễn, từ phân tích thực trạng LIKT của người lao động trong
các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2000 - 2014, luận án chỉ
ra những kết quả đạt được, những mặt hạn chế chủ yếu và nguyên nhân của những
hạn chế đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp có tính khả thi, nhằm bảo đảm LIKT
của người lao động trong các DNCVĐTNN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Vì vậy,
luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo tốt cho thành phố Hà Nội nói riêng để
vận dụng vào giải quyết mối quan hệ LIKT giữa người lao động, DNCVĐTNN và
các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án
gồm 4 chương, 12 tiết.
Footer Page 12 of 89.
Header Page 13 of 89.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
1.1.1. Một số tác phẩm nghiên cứu về lợi ích kinh tế tiêu biểu của
nước ngoài
Trong tác phẩm "The wealth of nations" (Của cải của các dân tộc) [3, tr.65]
của A.Smith, cho rằng: Sự tiến bộ vĩ đại nhất trong quá trình phát triển sức sản xuất
của lao động và tỷ lệ đáng kể của nghệ thuật, kỹ năng và trí thông minh, rõ ràng đã
được xuất hiện nhờ kết quả của việc phân công lao động. Ông đã quan sát quá trình
làm việc của các xưởng thủ công thấy rõ khi có sự phân công chuyên môn hoá thì
năng suất của mỗi người trong điều kiện phân công chuyên môn hoá đã tăng gấp
tăng của cải xã hội. Nhưng xuất phát từ tính vị kỷ của con người, lợi ích của cá
nhân này bị hạn chế bởi lợi ích của cá nhân khác và trong quá trình thực hiện LIKT,
tất cả các chủ thể đều có mối quan hệ với nhau. A.Smith đã viết: "Anh cho tôi thứ
mà tôi thích, anh sẽ có thứ mà anh yêu cầu, đó chính là ý nghĩa của trao đổi" [3,
tr.65]. Từ quan điểm đó, A.Smith đã chỉ rõ: Đó chính là toàn bộ ý nghĩa quan hệ
kinh tế và cũng chính bằng cách này mà người ta nhận được phần lớn các dịch vụ
cần thiết trong cuộc sống. Như vậy, lần đầu tiên ông đã nghiên cứu các lợi ích trong
mối quan hệ lẫn nhau giữa chúng, Ông cho rằng, bất cứ lợi ích nào cũng chỉ được
đáp ứng trong trường hợp nó không mâu thuẫn với tăng năng suất của tư bản. Tiền
lương cao không mâu thuẫn với lợi ích xã hội, vì theo mức tăng tiền lương thì năng
suất lao động cũng sẽ được tăng lên. Mặt tích cực trong lý luận lợi ích của A. Smith
là ở chỗ: LIKT được coi là động lực cơ bản của sự phát triển sản xuất xã hội, ông
thừa nhận yếu tố khách quan trong nội dung của LIKT với tư cách là đầu mối trong
hoạt động kinh tế của con người [3].
Nhà kinh tế David Ricardo (1772 - 1823) đã khẳng định: Lợi ích kinh tế của
các giai cấp khác nhau được xây dựng trên cơ sở lý luận về giá trị, tiền lương và lợi
nhuận chỉ là bộ phận của giá trị và cũng là nguồn gốc của lao động. Do đó, việc
tăng hay giảm tiền lương sẽ không ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa, mà chỉ ảnh
hưởng đến việc phân phối giá trị đã được tạo ra giữa công nhân và tư bản, vì vậy sẽ
ảnh hưởng đến lợi ích của họ. Khi giá trị vật phẩm tiêu dùng thiết yếu giảm xuống,
tiền công lao động giảm, lợi nhuận của nhà tư bản tăng lên. Điều đó thể hiện trong
số giá trị mới được tạo ra, phần của công nhân nhỏ hơn, còn phần của người sử
dụng lao động (nhà tư bản) thì lớn hơn, đây là mối quan hệ tỷ lệ nghịch về lợi ích,
nếu lợi ích của người đi thuê công nhân tăng thì lợi ích của người đi làm thuê sẽ
giảm và ngược lại [82]. Phát hiện này của ông có ý nghĩa rất lớn đối với việc nghiên
cứu quan hệ lợi ích giữa chủ và thợ trong các cơ sở sản xuất có thuê mướn lao động.
Footer Page 14 of 89.
thần, LIKT riêng và lợi ích chung của xã hội, nếu điều tiết hợp lý hệ thống các mối
quan hệ LIKT này sẽ tạo động lực phát triển của xã hội.
Tóm lại, những công trình nghiên cứu tiêu biểu về LIKT của các tác giả nước
Footer Page 15 of 89.
Header Page 16 of 89.
9
ngoài đã thể hiện rõ những quan điểm dưới góc độ nghiên cứu khác nhau về lợi ích
và LIKT nói chung. Nhưng cũng đã có nhiều ý kiến đồng nhất, đặc biệt là vai trò
của LIKT với tư cách là một động lực phát triển xã hội.
1.1.2. Một số tác phẩm tiêu biểu ở nước ngoài nghiên cứu về đầu tư và
mối quan hệ giữa chủ doanh nghiệp và người lao động
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908 - 1970), đã đưa ra thuyết về nhu cầu
nổi tiếng vào những năm 1950 (Thuyết nhu cầu của Maslow). Học thuyết này chỉ
rõ: Lợi ích nhu cầu - động lực kinh tế, bổ sung gắn kết động lực nhu cầu - LIKT,
mọi lợi ích đều xuất phát từ nhu cầu của con người mong muốn và luôn đấu tranh
để thoả mãn đáp ứng những nhu cầu đó. Nhu cầu của con người có hai nhóm chính:
nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs). Theo đó, nhu cầu
bậc thấp bao giờ cũng cần thiết và quan trọng hơn, đóng vai trò định hướng của mục
tiêu cá nhân. Khi nhu cầu bậc thấp được thoả mãn, những nhu cầu bậc cao sẽ là
động cơ hành động và khi những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc dưới sẽ lấn át
những nhu cầu chưa được thoả mãn ở bậc cao hơn và chúng cần được thoả mãn
trước khi một cá nhân tiến lên các bậc cao hơn của tháp nhu cầu.
Theo Harold Meyerson (Mỹ), "Công nhân cũng xứng đáng hưởng lợi ích từ
năng suất lao động của họ" [124]. Đây là một bài báo dựa trên quan điểm cá nhân
của Harold Meyerson, được đăng trên trang điện tử của tạp chí danh tiếng
Washington Post - về dự luật của Đảng Dân chủ, mang tên nhà Dân chủ Chris Van
ích và sự hài lòng cho người lao động.
N.Driffield và K. Taylor (2000), "FDI and the labour market: a review of the
evidence and policy implications" [119] khẳng định, loạt các kết quả liên quan đến
tác động thị trường lao động và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Anh. Bài viết
chứng minh rằng một trong những tác động quan trọng của FDI là tăng sự bất bình
đẳng tiền lương và sử dụng lao động có tay nghề tương đối nhiều tại các DN trong
nước. Kết quả này do sự kết hợp của hai tác động: 1) Sự gia nhập của DN đa quốc
gia (MNE: Multi-national Enterprises) làm tăng nhu cầu về công nhân lành nghề
trong một ngành công nghiệp hoặc khu vực, do đó làm tăng sự bất bình đẳng tiền
lương; 2) Sự phát triển của công nghệ xảy ra từ nước ngoài tác động tới các DN
trong nước, là kết quả của những tác động lan toả, nhu cầu về công nhân lành nghề
tăng lên ở các công ty trong nước, tiếp tục tạo thêm sự bất bình đẳng tiền lương.
Nghiên cứu cũng xem xét các tác động của vốn FDI và sự khác biệt về năng suất lao
động giữa các DN trong và ngoài nước; các tác động này sẽ được thảo luận, dựa
trên quan điểm của phát triển khu vực và hiệu quả khả năng thu hút nguồn vốn FDI
để giảm thất nghiệp cơ cấu.
Dirk Willem te Velde và Oliver Morrissey (2002), "Foreign Direct
Investment, Skills and Wage Inequality in East Asia" [116]. Công trình nghiên cứu về
Footer Page 17 of 89.
Header Page 18 of 89.
11
những tác động của FDI đến tiền lương và những bất công về tiền lương ở 5 quốc gia
Đông Á giai đoạn 1985-1995. Theo đó, sự bất công về lương giảm dần ở một vài
nước, nhưng không phải ở tất cả quốc gia Đông Á. Nghiên cứu dựa trên dữ liệu ILO
(International Labour Organization) của nhóm tác giả không tìm ra được nhiều những
bằng chứng mạnh mẽ cho thấy FDI làm giảm sự bất công bằng về tiền lương, điển
12
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc đạt
được tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở các nước đang phát triển. Các quốc gia
đang phát triển đã không được coi là địa điểm thuận lợi cho FDI như các nước phát
triển, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ, Nigeria và Sudan đang tiếp nhận phần
lớn nguồn FDI. Mặt khác, đã sử dụng dữ liệu từ 68 nước đang phát triển có thu
nhập thấp và trung bình thấp, xác định các yếu tố quyết định dòng vốn FDI vào các
nước đang phát triển. Dựa trên một cuộc thảo luận so sánh tập trung vào lý do tại
sao một số nước thành công trong việc thu hút FDI, trong khi những nước có GDP
lớn hơn, tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn, tỷ lệ của thương mại quốc tế cao hơn và
môi trường kinh doanh thân thiện hơn là thành công hơn trong việc thu hút FDI.
Behzad Azarhoushang (2013), The effects of FDI on China’s economic
development; case of Volkswagen in China. (Behzad Azarhoushang- Institute of
Management Berlin, Publication) [112]. Trong nội dung nghiên cứu này, tác giả đưa
ra một cái nhìn tổng quan về tình hình đầu tư FDI ở Trung Quốc, lấy điển hình là DN
ô tô Volkswagen. Nghiên cứu đã chỉ ra những tác động của FDI đến mọi mặt của
kinh tế Trung Quốc: sản lượng, nguồn lao động, tiền lương, tình hình xuất khẩu.
Nguồn nhân lực chất lượng cao, sự cạnh tranh của DN FDI với DN trong nước về
việc thu hút nhân lực, cũng như sự mất cân đối về tiền lương trả cho 3 nhóm công
nhân: Công nhân lành nghề, công nhân bán chuyên và công nhân không có tay nghề.
Abhirup Bhunia (2013), Labour in times of rising foreign direct investment
in developing countries [111]. Tác giả đưa ra những đánh giá về tác động của FDI
đến tình trạng tiền lương, tiền thưởng và thu nhập của công nhân các quốc gia tiếp
nhận vốn đầu tư có sự hấp dẫn về nguồn lao động giá rẻ. Tuy nhiên, lợi thế này đã
không còn phát huy tác dụng trong bối cảnh hiện nay, mà là chất lượng lao động,
môi trường, đầu tư, chính sách ưu đãi…
Layna Mosley (2013), Labour rights and Multinational Production [118].
Trong đó, tác giả tập trung nghiên cứu mối quan hệ về lao động trong các tập đoàn đa
quốc gia, những tranh cãi về "cuộc đua tới đáy", cạnh tranh toàn cầu đang làm giảm
chung là tìm kiếm lợi nhuận. Từ đó, gây ra mâu thuẫn giữa chủ DN và người lao
động về LIKT, để giải quyết được cần phải có sự điều tiết, can thiệp của Nhà nước,
cơ quan chức năng liên quan và các tổ chức chính trị xã hội.
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA CÁC TÁC GIẢ TRONG NƯỚC
1.2.1. Một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về lợi ích kinh tế
Ở nước ta, trước Đại hội IV (1976), vấn đề LIKT đã được quan tâm nhưng
chưa đúng mức, do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, đặt lợi ích dân tộc lên trên
LIKT đối với cá nhân người lao động. Đến thập niên 80 thập kỷ XX, LIKT đối với
lao động nông nghiệp được quan tâm. Thể hiện ở Chỉ thị số 100/CT-TW của Ban Bí
Footer Page 20 of 89.
Header Page 21 of 89.
14
thư Trung ương Đảng (khoá IV) về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ngày
13/1/1981, với phương hướng: "Khuyến khích hơn nữa lợi ích chính đáng của
người lao động". Qua đó, đã tạo ra động lực thúc đẩy để người nông dân hăng say
sản xuất, làm cho năng suất và sản lượng lương thực có sự tăng vượt trội so với
những năm trước.
- Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV (1979) đã đặt
ra vấn đề kết hợp 3 LIKT: Nhà nước, tập thể và cá nhân người lao động, đây chính
là điểm mốc mở đầu cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về LIKT từ năm 1981 đến nay.
- Nghị quyết Bộ Chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, ngày
5/4/1988 nhấn mạnh: "Giải quyết đúng đắn các mối quan hệ về lợi ích, nhất là đảm
bảo lợi ích chính đáng của người sản xuất trước.., không ngừng cải thiện đời sống
nhân dân lao động, góp phần tích luỹ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội".
Như vậy, ở Việt Nam vấn đề LIKT được chú ý nhiều từ Hội nghị Trung
quản lý nhằm điều tiết và quan tâm đúng mức đến mỗi lợi ích trong hệ thống ba lợi
ích đó.
Nguyễn Linh Khiếu (1999), Lợi ích động lực phát triển xã hội [44]. Tác giả
đã tổng kết lại nhiều nghiên cứu khác nhau về lợi ích trong nước và ngoài nước.
Tác giả đã đưa ra một cách tiếp cận mới về khái niệm lợi ích: "Lợi ích chỉ có ý
nghĩa là lợi ích trong các quan hệ lợi ích cụ thể. Ngoài quan hệ lợi ích nó không
còn là lợi ích nữa mà chỉ là cái có lợi hay có ích đối với các chủ thể ở một hoàn
cảnh nhất định. Trong trường hợp này, nó cũng giống như các đối tượng thoả mãn
nhu cầu hoặc chính là các đối tượng thoả mãn nhu cầu" [44, tr.48-50]. Từ sự phân
tích trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về quan hệ lợi ích như một khái niệm trung
gian để giải thích khái niệm lợi ích. Ông viết: "Quan hệ lợi ích là mối quan hệ
khách quan giữa các chủ thể có cùng nhu cầu và cùng đối tượng thoả mãn nhu cầu
như nhau trong việc thực hiện nhu cầu ấy". Quan hệ lợi ích chỉ nảy sinh trong một
hoàn cảnh xã hội nhất định và chỉ nảy sinh khi quan hệ nhu cầu trở nên không trực
tiếp thực hiện được.
Ngoài ra, tác giả còn phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích vật chất và
lợi ích tinh thần; giữa lợi ích chung và lợi ích riêng; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích
lâu dài. Mối quan hệ biện chứng giữa các lợi ích tiêu biểu với tư cách là động lực
của xã hội đã được ông biện giải rất rành mạch và thuyết phục. Về quan hệ giữa lợi
ích vật chất (LIKT) và lợi ích tinh thần, tác giả khẳng định: "Xét đến cùng thì các
lợi ích vật chất đóng vai trò quyết định và là tiền đề, là cơ sở để thực hiện các lợi
ích tinh thần. Và thực hiện được các lợi ích tinh thần sẽ tạo ra những khả năng mới
trong sự nảy sinh cũng như làm xuất hiện những phương thức thực hiện lợi ích vật
chất mới" [44, tr.70]. Khi phân tích bản chất, vai trò của lợi ích chung và lợi ích
riêng, tác giả nhận thấy rõ vai trò, động lực trực tiếp của lợi ích riêng trong việc thôi
Footer Page 22 of 89.
Header Page 23 of 89.
thói, phong tục tập quán, kéo theo nhiều hệ luỵ…Tác giả đã đưa ra khái niệm: Lợi ích
kinh tế là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan về sự
Footer Page 23 of 89.
Header Page 24 of 89.
17
hoạt động của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ
thống quan hệ sản xuất quyết định [36, tr.10]. Tác giả đã nghiên cứu những kết quả
tích cực về xử lý quan hệ LIKT, từ đó cũng thấy được những hạn chế, khó khăn về
việc xử lý các quan hệ LIKT phát sinh trong quá trình đô thị hoá ở Hà Nội; tác giả đã
đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm giải quyết mối quan hệ LIKT trong quá trình đô
thị hoá, để giải quyết hài hoà các quan hệ về LIKT giữa các chủ thể.
Hoàng Văn Luận (2000), Lợi ích động lực của sự phát triển bền vững [57].
Luận án đã đi sâu phân tích, khảo sát nhu cầu và những hoạt động của con người
nhằm thoả mãn nhu cầu làm cơ sở để nghiên cứu về lợi ích. Tác giả chỉ rõ hoạt
động thoả mãn nhu cầu của con người bao gồm: Hoạt động tạo ra của cải vật chất
cụ thể và hoạt động trao đổi các của cải vật chất ấy để đáp ứng tốt nhất và đầy đủ
nhất nhu cầu của mình. Tác giả khẳng định: Lợi ích không những chỉ xuất hiện
trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu giống nhau và có chung đối
tượng thoả mãn nhu cầu. Đây là khâu cơ bản nhất để khảo sát về lợi ích, lợi ích
không những chỉ xuất hiện trong mối quan hệ giữa các chủ thể có cùng nhu cầu
giống nhau và có chung đối tượng thoả mãn nhu cầu ấy. Từ những phân tích như
trên, tác giả đã đưa ra khái niệm về lợi ích như sau: Lợi ích là một khái niệm
mang tính lịch sử - xã hội dùng để chỉ phần giá trị của nhu cầu được thoả mãn
thông qua trao đổi hoạt động với các chủ thể nhu cầu khác trong những điều kiện
lịch sử nhất định.
Trần Thị Lan (2012), Quan hệ LIKT trong thu hồi đất của nông dân để xây
phạm những cam kết từ phía người sử dụng lao động. Thứ hai, về phía người lao
động, do người lao động hiểu biết pháp luật còn hạn chế và do thu nhập thấp, mức
lương tối thiểu thấp, thiếu nhà ở, điều kiện sinh hoạt khó khăn. Thứ ba, về phía cơ
quan quản lý nhà nước, chưa làm tốt việc tổ chức và phối hợp thực hiện, kiểm tra,
thanh tra thực hiện các quy định pháp luật về lao động, tiền lương nên việc vi phạm
lao động còn nhiều. Thứ tư, vai trò của công đoàn còn yếu và mờ nhạt, chưa lãnh
đạo được các cuộc đình công theo đúng trình tự của BLLĐ quy định.
Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp giảm thiểu đình công: Tăng cường hoàn
thiện hệ thống pháp luật lao động; nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý Nhà
nước để luật pháp đã được ban hành phải được tuân thủ một cách nghiêm túc triệt
để; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn các cấp; đối với DN phải chấp
hành đầy đủ các qui định về chế độ tiền lương, trả lương thấp; đối với người lao
động, phải tăng cường hiểu biết kiến thức về pháp luật, nâng cao ý thức tuân thủ
pháp luật lao động.
Đỗ Thị Vân Anh (2010), "Nguyên nhân đình công ở một số DN trong thời
gian qua"[2]. Trong đó, đã phân tích một hiện tượng xã hội mới xuất hiện, đó là mối
Footer Page 25 of 89.