Tác động của cung tiền, chi tiêu chính phủ, thuế và nợ công tới tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia asean - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------

TRẦN THẮNG

TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN, CHI TIÊU CHÍNH PHỦ, THUẾ
VÀ NỢ CÔNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------

TRẦN THẮNG

TÁC ĐỘNG CỦA CUNG TIỀN, CHI TIÊU CHÍNH PHỦ, THUẾ
VÀ NỢ CÔNG TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN

Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng
Mã số

: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Danh mục các hình vẽ
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU .................. 4
1.1 Cơ sở lý thuyết về cung tiền ........................................................................... 4
1.1.1 Khái niệm cung tiền ................................................................................. 4
1.1.2 Công cụ kiểm soát cung tiền..................................................................... 6
1.1.3 Các kênh truyền dẫn của cung tiền ........................................................... 7
1.1.4 Tác động của cung tiền lên tăng trưởng kinh tế ...................................... 10
1.2 Chi tiêu chính phủ ........................................................................................ 11
1.2.1 Khái niệm chi tiêu chính phủ .................................................................. 11
1.2.2 Chi tiêu chính phủ tác động lên tăng trưởng kinh tế................................ 13
1.3 Cơ sở lý thuyết về thuế ................................................................................. 16
1.3.1 Khái niệm thuế ....................................................................................... 16
1.3.2 Thuế tác động lên tăng trưởng kinh tế .................................................... 18
1.4 Nợ công........................................................................................................ 20
1.4.1 Khái niệm nợ công ................................................................................. 20
1.4.2 Nợ công tác động lên tăng trưởng kinh tế ............................................... 21
1.5 Một số nghiên cứu về tác động của cung tiền, chi tiêu chính phủ đến tăng
trưởng kinh tế ..................................................................................................... 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................ 29
2.1 Đo lường các biến ........................................................................................ 29


2.2 Thu thập dữ liệu ........................................................................................... 30
2.3 Kiểm định hồi quy ........................................................................................ 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 34
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................... 35
3.1 Kiểm định trị riêng nghiệm đơn vị bảng ....................................................... 35
3.2 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế ............................................... 36

NSNN: Ngân sách nhà nước
OLS: Phương pháp bình phương bé nhất (Ordinary Least Square)
REM: Mô hình tác động ngẫu nhiên
VAR: Mô hình tự hồi quy vecto (Vector Auto Regression)
WB: Ngân hàng thế giới (World Bank)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thống kê mô tả các biến dữ liệu
Bảng 3.1: Kiểm định nghiệm đơn vị bảng Dickey-Fuller
Bảng 3.2: Kết quả hồi quy chạy bằng phương pháp Pooled_OLS
Bảng 3.3: Kết quả của mô hình fixed effects
Bảng 3.4: Kết quả của mô hình random effects
Bảng 3.5: Kết quả của kiểm định Hausman

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi đối với mô hình REM
Hình 3.2: Kết quả kiểm định tự tương quan đối với mô hình REM
Hình 3.3: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính sách tài khóa cùng với chính sách tiền tệ là các chính sách kinh tế vĩ mô
quan trọng, nhằm ổn định và phát triển kinh tế. Một số nhà nghiên cứu đề cao tác
động của chính sách tiền tệ tới tăng trưởng kinh tế. Một số nhà nghiên cứu khác lại
quan tâm hơn tới tác động của chính sách tài khóa tới tăng trưởng kinh tế. Trong khi
đó những nhà nghiên cứu khác cho rằng sự kết hợp hỗn hợp giữa hai loại chính sách

- Phạm vi thu thập dữ liệu:
- Không gian: 7 nước Đông Nam Á (Cambodia, Indonesia, Malaysia, Myanmar,
Philippin, Thái Lan, Việt Nam). Đề tài chọn nghiên cứu 7 quốc gia Đông Nam Á vì
các nước này có dữ liệu thống kê khá đầy đủ, thuận tiện cho việc nghiên cứu.
- Thời gian: 1998- 2014
- Nguồn số liệu được sử dụng: Dữ liệu hàng năm các chỉ số GDP, chi tiêu chính
phủ, thuế cung tiền, độ mở thương mại được lấy từ ấn phẩm Những chỉ số quan
trọng ở các nước Châu Á, Thái Bình Dương (Key Indicators for Asia and the
Pacific) của ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới
(World Economic Outlook Database) của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), World
Development Indicators của World Bank.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá tác động của các công cụ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
tới tăng trưởng kinh tế, tác giả sử dụng phương pháp định lượng với 2 kỹ thuật:
- Fixed effect
- Random effect
Ngoài ra đề tài sử dụng kiểm định Hausman để lựa chọn kỹ thuật phù hợp.


3

5. Kết cấu luận văn
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương 4: Kết luận và khuyến nghị


4


5

Trong đó D là lượng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng thương mại, còn r là tỷ
lệ dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương kiểm soát.
Giả sử các nhân tố còn lại không đổi, mỗi thay đổi của một trong ba nhân tố trên
đều làm lượng tiền cơ sở thay đổi cùng chiều. Vì vậy, để tăng lượng tiền cơ sở,
ngân hàng trung ương có thể:
Tăng lượng tiền mặt trong lưu thông, chẳng hạn bằng nghiệp vụ thị trường mở
mua vào (ngân hàng trung ương mua công trái vào để bơm tiền mặt ra lưu thông),
hay đơn giản là in thêm tiền giấy, đúc thêm tiền kim loại và đưa vào lưu thông.
Nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Can thiệp để điều chỉnh lãi suất huy động tiền gửi của các ngân hàng thương
mại bằng cách như điều chỉnh lãi suất chiết khấu.
Cung tiền chính là một công cụ quan trọng của chính sách tiền tệ. Chính sách
tiền tệ là tổng hòa các phương thức mà Ngân hàng Nhà nước sử dụng nhằm tác
động đến lượng tiền cung ứng để đạt được các mục tiêu kinh tế, xã hội trong thời kỳ
nhất định.
Với các công cụ trong tay, Ngân hàng Nhà nước có thể chủ động tạo ra sự thay
đổi trong cung tiền (mở rộng hay thắt chặt), qua đó tác động đến các biến số vĩ mô
nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Chính sách tiền tệ có thể được chia thành hai loại:
CSTT mở rộng: Cung tiền tăng lên làm giảm mặt bằng lãi suất xuống (giả sử cầu
tiền không đổi). Lãi suất giảm sẽ làm tăng nhu cầu chi tiêu (C), nhu cầu đầu tư (I)
và kể cả xuất khẩu ròng (NX) của nền kinh tế. C, I, NX tăng sẽ làm tăng tổng cầu
của nền kinh tế. Đường tổng cầu AD dịch sang bên phải làm tăng GDP thực và mức
giá chung.
CSTT thắt chặt: Cung tiền giảm làm lãi suất cân bằng tăng lên. Lãi suất tăng làm
giảm chi tiêu dùng (C), đầu tư (I) và xuất khẩu ròng (NX) của nền kinh tế. C, I, NX




Số nhân tiền tệ quyết định độ lớn của mức cung tiền, mà số nhân này lại tỷ lệ
nghịch với tỷ lệ dự trữ. Vì vậy, việc thay đổi tỷ lệ dự trữ bắt buộc của NHTW sẽ
làm thay đổi số nhân tiền tệ, do đó làm thay đổi lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Khi NHTW điều chỉnh tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, sẽ làm giảm số nhân tiền tệ và
do đó làm giảm lượng cung tiền. Ngược lại, khi NHTW giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
sẽ làm tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế.
Lãi suất chiết khấu: là mức lãi suất mà ngân hàng trung gian phải trả khi vay
tiền của ngân hàng trung ương.
Lãi suất chiết khấu tác động đến mức cung tiền thông qua sự thay đổi của lượng
tiền mạnh và cả số nhân tiền.
Việc NHTW quy định một mức lãi suất chiết khấu cao hơn, có thể làm cho các
ngân hàng trung gian nhanh chóng trả lại các khoản vay trước đây. Nghĩa là một
lượng tiền mạnh bị rút ra khỏi lưu thông, làm cho cung tiền giảm.
Với một mức lãi suất chiết khấu thấp hơn có thể làm tăng mức cung tiền do tác
động từ việc tăng lượng tiền mạnh và tăng số nhân của tiền.
Tóm lại, các ngân hàng trung gian quyết định vay bao nhiêu từ NHTW và dự trữ
tùy ý cao hay thấp, phụ thuộc vào kết quả so sánh lãi suất chiết khấu với lãi suất mà
nó có thể nhận được khi cho vay hay đầu tư số tiền đó.
Công cụ này có ưu điểm là nó trực tiếp tác động ngay đến dự trữ của ngân hàng
trung gian và buộc các ngân hàng này phải gia tăng tín dụng hoặc giảm tín dụng đối
với nền kinh tế.
1.1.3 Các kênh truyền dẫn của cung tiền
1.1.3.1 Kênh lãi suất


8

Kênh lãi suất được Keynes miêu tả như sau: khi cung tiền mở rộng, làm lãi suất
thực giảm, giảm giá cả vốn vay, kéo theo nhu cầu đầu tư tăng, dẫn đến tăng cầu và

ty tăng lên (NW↑), dẫn đến nâng cao khả năng thế chấp trong vay nợ của công ty.
Vay nợ tăng lên (L↑), chi đầu tư tăng (I↑), làm tăng tổng cầu (Y↑).
M ↑→ Ps↑→ NW↑→ L↑→ I↑→ Y↑
 Tác động lên mức giàu có của các hộ gia đình:
Cung tiền mở rộng làm gia tăng giá cả chứng khoán (Ps↑), tăng sự giàu có của
các hộ gia đình (W↑), dẫn đến tổng tiêu dùng tăng (C↑), tổng cầu tăng (Y↑).
M ↑→ Ps↑→ W↑→ C↑→ Y↑
 Giá cả bất động sản
 Tác động đến chi tiêu nhà ở:
Cung tiền mở rộng làm giảm lãi suất, giảm chi phí tài trợ nhà ở, làm gia tăng giá
cả nhà ở (Ph↑). Sự gia tăng giá cả nhà ở làm tăng lợi nhuận của các công ty xây
dựng nhà, chi tiêu nhà ở gia tăng (H↑), dẫn đến tổng cầu tăng (Y↑).
M ↑→ Ph↑→ H↑→ Y↑
 Tác động đến mức giàu có của các hộ gia đình:
Cung tiền mở rộng làm gia tăng giá nhà ở (Ph↑), gia tăng mức giàu có của các
hộ gia đình (W↑), kéo theo tăng chi tiêu dùng (C↑) và tổng cầu xã hội.
M ↑→ Ph↑→ W↑→ C↑→ Y↑
 Tác động đến bảng cân đối tài sản ngân hàng:
Cung tiền mở rộng làm gia tăng giá bất động sản (Ph↑), gia tăng giá trị tài sản
thế chấp và vốn ngân hàng (NWb ↑), dẫn đến đầu tư tăng (I↑) và sản lượng tăng
lên (Y↑).
M ↑→ Ph↑→ NWb↑→ I↑→ Y↑


10

1.1.4 Tác động của cung tiền lên tăng trưởng kinh tế
Học thuyết số lượng tiền tệ được trình bày bởi Fisher trong cuốn sách The
Purchasing Power of Money xuất bản năm 1911, xem xét GDP ở góc độ chi tiêu.
Phương trình Fisher có dạng: M.V = P.Y

1.2 Chi tiêu chính phủ
1.2.1 Khái niệm chi tiêu chính phủ
Chi tiêu chính phủ (hay còn gọi là chi ngân sách nhà nước) là việc phân phối và
sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo
thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ.
Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được
tập trung vào ngân sách nhà nước và đưa vào các mục đích sử dụng.
Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phương tiện tài chính cho
việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. Cho nên việc chi NSNN có những đặc
điểm sau:
Thứ nhất, chi NSNN luôn gắn liền với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà
Nhà nước phải đảm nhận. Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm
vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ.
Thứ hai, tính hiệu quả của các khoản chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và
mang tính toàn diện cả về kinh tế, xã hội, chính trị và ngoại giao.
Thứ ba, các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn
trả trực tiếp.


12

Thứ tư, chi NSNN thường liên quan đến việc phát triển kinh tế, xã hội, tạo việc
làm mới, thu nhập, lạm phát…
Tùy thuộc vào các mục tiêu khác nhau mà chi ngân sách có nhiều cách phân
loại.
Phân loại theo ngành kinh tế quốc dân
Phân loại theo nội dung kinh tế
Phân loại theo tổ chức hành chính
Theo nội dung kinh tế, chi ngân sách được chia thành chi thường xuyên, chi đầu
tư phát triển và chi khác.

Chính phủ có thể thay đổi tổng cầu bằng CSTK mở rộng hay thắt chặt. CSTK
mở rộng làm tăng tổng cầu theo hai kênh.
Thứ nhất, nếu Chính phủ tăng chi tiêu mà không thay đổi chính sách thuế, sẽ
làm tăng tổng cầu trực tiếp.
Thứ hai, nếu Chính phủ giảm thuế, hoặc tăng trợ cấp sẽ làm tăng thu nhập khả
dụng của công chúng, do đó họ sẽ chi tiêu nhiều hơn. Điều này làm cho tổng cầu gia
tăng.
Barro (1990) đã xem xét vai trò của chi tiêu chính phủ và thuế đối với tăng
trưởng kinh tế dựa trên các hành vi tối đa hoá lợi ích của các tác nhân trong nền
kinh tế. Tác giả đã đưa khu vực chính phủ vào mô hình tăng trưởng tân cổ điển
chuẩn để nghiên cứu mối quan hệ giữa các lựa chọn chính sách của chính phủ đối
với tăng trưởng kinh tế. Ý tưởng chính của mô hình Barro (1990) có thể tóm tắt như
sau:
Barro (1990) giả định chi tiêu chính phủ đối với hàng hoá và dịch vụ công cộng,


14

ví dụ chi xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ quyền sở hữu…, có ảnh hưởng tích cực
đến sản xuất của khu vực tư nhân. Hàm tổng sản xuất trong nền kinh tế có dạng
Cobb-Douglas và được biểu diễn như sau:
Y=

(1)

Trong đó 0

Theo Mitchell (2005), lý thuyết kinh tế không tự đưa ra các kết luận mạnh mẽ về
tác động của chi tiêu chính phủ đối với các hoạt động kinh tế. Thật vậy, hầu hết các
nhà kinh tế đều đồng ý rằng có những trường hợp trong đó các mức thấp hơn của
chi tiêu chính phủ sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ở hoàn cảnh khác, thì mức độ
cao hơn của chi tiêu chính phủ sẽ được mong muốn. Nếu chi tiêu của chính phủ là
bằng không, có lẽ sẽ có ít tăng trưởng kinh tế bởi vì việc thực thi hợp đồng, bảo vệ
tài sản, và phát triển cơ sở hạ tầng sẽ là rất khó khăn nếu thiếu vắng sự can thiệp của
chính phủ. Nói cách khác, một số chi tiêu của chính phủ là cần thiết cho điều hành
thành công các quy tắc của pháp luật. Tăng trưởng kinh tế nói chung là rất thấp
hoặc không tồn tại khi vắng mặt chính phủ mà nhất là các hoạt động cốt lõi của
chính phủ được tài trợ. Điều này không có nghĩa là chi tiêu của chính phủ không
đáng kể, nhưng mà những lợi ích của nó lớn hơn.
 Tác động tích cực của sự can thiệp chính phủ
Trong kinh tế vĩ mô truyền thống của Keynes, nhiều loại chi tiêu công, thậm chí
có tính chất thường xuyên, có thể đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Mức
chi tiêu cao của chính phủ có thể sẽ làm tăng việc làm, lợi nhuận và đầu tư thông
qua các hiệu ứng số nhân đối với tổng cầu. Như vậy, theo kinh tế vĩ mô của Keynes,
chi tiêu chính phủ tăng tổng cầu, dẫn đến tăng sản lượng phụ thuộc vào quy mô và
hiệu quả của số nhân chi tiêu.
 Tác động tiêu cực của sự can thiệp của chính phủ
Một khu vực lớn của chính phủ làm tăng lợi nhuận tiềm năng từ các hoạt động
trục lợi, điều này có thể dẫn đến một sự chuyển động của các nguồn lực vào sử
dụng không hiệu quả (Fo¨lster và Henrekson, 1997). Trục lợi xảy ra khi mọi người
cố gắng để có được thu nhập từ chính phủ chuyển giao cho chính họ hơn là cung
cấp hàng hóa và dịch vụ cho những người khác. Việc trục lợi bằng cách bòn rút tiền
của của nền kinh tế sẽ làm giảm tăng trưởng.
Cũng như, việc tiếp tục mở rộng chi tiêu của chính phủ nhưng ngày càng ít cho
hoạt động sản xuất, sẽ dẫn đến chính phủ trở nên quá lớn và thực hiện các hoạt động
không phù hợp với nó. Khi điều này xảy ra, lợi nhuận giảm và làm kiềm hãm tốc độ

tập trung vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cho bộ máy nhà nước và


17

các nhu cầu chung của xã hội. Các khoản động viên qua thuế được thể chế hoá bằng
luật.
Với nhận thức như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau giữa thuế với các hình thức
phân phối khác dựa trên những đặc điểm chủ yếu sau đây:
 Đặc điểm thứ nhất: Thuế là một biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính
quyền lực, tính cưỡng chế, tính pháp lý cao nhưng sự bắt buộc này là phi hình sự.
Quá trình động viên nguồn thu từ thuế của Nhà nước là quá trình chuyển đổi
quyền sở hữu một bộ phận thu nhập của các pháp nhân và thể nhân thành quyền sở
hữu của Nhà nước. Do đó Nhà nước phải dùng quyền lực để thực hiện quyền
chuyển đổi. Tính quyền lực tạo nên sự bắt buộc là một tất yếu khách quan, nhưng vì
các hoạt động thu nhập của thể nhân và pháp nhân không gây cản trở cho xã hội nên
tính bắt buộc này là phi hình sự. Vì vậy có thể nói việc đánh thuế không mang tính
hình phạt.
Đặc điểm này được thể chế hoá trong hiến pháp của mọi quốc gia, việc đóng
góp thuế cho nhà nước được coi là một trong những nghĩa vụ bắt buộc đối với công
dân. Mọi công dân làm nghĩa vụ đóng thuế theo những luật thuế được cơ quan
quyền lực tối cao quy định và nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế theo những hình
thức nhất định.
 Đặc điểm thứ hai: Thuế tuy là biện pháp tài chính của Nhà nước mang tính
bắt buộc, song sự bắt buộc đó luôn luôn được xác lập trên nền tảng kinh tế-xã hội
của người làm nhiệm vụ đóng thuế, do đó thuế bao giờ cũng chứa đựng các yếu tố
kinh tế xã hội.
+ Yếu tố kinh tế thể hiện: Hệ thống thuế trước hết phải kể đến thu nhập bình
quân đầu người của một Quốc gia, cơ cấu kinh tế, thực tiễn vận động của cơ cấu
kinh tế đó, cũng như chính sách, cơ chế quản lý của Nhà nước. Cùng với yếu tố đó



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status