BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TẤN TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CON NGƢỜI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GIAI ĐOẠN 2007 – 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TẤN TÀI
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN CON NGƢỜI ĐẾN TĂNG TRƢỞNG
KINH TẾ VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GIAI ĐOẠN 2007 – 2014
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
4.1.2. Tăng trưởng kinh tế khu vực ĐBSCL ........................................................... 49
4.1.3. Lao động khu vực ĐBSCL ............................................................................ 49
4.2. Phân tích .................................................................................................................. 51
4.2.1. Phân tích thống kê mô tả ............................................................................... 51
4.2.2. Phân tích mối tương quan giữa các biến trong mô hình ............................... 54
4.2.3. Kiểm định lợi thế kinh tế theo quy mô của mô hình nghiên cứu .................. 57
4.3. Kết quả kinh tế lượng .............................................................................................. 58
4.3.1. Kết quả hồi quy bằng 3 mô hình Pooled OLS, FEM và REM ...................... 58
4.3.2. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp ........................................................... 59
4.3.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu ....................................................................... 63
CHƢƠNG 5: KẾT LUẬN ........................................................................................... 65
5.1. Khám phá của nghiên cứu ....................................................................................... 65
5.2. Một số đề xuất và khuyến nghị ............................................................................... 66
5.3. Hạn chế của nghiên cứu .......................................................................................... 67
5.4. Hướng phát triển của đề tài ..................................................................................... 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Bảng tóm lược về kết quả nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và
ngoài nước ...................................................................................................................... 27
Bảng 3.1: Chi tiết tính toán biến vốn con người (H) ..................................................... 34
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp các biến sử dụng trong luận văn và các dấu kỳ vọng ........... 37
Bảng 4.1: Dân số trung bình phân theo khu vực của cả nước qua các năm .................. 48
Bảng 4.2: Lực lượng lao động theo khu vực của cả nước qua các năm ........................ 50
Bảng 4.3: Bảng thống kê mô tả các biến trong mô hình giai đoạn 2007 – 2014 ........... 52
Bảng 4.4: Ma trận tương quan các biến trong mô hình nghiên cứu chưa logarit hóa ... 56
OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic
Cooperation and Development)
Pooled – OLS: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled Regression Model)
REM: Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effect Model)
TCTK: Tổng cục Thống kê
TÓM TẮT
Với mục đích đo lường tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế vùng
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), từ các lý thuyết kinh tế học và các nghiên cứu
thực nghiệm trước, đặc biệt là của Ng và Leung (2004), đề tài sử dụng hàm sản xuất
Cobb – Douglas mở rộng với biến phụ thuộc là sản lượng và các biến độc lập bao gồm:
Vốn vật chất, lực lượng lao động, vốn con người, độ mở của nền kinh tế, tỷ trọng nông
nghiệp, chi tiêu chính phủ, ảnh hưởng của doanh nghiệp nhà nước và ảnh hưởng của
doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Trong đó, biến vốn con người được đo bằng số năm
đi học bình quân của lực lượng lao động.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cân đối của 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL giai
đoạn 2007 – 2014 và đề cập ba mô hình ước lượng cơ bản như sau: Mô hình hệ số
không thay đổi (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng
ngẫu nhiên (REM). Trong đó, mỗi mô hình đều có những ưu và nhược điểm riêng. Vì
vậy, thông qua các kiểm định tác giả có thể lựa chọn được mô hình mang lại ước lượng
vững và tính hiệu quả cao cho nghiên cứu.
Kết quả cho thấy mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) là mô hình có thể đem lại
ước lượng vững, tính hiệu quả cao nhất trong ba mô hình đề xuất của nghiên cứu và
vốn con người có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế với ước lượng khoảng
0,29% trên mỗi phần trăm tăng thêm của số năm đi học bình quân. Với kết quả đó, luận
văn khuyến nghị chính sách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế là đầu tư và phát triển giáo
dục, có nghĩa là tích lũy nâng cao vốn con người từ đó đem lại lợi ích cho xã hội thông
qua nhiều kênh, góp phần nâng cao năng suất lao động. Vì vậy, phát triển giáo dục
chính là cách khả thi để nâng cao tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam nói chung
tăng trưởng kinh tế ở vùng ĐBSCL trong thời gian gần đây chịu sự tác động của vốn
con người như thế nào? Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng và đánh giá ảnh hưởng của
vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL giai đoạn 2007-2014. Đồng
2
thời, nghiên cứu cũng đưa ra những kết luận và gợi ý chính sách đối với vốn con người
nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên số liệu phân tích.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này với mục tiêu là đánh giá tác động của yếu tố vốn con người đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế của vùng ĐBSCL giai đoạn 2007-2014. Kết quả nghiên cứu về
sự đóng góp của yếu tố này sẽ giúp ích cho việc đưa ra các khuyến nghị chính sách
phát triển nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vùng.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời câu hỏi như sau: Tác
động của yếu tố vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL như thế nào?
1.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính như sau:
(i) Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân tích số liệu về GDP, vốn vật chất, lực
lượng lao động, vốn con người, độ mở nền kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp, chi tiêu chính
phủ, tỷ trọng sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tỷ trọng
sản xuất công nghiệp của doanh nghiệp ngoài quốc doanh (DNNQD) trích từ Tổng cục
Thống kê, Niên giám Thống kê hàng năm của vùng;
(ii) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Để lượng hóa tác động của các yếu tố
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế vùng ĐBSCL, đề tài thực hiện chạy các mô hình
hồi quy trong dữ liệu bảng như: Mô hình hệ số không thay đổi (Pooled – OLS), mô
hình hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM) được sử dụng để
ước lượng tác động của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, đề tài thực
hiện các kiểm định cần thiết nhằm giảm thiểu hiện tượng ước lượng chệch. Cụ thể
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Mục đích của chương 2 nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết về tăng trưởng kinh tế và
vốn con người. Chương này được chia làm ba phần: Phần đầu tiên của chương, trình
bày các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, các lý thuyết về vốn con người và lý thuyết về
hàm sản xuất Cobb – Douglas; Phần thứ hai cung cấp các nghiên cứu thực nghiệm
trong và ngoài nước liên quan đến đề tài; Phần cuối cùng của chương là xây dựng
khung phân tích cho vấn đề nghiên cứu.
2.1. Khái niệm và lý thuyết về tăng trƣởng kinh tế
2.1.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế
Theo Soubbotina (2001) tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng về sản
lượng của một nền kinh tế. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) của một nền kinh tế
trong một khoảng thời gian nhất định. Trong đó, GDP là giá trị bằng tiền của tất cả sản
phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong
một thời gian nhất định (thường là một năm tài chính).
2.1.2. Tổng luận các mô hình tăng trƣởng kinh tế
Từ trước đến nay, qua mỗi thời kỳ kinh tế thay đổi đều hình thành những lý thuyết
và mô hình kinh tế đặc trưng tương ứng. Các lý thuyết, mô hình đó đóng vai trò quan
trọng diễn tả những quan điểm cơ bản nhất về sự phát triển kinh tế qua từng giai đoạn
thông qua các biến số kinh tế và mối liên hệ giữa chúng. Do đó, các lý thuyết cùng mô
hình kinh tế cũng không ngừng phát triển và hoàn thiện dựa trên cơ sở kế thừa, phát
triển các lý thuyết và mô hình trước đó để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
Sau đây, tác giả trình bày tóm tắt một số mô hình tăng trưởng kinh tế với những quan
điểm về yếu tố nguồn lực và tác động của chúng tới tăng trưởng kinh tế như sau:
5
Mô hình tăng trƣởng của David Ricardo (trƣờng phái Cổ Điển)
R0
K, L
Nguồn: Những nguyên lý của kinh tế chính trị học và thuế khóa (Ricardo, 2002)
Vậy, lý luận của Ricardo là: Tăng trưởng là hàm của tích lũy, tích lũy là hàm của
lợi nhuận, lợi nhuận lại phụ thuộc vào chi phí sản xuất lương thực, chi phí sản xuất
lương thực phụ thuộc vào đất đai. Do đó, đất đai là giới hạn đối với sự tăng trưởng.
Mô hình tăng trƣởng của trƣờng phái Tân Cổ Điển (mô hình Cobb – Douglas)
Trường phái Tân Cổ Điển xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 là thời kỳ đánh dấu sự
chuyển biến mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật với một loạt các phát minh khoa học và
nguồn tài nguyên được khai thác phục vụ cho quá trình sản xuất. Người đứng đầu của
trường phái này là Marshall (1842 – 1924) với tác phẩm chính “các nguyên lý của kinh
tế học”.
Theo mô hình của trường phái Tân Cổ Điển, các yếu tố tác động tới tăng trưởng
gồm: Lao động (L), vốn (K), tài nguyên thiên nhiên (R) và khoa học – công nghệ (T).
Trong mô hình này, các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển đã chia các yếu tố nguồn lực ra
làm 2 nhóm: Nhóm các yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng (gồm: K, L và R) và nhóm
yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu (T).
7
Theo hàm sản xuất Cobb – Douglas, đã mô hình hóa sự phát triển qua số liệu của
các nước và đã lượng hóa cụ thể sự đóng góp của các yếu tố nguồn lực tới tăng trưởng
kinh tế. Đồng thời, các nhà kinh tế của trường phái Tân Cổ Điển cũng cho rằng công
nghệ có vai trò quan trọng nhất tới tăng trưởng kinh tế.
Các nhà kinh tế học Tân Cổ Điển bác bỏ quan điểm sản xuất đòi hỏi tỷ lệ nhất định
giữa lao động và vốn, do đưa yếu tố công nghệ vào họ cho rằng có nhiều cách kết hợp
giữa lao động và vốn trong sản xuất và phát triển. Do đó, có nhiều con đường để tăng
trưởng kinh tế bằng cách sử dụng các công nghệ khác nhau phù hợp với điều kiện của
Có thể nói mô hình Harrod – Domar được thể hiện bằng hàm sản xuất giản đơn
nhất và nổi tiếng nhất được sử dụng trong nghiên cứu, phân định và phát triển kinh tế.
Mô hình được sử dụng phổ biến trong các nước đang phát triển, được xem là một
phương pháp đơn giản để xem xét mối quan hệ tăng trưởng và nhu cầu tư bản. Đặc
biệt, trong một số trường hợp nó tỏ ra rất hữu ích trong tăng trưởng của các quốc gia
trên thế giới thông qua việc huy động vốn.
Như vậy, mô hình cho thấy sự tiến bộ là đã khẳng định được vai trò quan trọng của
chính phủ trong việc điều tiết, ổn định và tăng trưởng nền kinh tế. Yếu tố nguồn lực R
ở đây không chỉ đơn thuần là đất đai mà được mở rộng lên thành tài nguyên thiên
nhiên.
Mô hình tăng trƣởng của Solow (1956)
Năm 1956 dựa trên tư tưởng thị trường tự do của trường phái Tân Cổ Điển Robert
Solow đã xây dựng mô hình tăng trưởng mới. Ông chia các yếu tố nguồn lực ra làm hai
nhóm: Lao động (L), nguồn vốn (K) là nhóm yếu tố tăng trưởng theo chiều rộng.
Trong khi đó, công nghệ (T) là yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu và vẫn là yếu tố ngoại
sinh. Ông cho rằng công nghệ (T) mới là yếu tố quyết định tới tăng trưởng, các nhân tố
9
còn lại sẽ vấp phải điểm dừng tại giới hạn của nó, chỉ có công nghệ (T) mới tạo nên
tăng trưởng liên tục.
Mô hình này cho thấy tiết kiệm, tăng dân số và tiến bộ công nghệ có ảnh hưởng
như thế nào tới sản lượng cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế. Đặc biệt trong mô hình
này Solow đã đưa những tính toán của mình dựa vào các con số bình quân trên đầu
người, điều này đảm bảo cho sự tăng trưởng một cách hợp lý, công bằng hơn và đơn
giản hóa tính toán. Solow cũng giải thích được sự có khoảng cách của các nền kinh tế,
các tính chất hội tụ của nền kinh tế hay sự san bằng cách biệt giàu nghèo giữa các quốc
gia.
Với các lý thuyết trong mô hình tăng trưởng của mình, Solow đã kế thừa và hoàn
“kỹ thuật tiên tiến hiện đại dựa vào việc sử dụng vốn lớn”. Do đó, vốn là yếu tố quan
trọng để phát huy tác động của yếu tố khác, quy luật cận biên không bị chi phối bởi có
hai loại đầu tư, đó là đầu tư vào tư bản cố định và đầu tư vào tri thức, giáo dục, công
nghệ. Vì vậy, trong tính toán kinh tế ngày nay hệ số ICOR vẫn được coi là cơ sở để xác
định tỷ lệ đầu tư cần thiết phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Tóm lại, lý thuyết kinh tế học hiện đại đã giải quyết các vướng mắc, khắc phục
những nhược điểm của các mô hình kinh tế trước đó. Hơn thế nữa, nó đã đánh giá một
cách có hệ thống chính xác, đầy đủ, rõ ràng vai trò của các yếu tố nguồn lực là nguồn
vốn (K), lao động (L), đất đai (R), công nghệ (T) và vốn đầu tư đối với tăng trưởng
kinh tế, cũng như cho thấy được mối quan hệ giữa các yếu tố nguồn lực này.
2.1.3. Cách tính tăng trƣởng kinh tế
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng
trưởng kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn. Mức
tăng trưởng tuyệt đối là mức chênh lệch quy mô kinh tế giữa hai kỳ cần so sánh.
11
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế
kỳ hiện tại so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ
tăng trưởng kinh tế được thể hiện bằng đơn vị %.
Biểu diễn bằng toán học, sẽ có công thức: y = dY/Y × 100(%)
Trong đó Y là quy mô của nền kinh tế (được đo bằng GDP hoặc GNP) và y là tốc
độ tăng trưởng.
Blanchard (2000) cho rằng có hai cách để định nghĩa về GDP: Thứ nhất, GDP là
giá trị hàng hóa và dịch vụ cuối cùng (được tính bởi phần tiêu dùng cuối cùng) được
sản xuất ra trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ hai, GDP là
tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. GDP
thường được tính bằng ba cách: Thứ nhất là phương pháp giá trị gia tăng (phương pháp
sản xuất), thứ hai là phương pháp chi tiêu và cuối cùng là phương pháp thu nhập (phụ
năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo, vốn con người là yếu tố của quá trình sản
xuất kết hợp với vốn hữu hình và các lao động “thô” (không có kỹ năng) để tạo ra sản
phẩm; (ii) Nó là kiến thức để tạo ra sự sáng tạo, một yếu tố cơ bản của phát triển kinh
tế”.
Theo Laroche (1999), vốn con người có các đặc điểm như sau: (i) Vốn con người
có cả lượng và chất; (ii) Vốn con người là hàng hóa bất khả thương; (iii) Vốn con
người vừa mang tính cá nhân và vừa mang tính cộng đồng.
2.2.2. Các thƣớc đo vốn con ngƣời
Các nhà kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã công nhận vốn con người là
một loại tài sản cơ bản của các nền kinh tế tri thức, do đó việc đo lường loại tài sản này
vô cùng quan trọng. Sau đây, tác giả trình bày một số thước đo cơ bản về vốn con
người đã được vận dụng trong các nghiên cứu trước đây:
13
Thƣớc đo vốn con ngƣời dựa trên số năm đi học bình quân
Trong các nghiên cứu thực nghiệm, người ta đã sử dụng nhiều thước đo vốn con
người như tuổi thọ, tỷ lệ người lớn biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp, tỷ lệ học sinh –
giáo viên, tỷ trọng chi tiêu cho giáo dục trong GDP và nhiều thước đó khác. Những
thước đo này phần nào cho biết mức vốn con người của mỗi quốc gia nhưng độ chính
xác của thước đo phụ thuộc vào giả thiết chúng tương quan đến mức nào với vốn con
người của quốc gia đó.
Những nghiên cứu về tăng trưởng trong thời kỳ đầu thường sử dụng tỷ lệ biết chữ ở
người trưởng thành và tỷ lệ nhập học để đo mức vốn con người của một quốc gia. Ví
dụ, Romer (1990) lấy tỷ lệ biết đọc biết viết làm thước đo vốn con người; Barro (1991)
sử dụng tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học; Mankiw, Romer và Weil (1992) sử dụng tỷ lệ
nhập học ở bậc trung học cơ sở. Tuy nhiên, khả năng biết đọc biết viết hay số lượng
nhập học đều chỉ là bước đi đầu tiên trong quá trình tạo dựng nên vốn con người.
Những biến số này có sẵn ở nhiều quốc gia nhưng không thể đo mức vốn con người
Sala-i-Martin, 2000).
Ngoài ra, những chuỗi số liệu vốn con người được xây dựng dựa trên số năm đi học
bình quân không xét đến chi phí thực tế tương đối cho một năm tiểu học so với một
năm học ở các bậc cao hơn. Bên cạnh đó, nguồn lực dành cho một năm học mỗi cấp có
sự thay đổi lớn theo thời gian và có sự khác biệt lớn giữa các nước. Vì vậy, Judson
(1995, 2002) cho rằng rất khó để so sánh số năm đi học với mức vốn vật chất, GDP
hay những biến số kinh tế vĩ mô khác.
Thƣớc đo vốn con ngƣời dựa trên thu nhập
Theo Mulligan và Sala-i-Martin (1995, trang 2), “trình độ của một con người liên
quan đến mức tiền lương người đó nhận được trên thị trường”. Nếu hình thức giáo dục
1
Mặc dù có tầm quan trọng như vậy, nhưng số liệu về thời gian đi học trung bình của các quốc gia không đảm
bảo độ chính xác, chủ yếu là vì chúng được tính toán dựa trên các tỷ lệ nhập học hàng năm (Krueger, 2001).
15
của một người nhận được là có ích, thì thị trường sẽ mang lại cho người đó mức lương
cao. Do đó, Mulligan và Sala-i-Martin (1997) đo vốn con người cho mỗi nền kinh tế
bằng cách cộng gia quyền số người lao động của nền kinh tế đó với quyền số là tỷ lệ
giữa tiền lương của họ với tiền lương của người lao động có mức vốn con người bằng 0
(tức là người lao động chưa trải qua năm đi học nào).
Mulligan và Sala-i-Martin (1997) cho rằng đối với thước đo vốn con người, việc
cho những người lao động khác nhau có trọng số khác nhau là một ý tưởng hay vì hai
nguyên nhân: Trước hết, giáo dục ở những nơi khác nhau và tại những thời điểm khác
nhau có chất lượng khác nhau. Thứ hai, những loại và lượng giáo dục khác nhau cũng
thích hợp với những không gian và thời gian khác nhau. Để thước đo vốn con người
bao hàm được các khái niệm chất lượng giáo dục và mức độ phù hợp của giáo dục với
thị trường lao động, thì việc áp những trọng số khả biến là điều cần thiết.