BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
---------------------
NGUYỄN NGỌC BẢO TRÂN
PHẢN ỨNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ
MÔ ĐỐI VỚI CÁC CÚ SỐC BÊN NGOÀI - ỨNG
DỤNG MÔ HÌNH STRESS – TESTING
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN NGỌC BẢO TRÂN
PHẢN ỨNG CỦA CÁC YẾU TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐỐI
VỚI CÁC CÚ SỐC BÊN NGOÀI - ỨNG DỤNG MÔ
HÌNH STRESS – TESTING
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..........................................................30
4.1. Kiểm định tác động của cú sốc bên ngoài lên nền kinh tế vĩ mô Việt
Nam 30
4.2.
Kết quả ước lượng mô hình BVAR ......................................................34
4.3. Kiểm tra cú sốc vĩ mô bằng cách sử dụng mô hình Stress Testing:
ứng dụng cho nợ quá hạn ................................................................................40
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ .............................53
5.1.
Kết luận về kết quả nghiên cứu ............................................................53
5.2.
Hạn chế hướng nghiên cứu tiếp theo ....................................................54
5.3.
Hướng mở rộng ......................................................................................54
5.4.
Một số khuyến nghị ................................................................................54
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Hình 4.2 Tình hình xuất khẩu Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 và dự báo năm 2016
Hình 4.3 Thay đổi các mức lãi suất giai đoạn năm 2011 – năm 2014
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Các biến kinh tế vĩ mô được xem xét lựa chọn
Bảng 3.2 Các biến dùng trong mô hình hồi quy
Bảng 4.1 Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.2 Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu
Bảng 4.3 Kiểm định độ trễ tối ưu
Bảng 4.4 Kiểm định tính ổn định mô hình
Bảng 4.5 Biều đồ IRF và bảng phân rã theo tác động từ cú sốc trong GDP_F của mô
hình US theo BVAR
Bảng 4.6 Biều đồ IRF và bảng phân rã theo tác động từ cú sốc trong GDP_F của mô
hình US theo VAR
Bảng 4.7 Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình
Bảng 4.8 Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình
Bảng 4.9 Kết quả hồi quy mô hình
Bảng 4.10 Dự báo lạm phát 2016 cho một số nước Đông Nam Á
Bảng 4.11 Kịch bản vĩ mô
TÓM TẮT
Nền kinh tế Việt Nam vừa qua có nhiều biến động do ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu 2007 – 2009 và khủng hoảng nợ công châu Âu 2010. Có
hai vấn đề lớn trong nền kinh tế Việt Nam. Đầu tiên là tăng trưởng kinh tế chậm
chạp do sự sụt giảm cầu quốc tế. Vấn đề thứ hai là sự ổn định của hệ thống ngân
hàng khi nợ xấu có khuynh hướng ngày càng gia tăng. Bài viết ứng dụng công cụ
Stress Testing - một công cụ quản trị rủi ro để xem xét khả năng chịu đựng của các
ngân hàng trước tác động của các biến nội sinh và ngoại sinh. Kết quả cho thấy, thứ
vĩ mô. Minh chứng cho điều này chính là những ảnh hưởng sâu sắc từ cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2007 – 2009 và khủng hoảng nợ công Châu Âu năm
2010 khiến cầu đầu tư và tiêu dùng Việt Nam đều giảm và nguy cơ khủng hoảng nợ
trong hệ thống ngân hàng tăng cao. Từ đó làm nảy sinh nhu cầu cấp thiết cần phải
nghiên cứu: thứ nhất là tác động của các cú sốc kinh tế bên ngoài liệu có ảnh hưởng
đến nền kinh tế Việt Nam hay không, ảnh hưởng như thế nào, mức độ ảnh hưởng ra
sao đối với nền kinh tế trong nước; thứ hai là xem xét hoạt động của hệ thống ngân
hàng thương mại Việt Nam hiện nay mà cụ thể là xem xét tỷ lệ nợ xấu đang có
khuynh hướng gia tăng sẽ chịu ảnh hưởng từ các yếu tố nào (đại diện bởi các yếu tố
kinh tế vĩ mô và các yếu tố đặc trưng nội bộ ngân hàng). Đây cũng chính là lý do tôi
chọn đề tài: “Phản ứng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với các cú sốc bên ngoài
- Ứng dụng mô hình Stress Testing”.
2
Trong các nghiên cứu trước đây về việc đo lường ảnh hưởng của các cú sốc
kinh tế, thông thường có thể sử dụng rất nhiều phương pháp và mô hình khác nhau
như mô hình hiệu chỉnh sai số vector - VECM (Vector Error Correction Model), mô
hình Vectơ tự hồi quy - VAR (Vector Autoregressive Model), phương pháp GMM
(generalized method of moments),…Bài nghiên cứu sử dụng mô hình VAR nhằm
đánh giá khả năng phục hồi cho nền kinh tế Việt Nam trước các cú sốc bên ngoài ,
cụ thể là cú sốc đến từ nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn từ quý I năm 2000 đến quý II
năm 2015, dữ liệu được lấy theo quý. Cú sốc bên ngoài trong bài là cú sốc từ GDP
của Mỹ được lấy dữ liệu Ngân hàng dự trữ Liên bang St. Louis, các biến vĩ mô
trong nước bao gồm tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ Việt Nam, dữ
liệu từ Worldbank; sản lượng công nghiệp, dữ liệu từ Tổng cục thống kê, tỷ lệ thất
nghiệp trên cơ sở ILO, dữ liệu lấy từ Worldbank.
Phương pháp thứ hai mà bài sử dụng là GMM và Stress Testing cho việc đo
lường tác động của các các yếu tố vĩ mô và các yếu tố nội bộ đặc trưng của ngân
-
Thứ hai, tỷ lệ nợ xấu chịu ảnh hưởng của các yếu tố nào? Mức độ ảnh
hưởng ra sao? Từ kịch bản vĩ mô được xác định, hoạt động của hệ thống ngân hàng
diễn biến như thế nào?
Bố cục luận văn gồm 05 phần, cụ thể như sau:
Chương 1: Giới thiệu. Phần này sẽ trình bày những dẫn nhập về vấn đề
nghiên cứu của luận văn.
Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây. Phần này sẽ trình bày
những nghiên cứu trước đây của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề được
đề cập trong luận văn.
Chương 3: Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày lý
do lựa chọn mô hình, đồng thời trình bày về cách thức thu thập và xử lý dữ liệu đầu
vào và phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Phần này sẽ trình bày việc chạy mô hình,
các kiểm định, kết quả rút ra được từ mô hình nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và Một số kiến nghị. Phần này sẽ trình bày tổng kết bài
nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần này cũng sẽ tiến hành đề
xuất một số kiến nghị cho vấn đề nghiên cứu trong bài.
4
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Luận văn đầu tiên sẽ xem xét về phản ứng của nền kinh tế vĩ mô Việt Nam
trước cú sốc bên ngoài. Cuộc khủng hoảng tài chính không chỉ gây ra vấn đề lớn đối
giá rẻ, mà thay vào đó bắt đầu cho phép tiền lương và tiêu dùng tư phát triển song
song với năng suất nhằm củng cố việc mở rộng năng lực sản xuất bằng cách phát
triển thị trường nội bộ và thị trường khu vực. Hạ Thị Thiều Dao (2013) cho rằng
mức độ hội nhập của một nền kinh tế đối với nền kinh tế toàn cầu sẽ chi phối sự ảnh
hưởng của các yếu tố bên ngoài mà cụ thể là khủng hoảng toàn cầu lên nền kinh tế
nước đó thông qua các kênh đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, kiều hối, ngoại
thương, nghiên cứu được thực hiện cho Việt Nam. Do đó cần có một chính sách
nhằm thúc đẩy một môi trường thuận lợi để tăng trưởng kinh tế bền vững. Các tổ
chức như IMF và OECD từ lâu đã ủng hộ một chính sách thương mại mở cửa mang
lại lợi ích về tăng trưởng kinh tế. Theo IMF (1997, p. 84), "Các chính sách ngoại
thương là một trong những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
đặc biệt là ở các nước đang phát triển". Việt Nam nhờ lợi thế về địa lý và nguồn tài
nguyên dồi dào đã giúp cho nền kinh tế đất nước khai thác thế mạnh trong sản xuất
hàng hóa hướng về xuất khẩu. Trong nhiều năm qua Việt Nam luôn mở cửa đón
nhận luồng vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ các quốc gia trên thế giới, cũng như
cho phép việc thành lập công ty liên doanh, chi nhánh công ty nước ngoài và các
công ty xuất khẩu đa quốc gia. Bài nghiên cứu sẽ định lượng tầm quan trọng của
hoạt động thương mại này và thảo luận về các tác động chính sách.
Về phương pháp tiếp cận thực nghiệm cho vấn đề đầu tiên, bài nghiên cứu sử
dụng mô hình VAR để tiến hành phân tích các cú sốc cầu quốc tế. Trong bối cảnh
của một nền kinh tế mở nhỏ, Cushman và Zha (1997) sử dụng mô hình SVAR để
nghiên cứu về chính sách tiền tệ của Đài Loan, đã tìm thấy những ảnh hưởng nhỏ và
không đáng kể lên đầu ra. Nghiên cứu cũng xem xét tác dụng những can thiệp của
ngoại hối của Ngân hàng trung ương Đài Loan với dữ liệu lấy theo tháng từ tháng 4
năm 1989 đến tháng 8 năm 2006. Biến tỷ giá hối đoái được kiểm soát chặt chẽ bởi
Ngân hàng trung ương Đài Loan với năm biến nội sinh: chỉ số sản xuất công
nghiệp, chỉ số giá tiêu dùng, các biện pháp trong chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái
NDT/USD, tỷ lệ tăng trưởng hàng tháng của tài sản nước ngoài ròng (sau khi loại
(2008) với các biến GDP thực, chỉ số giá thị trường chứng khoán thực, chỉ số giá
7
tiêu dùng, lãi suất ngắn hạn, giá dầu tính bằng USD/ thùng và tỷ giá hối đoái của
đồng tiền so với USD, dữ liệu lấy hàng quý trong giai đoạn 1979 đến năm 2005 cho
33 quốc gia từ các vùng khác nhau trên thế giới phát hiện ra rằng ở cấp độ toàn bộ
khu vực đồng Euro, tần suất vỡ nợ của công ty phản ứng nhất với những cú sốc lên
GDP, tỷ giá và giá cổ phiếu. Kilian (2009) sử dụng VAR để phân tích đánh giá tác
động của các cú sốc giá dầu lên các biến kinh tế vĩ mô bao gồm các biến phần trăm
thay đổi trong sản lượng dầu thô toàn cấu, các chỉ số hoạt động kinh tế thực (mức
giá vận chuyển hàng hóa lớn, trung bình tốc độ tăng trưởng, CPI Mỹ,...), giá dầu
thực với ba cú sốc: cung dầu, cú sốc cầu toàn cầu đối với các mặt hàng công nghiệp,
cú sốc cầu dầu mỏ. Bài viết ước tính các tác động của các cú sốc về giá thực tế của
dầu. Những cú sốc có thể có tác động trực tiếp đến nền kinh tế Mỹ cũng như các tác
động gián tiếp thông qua giá dầu. Những thay đổi trong thành phần của những cú
sốc giúp giải thích tại sao hồi quy của tập hợp các biến kinh tế vĩ mô về giá dầu có
xu hướng không ổn định.
Xét về các nghiên cứu trong nước, Nguyễn Phúc Cảnh (2013) nghiên cứu các
biến bao gồm giá dầu, tỷ giá danh nghĩa, thay đổi trong chỉ số giá theo năm, lãi suất
tái cấp vốn của ngân hàng Nhà Nước theo năm, lãi suất tái chiết khấu của ngân hàng
Nhà Nước theo năm, lãi suất điều hành, cung tiền M2, chỉ số VN-Index, chỉ số
HNX-Index trong giai đoạn năm 2000 đến năm 2013. Với mô hỉnh SVAR, bài viết
cho thấy chỉ số VN-Index phản ứng rất mạnh với sự thay đổi trong chỉ số lạm phát
của Việt Nam và cung tiền M2. Chỉ số VN-Index phản ứng không rõ ràng với các
cú sốc từ giá dầu thế giới và lãi suất điều hành của Ngân hàng Nhà nước và sản
lượng công nghiệp của Việt Nam. Chính sách tiền tệ của Việt nam có tác động
mạnh lên thị trường chứng khoán thông qua lạm phát và cung tiền, trong khi đó lãi
suất không có tác động lớn đến thị trường chứng khoán ở cả hai chỉ số VN-Index và
hơn, áp lực tiền lương cao hơn. Cuối cùng dẫn đến kết quả giá tiêu dùng tăng. Giá
tiêu dùng tăng gây ra lạm phát, giá cả tăng cao trong khi đó thu nhập chưa tăng kịp
đã làm giảm mức tiêu thụ hàng hóa, kéo theo sản xuất trì trệ, lại làm tăng tỷ lệ thất
nghiệp. Thêm vào đó, các doanh nghiệp xuất khẩu ban đầu nhờ vào sự hỗ trợ từ các
ngân hàng nhằm gia tăng sản xuất giờ đây khi việc kinh doanh không còn hiệu quả,
đầu tư giảm theo, dẫn đến các khoản nợ xấu cho ngân hàng. Các doanh nghiệp trong
nước cũng gặp trường hợp tương tự. Kết quả nợ xấu càng leo thang, có nguy cơ
9
khủng hoảng. Luận văn tập trung vào các yếu tố chi phối nợ xấu ngân hàng và các
chính sách giải quyết vấn đề trên nhằm cải thiện hệ thống tài chính cốt lõi của nền
kinh tế. Có rất nhiều nghiên cứu trước đây về vấn đề này. Nghiên cứu thực nghiệm
của tác giả liên kết các biến kinh tế vĩ mô và các biến nội tại thuộc về bản thân ngân
hàng tác động đến các khoản nợ quá hạn, như là một phần mở rộng của bài nghiên
cứu. Nghiên cứu sẽ đưa vào mô hình thứ hai ba biến vĩ mô nội địa từ mô hình một
để kiểm tra tác động của các cú sốc cầu quốc tế lên tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng.
Bài nghiên cứu sẽ ứng dụng công cụ Stress Testing cho nghiên cứu thực
nghiệm. Theo định nghĩa chung, Stress Testing là khái niệm để chỉ công cụ đo
lường mức độ biến động của danh mục khi có sự xuất hiện đột ngột của các biến cố
vĩ mô có tầm ảnh hưởng lớn. Hiện nay, công cụ này ngày càng được sử dụng rộng
rãi và phổ biến là được biết đến với vai trò đo lường độ nhạy cảm của hệ thống tài
chính trước tác động của một cú sốc nào đó.
Hoggarth, Sorensen, và Zicchino (2005) kiểm tra các liên kết giữa các biến
kinh tế vĩ mô và rủi ro tín dụng ở Anh, đề xuất một công cụ bổ sung để thực hiện
các bài kiểm tra căng thẳng về sự vững mạnh của hệ thống ngân hàng Anh với
những cú sốc bất lợi kinh tế vĩ mô. Đặt rủi ro tín dụng trực tiếp trong mô hình VAR
với ba biến kinh tế vĩ mô khác, các tác giả nhận ra rằng rủi ro tín dụng tổng hợp
phản ứng với những thay đổi trong tốc độ tăng trưởng và lãi suất. Mô hình chính
rủi ro tín dụng trong giai đoạn hiện tại. Việc tăng lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp ở kỳ
trước dẫn đến sự gia tăng rủi ro tín dụng của các ngân hàng.
Tháng 4 năm 1995, Ủy ban Basel đề xuất các ngân hàng cần thực hiện Stress
Testing, buộc các ngân hàng gia tăng lượng vốn cần thiết để hấp thụ các cú sốc khi
nó xảy ra. Tháng 1 năm 2009, Ủy ban Basel xuất bản tài liệu tư vấn về Stress
Testing. Khủng hoảng tài chính toàn cầu và khủng hoảng nợ công Châu Âu cho
thấy tổn thất của hệ thống ngân hàng do các cú sốc bên ngoài. Đe dọa khả năng
thanh khoản ngân hàng đến từ rủi ro kinh tế vĩ mô là chính. Cụ thể, hệ thống Dự trữ
Liên bang và các giám sát viên Mỹ đã đưa ra chương trình kiểm soát vốn (SCAP)
với hai kịch bản vĩ mô là kịch bản chuẩn và kịch bản xấu hơn nhằm đánh giá bộ
đệm vốn của hệ thống ngân hàng trong năm 2009 và năm 2010. Stress Testing toàn
EU của EBA 2011 tiến hành theo phương pháp bottom-up cho 903 ngân hàng trong
giai đoạn năm 2010 đến năm 2012 nhằm đánh giá khả năng phục hồi của hệ thống
11
ngân hàng dựa trên kịch bản đối với các biến số vĩ mô như GDP, thất nghiệp và giá
nhà. Kết quả cho thấy chỉ có 20 ngân hàng có CT1 giảm xuống dưới ngưỡng. Ngoài
ra, các ngân hàng phải tiến hành những biện pháp mở rộng như việc sử dụng các dự
phòng phản chu kỳ, thoái vốn, huy động vốn và back-stop, cũng như các hoạt động
quản lý khác nhằm giảm thiểu tác động từ cú sốc theo kịch bản bất lợi hơn. Stress
Testing cũng được thực hiện cho thị trường mới nổi ở Nga (2009), kết quả cho thấy
hệ thống ngân hàng Nga khá nhạy cảm với những thay đổi trong môi trường kinh tế
vĩ mô.
Hình 2.1 Mô hình hóa Stress Testing ngân hàng.
Sự kiện
Chức năng
hiện nghĩa vụ cho i.
(C)
Trong khi đó, giá nhà đất giảm cũng gây ra những thiệt hại lớn trong
danh mục đầu tư có thế chấp nhằm hỗ trợ an toàn của ngân hàng i. Cùng với rủi ro
tín dụng, rủi ro thị trường liên quan sẽ làm giảm khả năng thanh toán các nghĩa vụ
của ngân hàng i cho những đối tác khác (Sự kiện D).
(D)
Nếu tổn thất lớn hơn vốn dự phòng của i, ngân hàng i sẽ không thể để
thực hiện nghĩa vụ của mình đối với các ngân hàng khác (Sự kiện F). Sau đó, sự
sống còn của i phụ thuộc vào việc ngân hàng trung ương sẽ bơm vốn vào nó. Nếu
ngân hàng trung ương cho rằng sự vỡ nợ của i góp phần đáng kể vào sự sụp đỗ dây
truyền trong hệ thống ngân hàng, ngân hàng trung ương có thể bơm vốn cho i nhằm
ngăn chặn một cuộc khủng hoảng toàn hệ thống (Sự kiện E).
13
CHƯƠNG 3:
3.1.
DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dữ liệu và lựa chọn biến
Để giải quyết vấn đề đầu tiên của bài, các biến được sử dụng trong bài
trữ Liên bang St.
Mỹ
Adjusted Annual Rate,
Louis
Annual, (2009 = 100, tỷ
USD)
Giá dầu tính theo OIL_PRICE
USD/thùng
Cushing, WTI Spot Price Quản lý thông
FOB (USD/ thùng)
tin năng lượng
Mỹ
Tổng kim ngạch xuất EXPORT
Tổng kim ngạch xuất Worldbank
khẩu hàng hóa và
khẩu hàng hóa và dịch vụ
14
của Việt Nam tính theo
ATE
phần trăm
Trong các biến trong bài, biến ngoại sinh là GDP thực được điều chỉnh theo
mùa của Mỹ (GDP_US) và giá dầu (OIL_PRICE); biến nội sinh bao gồm tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam (EXPORT), sản lượng công
nghiệp (IPI), tỷ lệ thất nghiệp trên cơ sở ILO (UNEMPLOYMENT_RATE). Bài
nghiên cứu tiến hành xem xét các yếu tố vĩ mô Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào
khi có một cú sốc từ GDP của Mỹ.
Với nghiên cứu gốc, biến trong nước sẽ bao gồm GDP thực trong nước, tổng
kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, tỷ lệ thất nghiệp trên cơ sở ILO, tiền
lương được đo bằng tiền công cho mỗi nhân công. Tuy nhiên, do hạn chế về mặt số
liệu khi nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam, luận văn thay thế biến GDP thực
thành biến sản lượng công nghiệp. Điều này được cho là phù hợp vì sản lượng công
nghiệp là chỉ tiêu đánh giá tốc độ phát triển sản xuất ngành công nghiệp hàng tháng,
quý, năm; là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh khái quát tình hình phát triển toàn
ngành công nghiệp nói chung và tốc độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành
sản phẩm nói riêng. Biến này cũng được lựa chỏn phản ánh tình hình kinh tế trong
nước như nghiên cứu của Cushman và Zha (1997), Mala Raghavan và Param
Silvapulle (2007).
Trong các biến nội sinh, biến EXPORT đại diện cho hoạt động sản xuất
15
thương mại - một kênh quan trọng thông qua đó sự phát triển trong nền kinh tế thế
giới tác động vào Việt Nam. Biến sản lượng công nghiệp đại diện cho yếu tố sản
lượng. Biến tỷ lệ thất nghiệp đại diện cho thị trường lao động.
Hình 3.1 Các thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam
nghiên
cứu
tiến
hành
đưa
thêm
ba
biến
EXPORT,
IPI,
UNEMPLOYMENT RATE có được từ mô hỉnh BVAR vào mô hình nợ quá hạn
trên để đánh giá tác động của cú sốc cầu quốc tế trong thị trường nợ thế chấp. Ba
biến vĩ mô này đều được lấy logarit tự nhiên. Mô hình chạy ở năm t và năm t-1.
Bảng 3.2 Các biến dùng trong mô hình hồi quy
Biến
Định nghĩa
Dấu
Biến
lnREERt
Định nghĩa
Logarit tự nhiên của tỷ giá hối đoái thực hiệu lực thời
điểm t
Dấu
(+)
Logarit tự nhiên của tỷ số nợ trên tổng tài sản của ngân
lnL_Ai,t
hàng i thời điểm t
(+)
Thị phần tương đối ngân hàng i thời điểm t
(+)/(-)
SIZEi,t
Tốc độ tăng trưởng nợ ngân hàng i thời điểm t
∆LOANi,t
ln EXPORTt
ln IPIt
lnUNEMPLOY
MENTRATEt
(+)