Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ 5 6 tuổi - Pdf 41

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

TRẦN THỊ HỒNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI
PHÁT ÂM CHO TRẺ 5-6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI - 2016


TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

TRẦN THỊ HỒNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬA LỖI
PHÁT ÂM CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp phát triển ngôn ngữ

Người hướng dẫn khoa học
TS. LÊ THỊ LAN ANH

HÀ NỘI -2016




: lớp 5 tuổi A trường Mầm non Dân Hòa

(B)

: lớp 5 tuổi B trường Mầm non Dân Hòa

Đ

: đúng

S

: sai

TP

: thành phố


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ..................................................................................... 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ...................................................................... 4
3. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 6
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của trẻ ................................................... 6
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................. 6
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................ 7
7. Cấu trúc của khóa luận ........................................................................... 7
CHƯƠNG 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ....................................... 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 67


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong xu thế phát triển của thời đại, đất nước ta đang trong thời kì đổi
mới, với trọng tâm là phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đất nước đang
cần những nguồn năng lực dồi dào về thể chất, đạo đức, trí tuệ…Để thực hiện
được điều đó chúng ta cần phải đầu tư đến yếu tố con người và vai trò của
giáo dục.
Đặc biệt, Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân, nó giữ vai trò nền tảng, đặt nền móng - viên gạch đầu tiên cho
việc giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách của trẻ mầm non.
Trẻ em không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của mỗi gia đình mà còn là
niềm hạnh phúc, tự hào của toàn xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của
chúng ta đã nói: “Trẻ em như búp trên cành biết ăn biết ngủ, biết học hành là
ngoan”. Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã
hội. Trẻ em là mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục,
dạy dỗ chu đáo của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. Nếu trẻ bị bỏ mặc
không được sự rèn luyện, quan tâm chăm sóc, giáo dục từ những người đi
trước thì trẻ sẽ phát triển một cách lệch lạc, không bình thường được. Để
những mầm non lớn lên khỏe mạnh, phát triển tốt và trở thành những công
dân có ích cho đất nước, cho xã hội thì ngay từ bây giờ chúng ta cần phải chú
trọng tới việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, cần phải quan tâm, đáp
ứng nhu cầu phát triển của trẻ về mọi mặt và không để phạm những sai lầm
trong việc giáo dục, vì đối với trẻ thơ “sai một li sẽ đi một dặm”. Như vậy trẻ
mới phát triển đúng hướng và toàn diện về nhân cách để phù hợp với mục tiêu
chung của ngành giáo dục mầm non.
Trong mục tiêu chung của giáo dục mầm non đã đặt ra rất nhiều kế
hoạch nhằm phát triển ở trẻ về mọi mặt: thẩm mĩ, đạo đức, trí tuệ, thể chất,

2


ngôn ngữ, biết dùng
ùng ngôn ngữ
ng làm phương tiện chính để tiếp
ếp xúc, giao lưu…
l
là hoàn toàn có thể đạt được
đ
ở lứa tuổi 5-6 tuổi. Nhưng hiệnn nay ở các trường
Mầm non, trẻ 5-6 tuổi
ổi còn
c nhiều cháu nói ngọng, không diễn
ễn đạ
đạt được bằng
lời, suy nghĩ của mình
ình một
m cách mạch lạc… dẫn đến việc tiếp
ếp thu bbài học ở
lớp 1 chậm, khó khăn,
ăn, trẻ
tr nhút nhát, sợ sệt, trẻ khó gia nhập vào
ào các quan hhệ
mới với cô, với bạn.
Hơn nữa, Trẻẻ ở trong giai đoạn này luôn tò mò về thếế giớ
giới xung quanh
mình, trẻ nói rấtt nhiều vvà thường đưa ra những câu hỏi vềề nguy
nguyên nhân,
nguồn gốc hiện tượng,

thế, đây là thời điểm
m tốt nhất
nh để rèn luyện phát âm và phát triển
ển ngôn ng
ngữ cho
trẻ, nếu biết tận dụng
ụng thời
th cơ này thì sẽ đạt hiệu quả cao giúp tr
trẻ phát triển
vốn từ một cách toàn
àn diện
di hơn.
Từ những
ng lí do trên, bản
b thân chúng tôi là những ngườii giáo viên m
mầm
non tương
ng lai, chúng tôi luôn gần
g gũi các cháu trong các hoạtt đđộng trên lớp,
giờ ăn, giờ chơi…
i… và các hoạt
ho động khác của trẻ trong nhà trư
trường. Với sự
nhiệtt tình, lòng yêu ngh
nghề, mến trẻ chúng tôi đã tìm hiểuu các llỗi phát âm
thường gặp ở trẻ mầm
m non, mong muốn
mu trẻ phát âm chuẩn mự
ực, dựa trên cơ
sở đó tìm

và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5-6 tuổi.
Trong cuốn “Giáo trình phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm
non” của tác giả Đinh Hồng Thái (2007), Nxb Đại học Sư phạm cũng chú
trọng tới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, giáo dục chuẩn mực ngữ
âm tiếng việt, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, dạy trẻ các
mẫu câu tiếng việt, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ mẫu giáo, phát triển
nghệ thuật ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ mẫu giáo qua thơ và truyện để tạo tiền
đề tốt cho trẻ bước vào lớp một.
4


Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn giáo trình “Phương pháp phát
triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (1997), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nộiđã
đưa ra những nhiệm vụ, nội dung của việc dạy nghe và phát âm đúng cho
trẻ.Tác giả đề cập đến một số lỗi phát âm mà trẻ thường mắc phải. Các lỗi
phát âm được trình bày lần lượt theo cấu trúc âm tiết: lỗi thanh điệu, âm
chính, âm đầu, âm đệm, âm cuối. Trong mỗi lỗi tác giả đề cập đến nguyên
nhân mắc lỗi đó ở trẻ, qua đó tác giả cũng đưa ra một số trò chơi nhằm luyện
cách phát âm cho trẻ. Đây là cuốn giáo trình đầu tiên đề cập đến các vấn đề
khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện vào trong nhà trẻ,
mẫu giáo ở nước ta một cách toàn diện, có hệ thống và sát với nội dung
nghiên cứu trong đề tài này.
Ngoài ra,phải kể đến cuốn sách“Ngữ âm tiếng Việt” của tác giả Đoàn
Thiện Thuật ( 2003), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
“Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non” của tác giả Nguyễn Ánh Tuyết
đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn lứa tuổi.
Các bài viết trong các tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục” còn quan tâm
nhiều đến ngôn ngữ của trẻ 5 - 6 tuổi nhưng chủ yếu về vấn đề chuẩn bị
cho trẻ Mẫu giáo 5 tuổi học đọc, học viết ở lớp 1 như bài viết của Lê
Thị Ánh Tuyết; “Chuẩn bị cho trẻ Mẫu giáo 5 tuổi học chữ” của Nguyễn

- Lớp 5 tuổi B
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tìm ra một số biện phápsửa
lỗi phát âm và nguyên nhân mắc lỗi phát âm của trẻ 5-6 tuổi khu vực huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội.
- Đưa ra một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ 5 – 6 tuổi.
- Thực nghiệm sư phạm.
6


6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này chúng tôi có sử dụng:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra (sử dụng phiếu anket)
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng hợp
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, nội dung khóa luân gồm ba
chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Một số biện pháp sửa lỗi phát âm cho trẻ 5-6 tuổi
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

7


CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận

cần thay đổi đồ chơi, trò chơi hấp dẫn hơn. Ở giai đoạn này ý nghĩa của âm
thanh làm cho trẻ chú ý nhiều.Từ âm thanh bên ngoài, trẻ biết chú ý tập trung
vào sự suy nghĩ, cảm xúc bên trong trí óc trẻ.Cần luyện tập các phẩm chất chú
ý cho trẻ qua các trò chơi và các tiết học.
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về cơ bản là sự
nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 - 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn. Thể
hiện ở: Mức độ phong phú của các kiểu loại; Mức độ chủ định các quá trình
tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn; Tính mục đích hình thành và phát triển ở
mức độ cao hơn; Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn; Khả
năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển. Ở đây chúng ta chỉ đề cập
tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy. Sự
phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập
nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa
mới và cũ, gần và xa...
Đặc tính chung của sự phát triển tư duy: Trẻ đã biết phân tích tổng hợp
không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ. Tư duy của trẻ dần
dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn.Dần dần trẻ
phân biệt được thực và hư. Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không
gian, thời gian, quan hệ xã hội...Ý thức rõ về những ý nghĩ, tình cảm của
mình, trách nhiệm đối với hành vi. Các phẩm chất của tư duy đã bộc lộ đủ về
cấu tạo và chức năng hoạt động của nó như tính mục đích, độc lập sáng tạo,
tính linh hoạt, độ mềm dẻo...Ở trẻ 5 - 6 tuổi phát triển cả 3 loại tư duy, tư duy
hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế.Tuy nhiên do nhiệm vụ hoạt động mà

9


cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng dược phát triển ở trẻ.
Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan.
Sự phát triển xúc cảm và tình cảm của trẻ ở lứa tuổi này đã xuất hiện

mà trẻ không thích.Tính mục đích càng ngày càng được trẻ ý thức và cố gắng
hoàn thành công việc. Tính kế hoạch xuất hiện, trẻ biết sắp xếp “công việc”
vui chơi và phải quét nhà, nhặt rau để khi mẹ về là mọi việc phải xong cho mẹ
hài lòng.Tinh thần trách nhiệm bản thân dần dần được hình thành ở trẻ.Sự
phát triển ý chí mạnh hay yếu tuỳ thuộc phần lớn vào sự giáo dục, các biện
pháp giáo dục của cha mẹ, cô giáo và những người lớn xung quanh.
Sự xác định ý thức bản ngã cũng được hình thành ở lứa tuổi này. Tiền
đề của ý thức bản ngã là việc tự tách mình ra khỏi người khác đã được hình
thành từ cuối tuổi ấu nhi. Tuy nhiên phải trải qua một quá trình phát triển thì ý
thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng. Đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ
mới hiểu được mình như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung
quanh đối xử với mình ra sao, và tại sao mình có hành động này hay hành
động khác... ý thức bản ngã được thể hiện rõ nhất trong sự tự đánh giá về
thành công và thất bại của mình, về những ưu điểm và khuyết điểm của bản
thân, về những khả năng và cả sự bất lực. Để đánh giá bản thân một cách
đúng đắn, đầu tiên đứa trẻ phải học cách đánh giá người khác và nghe những
người xung quanh đánh giá mình như thế nào.Thoạt đầu sự đánh giá của trẻ
về người khác còn phụ thuộc nhiều vào thái độ của nó đối với người
này.Chẳng hạn mọi đứa trẻ đều đánh giá mẹ mình bao giờ cũng tốt.Cuối tuổi
mẫu giáo lớn, trẻ nắm được kỹ năng so sánh mình với người khác, điều này là
cơ sở để tự đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để noi gương
những người tốt, việc tốt.
Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức còn được biểu hiện rõ trong sự phát
triển giới tính của trẻ. Trẻ không những nhận ra mình là trai hay gái mà còn
11


biết nếu mình là trai hay gái thì hành vi này phải thể hiện như thế nào cho phù
hợp với giới tính của mình.Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ
điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình dần dần phù hợp với những chuẩn

những thay đổi đáng kể về tâm lí và thay đổi của cơ quan, hệ cơ quan.
* Đặc điểm hệ thần kinh của trẻ.
Hệ thần kinh có vai trò vô cùng quan trọng trong cơ thể, nó chính là cơ
quan điều khiển cơ thể làm cho cơ thể là một khối thống nhất.Hệ thần kinh
điều khiển sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi được sự
thay đổi thường xuyên của môi trường có thể cải tạo nó. Nhờ có hệ thần kinh
mà con người có tư duy, có tâm lý. Vỏ não là cơ sở vật chất của toàn bộ hoạt
động tâm lý của con người.
Khi ra đời, não bộ của trẻ chưa phát triển đầy đủ, mặc dù cấu tạo và
hình thái không khác người lớn, trọng lượng lúc sơ sinh là 370 - 392 gam, khi
được 6 tháng trọng lượng tăng gấp đôi, 3 tuổi tăng gấp 3, 9 tuổi thì nặng đến
1300 gam. Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh mẽ diễn ra rất
mạnh và tăng lên theo từng lứa tuổi. Vì vậy sự phát triển các đường dẫn
truyền diễn ra rất mạnh mẽ và tăng lên theo từng lứa tuổi. Sự phát triển hệ
thần kinh của trẻ mẫu giáo cao hơn so với trẻ ở lứa tuổi nhà trẻ.Chức năng của
tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt động thần kinh cao cấp được phát
triển cao hơn. Các phản xạ có điều kiện được hình thành nhanh chóng trong
suốt giai đoạn tuổi mẫu giáo theo xu hướng tăng dần. Chức năng điều khiển
của vỏ bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành
vi của trẻ có tính tổ chức hơn. Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh
mang tính không ổn định nên các quá trình tâm lí diễn ra chưa đầy đủ.
Trẻ ở lứa tuổi này có cường độ linh và tính linh hoạt của các quá trình
thần kinh tăng lên. Trẻ 5 - 6 tuổi có thể tập trung chú ý vào một đối tượng
nhất định trong thời gian 15 - 20 phút.Đồng thời ở lứa tuổi này, vai trò của hệ
13


thống tín hiệu thứ hai càng tăng lên.Tư duy bằng từ càng tăng, ngôn ngữ bên
trong xuất hiện.
Sự hoạt động của điện não ở trẻ 5 - 6 tuổi là thời kỳ phát triển nhanh rõ

thành mạch yếu, để bù đắp vào đó tần số co bóp của tim lại nhanh. Trọng
lượng tim 5 - 6 tuổi nặng gấp 4 - 5 lần trẻ sơ sinh. Tần số co bóp của tim của
trẻ 5 - 6 tuổi là 80 - 110 lần/phút. Huyết áp tăng, số lượng hồng cầu trong máu
tăng, tỉ lệ huyết sắc tố trong máu tăng rõ nét. Sự điều hòa thần kinh tim còn
chưa hoàn thiện nên nhịp co bóp dễ mất ổn định và cơ tim rất nhanh mệt mỏi.
Tuy nhiên, khi thay đổi hoạt động theo xu hướng giảm dần thì tim trẻ lại hồi
phục rất nhanh.
* Đặc điểm hệ hô hấp
Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển, tuy nhiên chưa trưởng thành đầy đủ
như ở người lớn.Vì vậy, trẻ phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ lượng oxy cần
thiết.Trẻ càng nhỏ, nhịp thở càng nhanh, nông (5 - 6 tuổi, trẻ thở 20 - 25 lần/
phút).Theo độ tuổi, sự phát triển của phổi, lồng ngực và các cơ hô hấp, nhịp
thở của trẻ trở nên sâu và thưa hơn. Đường hô hấp mềm mại, mao mạch
phong phú nên dễ phát sinh nhiễm cảm. Khí quản trẻ 5 - 6 tuổi nhỏ không khí
đưa vào ít, trẻ thở nông nên khả năng trao đổi không khí ở phổi kém.Bộ máy
hô hấp của trẻ còn nhỏ, không chịu được những vận động quá sức kéo dài liên
tục.Trẻ 5 - 6 tuổi khe thanh âm ngắn, thanh đới ngắn, nên trẻ có giọng nói cao
hơn so với người lớn. Trung khu điều hòa hô hấp của trẻ rất dễ bị hưng phấn.
Trẻ chỉ hơi bị xúc động hoặc lao động chân tay hay khi nhiệt độ tăng chút ít
đã bị thở nhanh hơn bình thường.
Trẻ càng lớn thì càng thở sâu hơn.Thể tích thông khí trung bình của trẻ
5 tuổi là 215ml. Sự trao đổi khí ở trẻ em khác so với người lớn về sự thăng
bằng oxy - kiềm.

15


* Đặc điểm bộ máy phát âm.
Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng
như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này. Do đó đặc điểm của bộ

Là miệng với các hoạt động của môi, răng, lưỡi, hàm dưới, vòm mềm
(hàm ếch mềm, cúa mềm, ngạc mềm). Chúng ta nhận ra giọng nói với ý nghĩa
của nó nhờ vào hoạt động của các cơ quan trên. Ở trẻ, do sự hoạt động của
lưỡi, môi, hàm dưới, vòm mềm chưa linh động và răng phát triển chưa đủ nên
phát âm chưa chuẩn, chưa rõ ràng. Đối với những trẻ mắc các dị tật bẩm sinh
ở những cơ quan trên sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát âm và càng
khó khăn hơn để có thể phát âm chuẩn, đúng.
- Bộ phận dội âm:
Gồm tất cả các khoảng trống trong thân thể, chủ yếu là các khoảng
trống trên đầu, trên mặt, gọi là xoang cộng minh (cộng hưởng). Ngoài khoang
họng và khoang miệng vừa tăng âm vừa dội âm, thì các xoang mũi, xoang
vòm mặt, xoang trán v.v… chủ yếu có tính chất dội âm, tức là làm cho âm
thanh được cộng hưởng, âm vang và phát ra ngoài.
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
1.1.2.1. Đặc điểm của âm tiết Tiếng Việt
Mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt có 5 thành phần và được sắp xếp
theo sơ đồ sau:
Thanh điệu (5)
Âm đầu (1)

Vần
Âm đệm (2)

Âm chính (3)

Âm cuối (4)

* Thành phần vị trí 5 là thanh điệu bao trùm lên toàn bộ âm tiết. Có 6
thanh điệu:
- Thanh ngang: Trên chữ không ghi dấu khi viết

Phần vần



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status