Tác động của thông tin báo cáo tài chính đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ KIM ĐÍNH

TÁC ĐỘNG CỦA THÔNG TIN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS BÙI KIM YẾN

Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ cô hướng
dẫn và những người tôi đã cảm ơn. Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài
này là trung thực.

TPHCM, ngày

tháng

năm 2016

Tác giả

3.1.2 Quy mô thị trường............................................................................................... 33


3.1.3 Khối lượng và giá trị giao dịch .......................................................................... 34
3.1.4 Giá trị vốn hóa thị trường................................................................................... 36
3.1.5 Tính đầu cơ trên thị trường chứng khoán Việt Nam ........................................... 37
3.2 Thực trạng thông tin trên BCTC tác động đến giá cổ phiếu trên TTCK Việt Nam .. 39
CHƯƠNG 4: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU OHLSON ĐỂ NGHIÊN CỨU
TÁC ĐỘNG CỦA THÔNG TIN BCTC ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU .......................................... 47
4.1 Thu thập và xử lý dữ liệu........................................................................................... 47
4.2 Phương pháp nghiên cứu .......................................................................................... 47
4.3 Kiểm định mô hình Ohlson trên thị trường chứng khoán Việt Nam ......................... 48
4.3.1 Mô hình kinh tế lượng ........................................................................................ 48
4.3.2 Kết quả nghiên cứu ............................................................................................. 50
CHƯƠNG 5: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN
BCTC .................................................................................................................................. 68
5.1 Giải pháp dành cho công ty niêm yết ........................................................................ 68
5.2 Giải pháp dành cho việc sử dụng thông tin BCTC của nhà đầu tư .......................... 68
5.3 Kiến nghị với nhà quản lý thị trường, ủy ban chứng khoán ..................................... 71
KẾT LUẬN .......................................................................................................................... 73


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC :

Báo cáo tài chính

CĐTK:

Bảng cân đối tài khoản


Thông tin tài chính

TTCK:

Thị trường chứng khoán

VN:

Việt Nam


DANH MỤC BIỂU BẢNG, HÌNH
Bảng 2.1: Thống kê mức giải thích giá cổ phiếu của mô hình Ohlson tại các thị trường
khác nhau trên thế giới
Bảng 3.1: Quy mô cổ phiếu niêm yết trên hai sàn qua các năm từ 2000 đến 2014
Bảng 3.2: Khối lượng và giá trị giao dịch trên hai sàn từ năm 2000 đến 2014
Hình 3.1: Giá trị vốn hóa thị trường từ năm 2004-2014
Hình 3.2: Diễn biến chỉ số VNindex qua các năm từ năm 2000 đến năm 2014
Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả
Bảng 4.2: Kết quả tương quan giữa các biến
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định VIF cho các biến trong mô hình
Bảng 4.4: Kết quả kiểm định VIF cho các biến trong mô hình
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định VIF cho các biến trong mô hình
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định VIF cho các biến trong mô hình
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định VIF cho các biến trong mô hình
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy mô hình (1)
Bảng 4.9: Kết quả lựa chọn giữa phương pháp OLS và Fixed Effect
Bảng 4.10: Kết quả lựa chọn giữa phương pháp Fixed Effect và Random Effect
Bảng 4.11: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan cho mô hình

khoán, các chính sách về tỷ giá và lãi suất…càng ngày chúng ta càng nhận thấy rõ vai trò
của đầu tư tài chính với tư cách vừa là động lực, vừa là thách thức. Sự thụ hưởng từ phát
triển và suy thoái của nền kinh tế.
Việc thị trường chứng khoán tăng giá cực mạnh vào cuối năm 2006 và cơn sốt của thị
trường bất động sản vào cuối năm 2007 đã gây ra nhiều luồng nhận định khác nhau về giá
trị các tài sản đầu tư này. Trong sự chuyển biến mạnh của thị trường, nhiều nhà đầu tư đã
bỏ qua những cảnh báo của các chuyên gia phân tích về giá trị cổ phiếu, thậm chí còn cho
rằng không có giá trị ảo, chỉ có giá trị thật giao dịch trên thị trường, và mọi phân tích giá
trị cổ phiếu chỉ là lý thuyết xa rời thực tế.
Hiện nay, các tổ chức và nhà đầu tư cá nhân luôn đặt ra câu hỏi là khi nào nên tham gia
vào thị trường? khi nào thoái vốn? Những câu hỏi này luôn là mối quan tâm không chỉ đối
với nhà đầu tư cá nhân đầu tư nghiệp dư mà ngay cả các bộ phận phân tích của các quỹ
đầu tư với thông tin dồi dào, các nhân viên chuyên nghiệp cũng rất lúng túng. Để hiểu
được hoạt động của thị trường vốn, hầu hết các nhà đầu tư đều dựa vào dữ liệu trên các
báo cáo tài chính (BCTC). Một trong những nguồn thông tin được cung cấp bởi các công
ty niêm yết là thông tin tài chính (TTTC). Các nhà đầu tư và các cổ đông khác dựa vào
các TTTC để đánh giá các kế hoạch, hoạt động, giá trị của các doanh nghiệp. Nếu thông
tin được cung cấp bởi các công ty đáng tin cậy, kịp thời, trung thực và hoàn toàn đủ điều
kiện thì việc ra quyết định của các nhà đầu tư có thể có hiệu quả hơn rất nhiều.
Đứng ở góc độ người nghiên cứu về tài chính, tôi đặt ra câu hỏi: thông tin trên BCTC có
ảnh hưởng như thế nào đến giá cổ phiếu của thị trường chứng khoán Việt Nam? Việc
nâng cao chất lượng TTTC có thể giúp các nhà đầu tư, các nhà phân tích tài chính, người
môi giới chứng khoán và người sử dụng khác có quyết định đầu tư, giao dịch chứng
khoán một cách hợp lý hay không? Giải pháp gì để nâng cao vai trò của TTTC đến giá trị


2

cổ phiếu? Đó chính là lý do tôi chọn đề tài: “ Tác động của thông tin báo cáo tài chính
đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu trong luận


chỉ có 256 công ty phù hợp. Thông qua 256 công ty này, luận án tiến hành lấy dữ liệu và
đã lọc ra được số lượng quan sát cần lấy là 1.678 quan sát.
+ Thời gian nghiên cứu: thị trường chứng khoán tại Việt Nam trong khoảng thời
gian 8 năm (2007 -2014).
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả để đưa ra nghiên cứu định
tính về mối quan hệ giữa quản trị lợi nhuận và khoản. Sau đó sử dụng phương pháp định
lượng để chạy mô hình thực nghiệm xem xét lại vấn đề tác động của quản trị lợi nhuận
đến tính thanh khoản trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
1.5 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 5 chương:
 Chương 1: Giới thiệu
 Chương 2: Cơ sở lý luận về thông tin trên báo cáo tài chính và giá của cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán
 Chương 3: Thực trạng tác động của thông tin báo cáo tài chính đến giá cổ phiếu
trên thị trường chứng khoán việt nam
 Chương 4: Ứng dụng mô hình nghiên cứu Ohlson để nghiên cứu tác động
của thông tin BCTC đến giá cổ phiếu
 Chương 5: Kiến nghị và giải pháp nâng cao chất lượng thông tin BCTC
Danh mục tài liệu tham khảo
Phụ lục
Kết luận chương 1:
Trong phần này luận văn đưa ra sự cần thiết thực hiện đề tài. Trình bày kết cấu của các
phần trình bày trong luận văn. Song song đó, tác giả trình bày chi tiết mục tiêu nghiên
cứu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu đã thực hiện trong luận văn.


4



5

ra các luồng tiền và các khoản tương đương tiền, dự đoán nhu cầu đi vay và phương thức
phân phối lợi tức, dự đoán khả năng huy động các nguồn tài chính, đánh giá khả năng thực
hiện các cam kết tài chính đến hạn.
Thông tin về tình hình kinh doanh được cung cấp qua Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá được các thay đổi tiềm tàng của các nguồn
lực kinh tế mà doanh nghiệp có thể kiểm soát trong tương lai, dự đoán khả năng tạo ra các
nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở hiện có, đánh giá tính hiệu quả của các nguồn lực bổ
sung mà doanh nghiệp sử dụng.
Thông tin về những biến động tài chính được cung cấp qua Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ sẽ rất hữu ích cho người sử dụng trong việc đánh giá mức độ có tiền và các khoản tương
đương tiền trong tương lai của doanh nghiệp.
2.1.1.2 Yêu cầu lập và trình bày BCTC
BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình
hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp. Để đạt được các yêu
cầu đó, BCTC phải được lập trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định
liên quan.
Để lập và trình bày BCTC trurng thực và hợp lý, doanh nghiệp phải:
Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp,
Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông
tin phù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu.
Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không
đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc của những
sự kiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Chính sách kế toán cho việc lập và trình bày BCTC phù hợp vói quy định của
từng chuẩn mực kế toán. Trường hợp chưa có quy định chuẩn mực kế toán hiện hành,
doanh nghiệp phải xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo BCTC

tin tài chính hữu ích là đối tượng được quan tâm đặc biệt của nhiều tổ chức nghề nghiệp,
nhà nghiên cứu thực hành kế toán trên thế giới trong nhiều năm qua, với nhiều giác độ
tiếp cận khác nhau.
2.1.1.3 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp
Hệ thống báo cáo tài chính theo Thông tư 200/2014/TT-BTC
- Bảng cân đối kế toán.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.


7

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
- Thuyết minh báo cáo tài chính.
Hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa
niên độ.
2.1.1.3.1 Báo cáo tài chính năm:
- Bảng cân đối kế toán

Mẫu số B 01 - DN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Mẫu số B 02 - DN

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Mẫu số B 03 - DN

- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính



Mẫu số B 03b – DN

- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính chọn lọc

Mẫu số B 09a – DN

2.1.1.4 Nguyên tắc lập và trình bày BCTC:
Việc lập và trình bày BCTC phải tuân thủ (06) nguyên tắc quy định tại Chuẩn
mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính”, gồm:
 Hoạt động liên tục:
BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên
tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh
nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp
đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác với giải định liên tục thì
BCTC phải lập trên một cơ sở khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập BCTC.


8

 Cơ sở dồn tích:
Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ
phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi vào sổ kế toán vào thời
điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương
đương tiền. BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp
trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
 Nhất quán:
Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp
dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách
và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi

2.1.2.1 Khái niệm công ty niêm yết
Công ty cổ phần (CTCP) là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và
phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự hình thành và phát triển của
công ty cổ phần gắn liền với sự hình thành của thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Công
ty cổ phần có vai trò to lớn trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế
thị trường.
Theo Luật doanh nghiệp, công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó:
+ Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
+ Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.
+ Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phiếu của mình cho người khác,
trừ trường hợp đó là cổ phần ưu đãi biểu quyết và cổ phần của cổ đông sáng lập công ty
trong những năm đầu kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận kinh doanh.
+ Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không
hạn chế số lượng tối đa.
+ Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy
định của pháp luật về chứng khoán.
Công ty niêm yết là một công ty cổ phần được sở hữu bởi công chúng, chủ sở hữu
là bất kỳ người nào có tiền mua cổ phần được sở hữu công chúng, chủ sở hữu là bất kỳ
người nào có tiền mua cổ phần của công ty. Cổ phần được mua bán trên thị trường chứng
khoán.
Mỗi công ty được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí
Minh và Trung tâm giao dịch Chứng Khoán Hà Nội đều phải đủ một số tiêu chuẩn nhất
định.


10

2.1.2.2 Vai trò của công ty niêm yết
TTCK là một kênh huy động vốn rất tốt cho các doanh nghiệp cũng như nền kinh


Việc công bó thông tin phải được thực hiện đồng thời với việc báo cáo Ủy Ban
Chứng Khoán (UBCK) Nhà nước, Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK về nội dung thông
tin công bố, cụ thể như sau:
a. Công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công
chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, Sở GDCK, Trung tâm GDCK khi thực
hiện công bố thông tin phải đồng thời báo cáo UBCK Nhà nước.
b. Tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán thành viên, công ty đầu tư chứng
khoán đại chúng; công ty quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng/công ty đầu tư chứng
khoán đại chúng khi thực hiện công bố t.hông tin phải đồng thời báo cáo UBCK Nhà
nước, Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK.
 Việc công bố thông tin phải được thực hiện đồng thời trên các phương tiện
thông tin đại chúng.
Sở GDCK, Trung tâm GDCK cung cấp thông tin về tổ chức niêm yết, công ty
quản lý quỹ có quản lý quỹ đại chúng/công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; quỹ đại
chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng cho các công ty chứng khoán thành viên có
trách nhiệm cung cấp ngay các thông tin trên một cách đầy đủ cho nhà đầu tư.
2.1.2.3.2 Công bố thông tin của công ty niêm yết
a. Tổ chức niêm yết công bố thông tin định kỳ:
Tổ chứng niêm yết công bố thông tin định kỳ về BCTC năm theo qui định là:
- Ngày hoàn thành BCTC năm được tính từ ngày tổ chức kiểm toán được
chấp thuận ký báo cáo kiểm toán. Thời hạn hoàn thành BCTC năm chậm nhất chín mươi
(90) ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính. Thời hạn báo cáo và công bố thông tin chậm
nhất là mười (10) ngày kể từ ngày hoàn thành BCTC năm.
- Nội dung công bố thông tin về BCTC năm bao gổm: Bảng cân đối kế toán;
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáo lưu chuyển tiền tệ; Bản thuyết minh
BCTC theo quy định của pháp luật về kế toán. Trường hợp tổ chức niêm yết thuộc các
ngành đặc thù thì việc công bố BCTC năm sẽ theo Mẫu BCTC do Bộ Tài chính ban hành
hoặc chấp thuận.


- BCTC quý của tổ chức niêm yết phải công bố trên các ấn phẩm, trang
thông tin điện tử của tổ chức niêm yết và phải lưu trữ ít nhất trong vòng mười hai tháng
tiếp theo tại trụ sở chính của tổ chức để nhà đầu tư tham khảo.


13

b. Tổ chức niêm yết công bố thông tin bất thường:
Tổ chức niêm yết phải công bố thông tin bất thường trong thời hạn hai mươi
bốn giờ trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của tổ chức niêm yết và trên phương
tiện công bố thông tin của Sở GDCK hoặc Trung tâm GDCK. Cụ thể:
- Bị tổn thất tài sản có giá trị từ mười phần trăm (10%) vốn chủ sở hữu trở
lên;
- Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc tài khoản được
phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa;
- Tạm ngừng kinh doanh;
- Bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép thành lập
và hoạt động hoặc Giấy phép hoạt động;
- Thông qua các quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều
104 của Luật doanh nghiệp;
- Quyết định của Hội đồng quản trị về việc mua lại cổ phiếu của công ty
mình hoặc bán lại số cổ phiếu đã mua; về ngày thực hiện quyền mua cổ phiếu của người
sở hữu trái phiếu kèm theo quyền mua cổ phiếu hoặc ngày thực hiện chuyển đổi trái phiếu
chuyển sang cổ phiếu và các quyết định liên quan đến việc chào bán theo quy định tại
khoản 2 Điều 108 của Luật doanh nghiệp, kết quả các đợt phát hành riêng lẻ của công ty
đại chúng;
- Có quyết định khởi tố đối với thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc
hoặc Tổng Giám đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của công
ty; có bản án, quyết định của Tòa án liên quan đến hoạt động của công ty; có kết luận của
cơ quan thuế về việc công ty vi phạm pháp luật về thuế.

Thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc hoặc Tổng giám
đốc, Phó Giám đốc hoặc Phó Tổng giám đốc, Kế toán trưởng của tổ chức niêm yết và
người có liên quan khi có ý định giao dịch cổ phiếu của tổ chức niêm yết.
2.1.3 Tác động của thông tin BCTC đến giá cổ phiếu:
Trong phân tích mô hình Ohlson (Ohlson model – OM) có thể tách ra làm hai bộ
phận: thứ nhất là mô hình định giá cổ phiếu dựa trên dòng lợi nhuận thặng dư và thứ hai
là chuỗi thông tin được công bố vào năm 1995 bở giáo sư James Ohlson. Bộ phận đầu
tiên là mô hình định giá cổ phiếu dựa trên dòng lợi nhuận thặng dư, thực chất bộ phận này
đã được thiết lập và sử dụng từ hơn nhiều thập kỷ trước khi mà mô hình OM xuất hiện.
Xuất phát từ mô hình chiết khấu cổ tức cũng như dựa trên mối liên hệ giữa cổ tức, lợi
nhuận và giá trị sổ sách. Theo mô hình lợi nhuận thặng dư, giá trị nổi tại của một cổ phiếu


15

gồm hai phần là giá trị sổ sách của cổ phiếu đó và tổng giá trị hiện tại của các dòng lợi
nhuận thặng dư tương lai của công ty. Từ mô hình này rút ra một quy tắc quan trọng được
sử dụng phổ biến để phân tích giá trị mà các công ty tạo ra cho cổ đông. Nếu tỷ suất sinh
lời trên vốn của chủ sở hữu (ROE) của một công ty lớn hơn lợi suất yêu cầu khi đầu tư
vào cổ phiếu của công ty đó (tức là lợi nhuận thặng dư dương) thì giá trị cổ phiếu sẽ lớn
hơn giá trị sổ sách của nó và công ty được coi là tạo ra giá trị cho cổ đông. Còn nếu
ngược lại, lợi nhuận thặng dư âm thì giá trị sổ sách của nó và công ty bị coi là phá hủy giá
trị của cổ đông. Mô hình lợi nhuận thặng dư được sử dụng rất phổ biến trong định giá cổ
phiếu tại các nước có thị trường chứng khoán phát triển.
Để đi đến mô hình của mình từ mô hình lợi nhuận thặng dư, James Ohlson (1995)
đã dựa trên một giả thiết quan trọng liên quan đến chuỗi thời gian của dòng lợi nhuận
thặng dư. Giả thiết này được Ohlson đưa ra căn cứ vào tính tồn lưu của lợi nhuận đã ghi
nhận trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đó cũng như dựa trên thực tiễn thông tin
BCTC chỉ là một bộ phận của tập hợp các thông tin có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng của thị
trường về lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp. Sau khi kết hợp hai mô hình lại thì cuối

hiểu thông tin tốt, thông tin xấu và đưa ra quyết định đầu tư.
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Thục Đoan (2011) về ảnh hưởng của thông tin kế
toán và các chỉ số tài chính đến giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, hai
chỉ số thu nhập trên cổ phiếu thường (EPS) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đã
được kiểm định là có tác động cùng chiều với giá chứng khoán và chúng giải thích được
45% sự thay đổi của giá cổ phiếu. Tiếp sau đó, Lê Nguyễn Quỳnh Hương (2013) nghiên
cứu các yếu tố ảnh hưởng đến cổ phiếu niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam,
với kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy thị giá cổ phiếu tại thị trường Việt Nam
biến động theo các nhân tố đến từ BCTC. Trái với nhiều nghi ngờ rằng phân tích cơ bản
dựa trên các thông tin báo cáo tài chính và thông tin vĩ mô không có tác động gì đến giá
cổ phiếu tại nước ta, việc sử dụng mô hình Ohlson cải tiến cho thấy mối liên hệ này hoàn
toàn có ý nghĩa về mặt thống kê.
Như vậy có thể thấy được tầm ảnh hưởng mạnh từ thông tin BCTC đến giá cổ phiếu
đã được kiểm chứng qua thời gian ở khắp các quốc gia trên thế giới với việc ứng dụng mô
hình Ohlson.
2.2 Giá cổ phiếu
2.2.1 Các loại giá cổ phiếu (trang 147, PGS. TS Bùi Kim Yến)
Mệnh giá (par –value): Giá trị ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu là mệnh giá của cổ
phiêu. Mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa, thậm chí ở Mỹ người ta còn


17

phát hành cổ phiếu không có mệnh giá (no par-value stocks), bởi vì đối với cổ phiếu thì
mệnh giá ít có ý nghĩa kinh tế.
Thông thường khi công ty mới thành lập, mệnh giá cổ phiếu được tính như sau
Mệnh giá cổ phiếu mới phát hành =

𝑉ố𝑛 đ𝑖ề𝑢 𝑙ệ 𝑐ủ𝑎 𝑐ô𝑛𝑔 𝑡𝑦 𝑐ổ 𝑝ℎầ𝑛
𝑇ổ𝑛𝑔 𝑠ố 𝐶𝑃 𝑑ă𝑛𝑔 𝑘ý 𝑝ℎá𝑡 ℎà𝑛ℎ

chứng khoán không vượt quá giới hạn của vùng dao động – họ là công cụ điều tiết xuất
sắc giá thị trường của cổ phiếu. Bởi vì ngay cả khi giá cổ phiếu vượt ra ngoài giới hạn,
các nhà buôn chứng khoán phải lập tức hành động mua vào hoặc bán ra các cổ phiếu
nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, vô hình chung hành động đó sẽ khiến mối quan hệ cung
cầu dần dần tự điều tiết để giá cổ phiếu dần dần trở lại trạng thái bình thường.
Nếu giá cổ phiếu rơi xuống hạng thấp, thì đối với các nhà buôn chứng khoán điều
nên làm là mua hàng loạt các cổ phiếu, bởi lẽ cổ phiếu đã bị hạ giá so với giá trị lý thuyết
của nó. Sau đó chờ cho giá trị thị trường tự điều chỉnh dần vào phạm vi bình thường của
vùng dao động, tại thời điểm này, anh ta sẽ bán cổ phiếu và thu được lợi nhuận.
Nếu thị giá tăng đến phạm vi giới hạn trên, thì đây là lúc có lợi cho nhà buôn chứng
khoán nếu anh ta bán đi các cổ phiếu với giá rất cao, thu lợi lớn. Để rồi sau đó, chờ đến
khi giá cổ phiếu hạ xuống thì lại mua vào chính các cổ phiếu đó.
Để không gặp rủi ro khi mua bán các cổ phiếu, các nhà buôn bán chứng khoán phải
thường xuyên kiểm tra giá cổ phiếu trên cơ sở thực giá của nó và triển vọng của công ty.
Trường hợp một loại chứng khoán đang lưu thông trên các thị trường chứng khoán
khác nhau ví dụ như tại New York, London, Tokyo,…Ở tại một thời điểm nhất định, giá
cổ phiếu tại các thị trường khác nhau có chênh lệch, thì giữa hai thị trường tồn tại một
vùng dao động giá cổ phiếu. Trường hợp này lại là một cơ hội tốt cho các nhà buôn chứng
khoán kiếm lời. Ví dụ như giá của một loại cổ phiếu tại thị trường 1 xuống quá thấp so
với thị trường 2 thì điều đó có lợi cho nhà buôn chứng khoán khi họ mua vào chứng
khoán ở thị trường 1 và ngay lập tức bán ra ở thị trường 2 để hưởng chênh lệch.
2.2.3 Tổng quan về mô hình Ohlson – Ohlson Model
Trước khi quyết định tham gia vào thị trường vốn, các nhà đầu tư thường cân nhắc
đến các rủi ro và sự bất định để đưa chúng vào mô hình định giá của mình. Thông thường
thì nhắc đến cụm từ rủi ro tác động đến thị giá cổ phiếu, chúng ta chia thành hai nhóm: rủi
ro nội tại, tác động đến một ngành hoặc một cổ phiếu và rủi ro bên ngoài, không kiểm
soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường. Nhóm rủi ro bên ngoài xuất hiện
khi có sự thay đổi đột ngột của những yếu tố kinh tế vĩ mô, còn được gọi là rủi ro hệ
thống, có tác động mạnh mẽ đến hiệu suất hoạt động của các các doanh nghiệp. Ví dụ như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status