Mối quan hệ giữa đầu tư với dòng tiền và yếu tố giới hạn tài chính nghiên cứu các nhóm công ty trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 41

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

ĐÀO NGUYỄN KHÁNH GIANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI DÒNG TIỀN
VÀ YẾU TỐ GIỚI HẠN TÀI CHÍNH: NGHIÊN
CỨU CÁC NHÓM CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

ĐÀO NGUYỄN KHÁNH GIANG

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẦU TƯ VỚI DÒNG TIỀN
VÀ YẾU TỐ GIỚI HẠN TÀI CHÍNH: NGHIÊN
CỨU CÁC NHÓM CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

Chuyên ngành

: Tài chính – Ngân hàng

Mã số


1. TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU .................................................................... 1
1.1 Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................... 2
1.3 Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 3

2. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY .................................................................. 5
2.1 Giới hạn tài chính................................................................................................ 5
2.2 Các yếu tố phù hợp giúp xác định mức độ giới hạn tài chính ........................... 6
2.3 Nhóm công ty – yếu tố mới giúp xác định giới hạn tài chính ......................... 16
2.4 Mối quan hệ giữa giới hạn tài chính và độ nhạy giữa dòng tiền và đầu tư ..... 23
2.5 Mở rộng bài nghiên cứu ................................................................................... 32

3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................... 33
3.1 Giới thiệu mô hình ............................................................................................ 33
3.2 Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................... 36


3.3 Các bước tiến hành ........................................................................................... 37

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU................................................................................. 38
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu ..................................................................................... 38
4.2 Độ nhạy cảm của đầu tư và dòng tiền ở các nhóm công ty ............................. 40
4.3 Mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh khác và độ nhạy cảm của đầu tư với dòng
tiền................................................................................................................................ 46

5. KẾT LUẬN .......................................................................................................... 54
5.1 Kết luận ............................................................................................................. 54
5.2 Hạn chế của đề tài ............................................................................................. 55
5.3 Hướng nghiên cứu tương lai............................................................................. 56


Bảng 4.3.2 Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh quy mô công ty (2)
Bảng 4.3.3: Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh số năm hoạt động của công ty
Bảng 4.3.4 Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh tỷ lệ đòn bẩy
Bảng 4.3.5 Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh tỷ lệ sở hữu cổ phần của các cổ đông nội bộ
Bảng 4.3.6 Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh tỷ lệ sở hữu cổ phần của các tổ chức phi tài chính
Bảng 4.3.7 Kết quả hồi quy mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trên khía
cạnh tỷ lệ sở hữu cổ phần của các tổ chức tài chính


1

MỞ ĐẦU
1. TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Việc quản lý và sử dụng dòng tiền hiệu quả luôn là một thách thức đối với
các công ty, làm thế nào đầu tư dòng tiền nhàn rỗi vào các hoạt động sản xuất kinh
doanh, cũng như duy trì mức thanh khoản hợp lý dành cho các khoản đầu tư phát
triển trong tương lai, là một câu hỏi lớn đối với người quản trị công ty và các nhà
nghiên cứu khoa học. Trong đó, việc đánh giá mối quan hệ của dòng tiền và đầu tư
là vô cùng quan trọng. Độ nhạy cảm giữa đầu tư và dòng tiền rất khác nhau ở mỗi
công ty, tùy thuộc vào nguồn vốn nội bộ hiện hữu và khả năng tiếp cận nguồn tài
chính bên ngoài của công ty.
Mỗi công ty sẽ có những đặc điểm kinh tế khác nhau về loại hình công ty, quy
mô, số năm hoạt động, các chính sách chi trả cổ tức, tỷ lệ đòn bẩy, xác suất phá sản,
chi phí kiệt quệ tài chính, các mối quan hệ với các ngân hàng,.. Những yếu tố này

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào hai mục tiêu chính. Mục tiêu đầu tiên là kiểm
tra mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền ở các nhóm công ty là đồng biến hay
nghịch biến, khi mà nhóm công ty được xác định là đối tượng có giới hạn tài chính
thấp. Tiếp theo, bài nghiên cứu tiếp tục kiểm tra thêm một số yếu tố nội sinh khác
về mức độ ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của đầu tư và dòng tiền. Để làm rõ hai mục
tiêu này, bài nghiên cứu sẽ lần lượt tìm câu trả lời cho hai câu hỏi nghiên cứu sau:
 Độ nhạy cảm giữa đầu tư và dòng tiền ở các nhóm công ty niêm yết trên
thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?
 Các yếu tố quy mô, số năm hoạt động, tỷ lệ đòn bẩy và cấu trúc sở hữu
cổ phần của mỗi công ty có tác động như thế nào với mối quan hệ của
đầu tư và dòng tiền?


3

1.3 Phương pháp nghiên cứu
Dựa theo bài nghiên cứu “Investment–cash flow sensitivity and financing
constraints: New evidence from Indian business group firms” của các tác giả Rejie
Georgea, Rezaul Kabirb, và Jing Qianc công bố vào năm 2010, các mô hình được
xây dựng để xác đinh mối quan hệ của đầu tư và dòng tiền xét trong điều kiện của
giới hạn tài chính. Các giới hạn tài chính sẽ được xác định dựa trên các yếu tố nội
sinh là dòng tiền, tỷ lệ giá thị trường trên sổ sách, quy mô, số năm hoạt động, tổng
tài sản, tỷ lệ đòn bẩy; kết hợp với yếu tố ngoại sinh mới là loại hình công ty, cụ thể
là nhóm công ty hay công ty riêng lẻ. Bài nghiên cứu dựa trên các phương trình sau
để đưa ra các kết quả thực nghiệm:
Phương trình (1): Mô hình Q có những đầu tư của công ty chủ yếu được quyết
định bởi những kỳ vọng về lợi nhuận trong tương lai, thường được tính bằng tỷ lệ
của giá trị thị trường tổng tài sản với những giá trị tài sản thay thế tương ứng. Mô
hình Q được điều chỉnh lại sẽ bao gồm yếu tố nguồn vốn nội bộ, như là một yếu tố



5

2. CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Giới hạn tài chính
Các giới hạn tài chính có thể được định nghĩa là những trở ngại làm cản trở
các công ty tiếp cận với nguồn vốn bên ngoài trong hoạt động tài trợ đầu tư của họ.
Thực tế, thị trường vốn không hoàn hảo do sự hiện diện của bất cân xứng
thông tin. Myers và Majluf (1984) chỉ ra rằng các nhà đầu tư bên ngoài do không có
những thông tin đầy đủ nên họ sẽ đòi hỏi một phần bù đắp rủi ro khi quyết định đầu
tư vào tài sản vốn cổ phần của một công ty. Đối với khoản nợ tài chính, do những
bất cân xứng thông tin, người cho vay có thể chỉ cho khách hàng vay một phần nhất
định khoản vay được yêu cầu. Thậm chí, theo Stiglitz và Weiss (1981) nếu bên cho
vay đồng ý để cho vay, họ có thể sẽ phân bổ nguồn vốn để giảm thiểu rủi ro tạo ra
bởi các lựa chọn đối nghịch.
Yếu tố thứ hai gây ra sự không hoàn hảo của thị trường là chi phí đại diện. Chi
phí đại diện có liên quan chặt chẽ đến việc bất cân xứng thông tin, vì nó sẽ phát sinh
khi các nhà đầu tư bên ngoài không có đủ thông tin liên quan về các hoạt động đầu
tư bền vững và lợi nhuận của công ty. Mặt khác, những người quản lý nắm giữ
những thông tin nội bộ có thể theo đuổi lợi ích riêng của họ, mà không theo đuổi
mục tiêu chung của công ty vì lợi ích của các cổ đông. Vì vậy, các cổ đông sẽ thực
hiện việc kiểm soát các nhà quản lý. Tuy nhiên, thực tế này tạo thêm chi phí quản
lý. Do đó, các nhà đầu tư tiềm năng cũng không sẵn sàng mua cổ phần trong các
công ty ngoại trừ ở một mức giá đã được chiết khấu đi, theo Schiantarelli (1996).
Nghiên cứu của Oliner & Rudebusch (1992) cho thấy xung đột quyền lợi này làm
tăng chi phí cho công ty khi phải huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Với những lý giải trên, các công ty sẽ ít có khả năng tiếp cận được với nguồn
vốn bên ngoài. Vì vậy, các công ty phải giữ lại hầu hết lợi nhuận của họ thu được từ
các khoản đầu tư trước và trả cổ tức ít hơn để tích lũy vốn cho các hoạt động đầu tư

khoản đầu tư của họ hơn là để chi trả cổ tức do nguồn vốn bên trong sẵn có không
đủ đáp ứng cho các cơ hội đầu tư. Mặt khác, công ty có tỷ lệ chi trả cổ tức trên thu
nhập thấp thể hiện khả năng thanh khoản thấp, là một đặc điểm của giới hạn tài


7

chính. Theo đó, một công ty với cổ tức thấp sẽ được xác định là có giới hạn tài
chính lớn và các công ty có cổ tức cao là ít giới hạn tài chính.
Kaplan và Zingales (1997): Dựa vào việc tự xây dựng mô hình giới hạn
riêng, phát hiện của họ về các giới hạn tài chính được dựa trên chất lượng và thông
tin định lượng trong các báo cáo khác nhau của công ty, cụ thể là từ các số liệu của
dòng tiền (CashFlow), tỷ số giá trị thị trường trên giá trị sổ sách (Tobin’s Q), tỷ lệ
nợ (Leverage), tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividends),và lượng tiền mặt nắm giữ
(CashHoldings), ước lượng và tính toán được chỉ số KZ như phương trình sau:

Kết quả nghiên cứu cho thấy công ty có chỉ số KZ càng lớn, càng nhiều giới
hạn tài chính và ngược lại. Chỉ số KZ nhỏ là khi công ty có dòng tiền nội bộ lớn, tỷ
lệ chi trả cổ tức cao và lượng tiền mặt nắm giữ nhiều; ngược lại những công ty có tỷ
lệ nợ cao, Tobin’s q lớn thể hiện rằng chi phí tiếp cận nguồn vốn bên ngoài sẽ cao.
Kaplan và Zingales xác định công ty mà không cần tiếp cận vào nhiều quỹ hơn cần
thiết để tài trợ cho đầu tư của họ như là "có khả năng có giới hạn tài chính" và các
công ty tiếp cận với nhiều nguồn vốn hơn cần thiết để tài trợ cho đầu tư của họ như
là "không bao giờ có giới hạn tài chính”.
Heitor Almeida, Murillo Campello và Michael S. Weisbach (2007) xác định
giới hạn tài chính dựa vào 5 tiêu chí rút ra từ các nghiên cứu trước đây.


Đầu tiên dựa vào tỷ lệ chi trả cổ tức, các công ty được phân chia thành hai
nhóm dựa vào tỷ lệ chi trả cổ tức hàng năm, theo đó công ty có giới hạn tài

từng đưa vào bài nghiên cứu như Devereux và Schiantarelli (1990), Oliner và
Rudebusch (1992). Lập luận cho rằng những công ty nhỏ có giới hạn tài
chính nhiều hơn vì nhiều lý do: Thứ nhất, bằng chứng thực nghiệm cho thấy
chi phí phát hành cổ phần mới giảm theo quy mô, do đó chi phí huy động
vốn bên ngoài ở các công ty nhỏ cao. Thứ hai, những công ty nhỏ nhận được
ít thông tin trong việc tiếp cận nguồn vốn bên ngoài vì những hạn chế của lựa
chọn đối nghịch (Myers và Majluf, 1984). Thứ ba, những công ty lớn dễ
dàng gia tăng nợ vay vì có khả năng đa dạng hóa danh mục nợ, nhiều tài sản
thế chấp và khả năng phá sản thấp.



Số năm hoạt động: cùng với cách tiếp cận của Devereux và Schiantarelli
(1990), Oliner và Rude-Busch (1992), cho rằng những công ty trẻ, đang tăng
trưởng có nhiều giới hạn tài chính hơn những công ty lâu năm, ổn định.



Yếu tố đòn bẩy tài chính: theo quan điểm của Lang, Ofek, và Stulz (1996),
đòn bẩy nợ có tác động nghịch biến với đầu tư theo những cách thức khác
nhau. Đầu tiên, nó có thể làm giảm số lượng tiền mặt có sẵn cho đầu tư. Thứ


9

hai, theo Myers (1977) hay Jensen và Meckling (1976), các công ty có vay
nợ cao có thể phải đối mặt nhiều rào cản hơn khi tiếp cận nguồn vốn bên
ngoài. Do đó tỷ lệ đòn bẩy cao sẽ làm gia tăng giới hạn tài chính cho công ty.




Yếu tố tỷ lệ chi trả cổ tức được áp dụng như cách làm của những nghiên
cứu trước là Fazzari, Hubbard, và Petersen (1988) Almeida, Campello và
Weisbach (2004), phân chia 1/3 công ty thuộc danh sách cổ tức chi trả thấp


10

nhất có giới hạn tài chính cao, 1/3 công ty thuộc danh sách đầu bảng là ít
giới hạn tài chính.


Yếu tố giá trị trung bình của tỷ lệ chi trả cổ tức: với giả định rằng một công
ty có mức độ giới hạn tài chính là không đổi qua thời gian, sử dụng cách
thức tương tự như trên, chia 33% các công ty có cổ tức thấp nhất danh sách
là giới hạn tài chính cao và 33% cổ tức trung bình cao nhất là công ty có
giới hạn tài chính thấp.



Bài nghiên cứu này còn đưa thêm biến giả cổ tức vào mô hình, xác định các
công ty có chính sách chi trả cổ tức sẽ không có giới hạn tài chính và ngược
lại công ty không chi trả cổ tức được xem là có giới hạn tài chính.



Tiếp theo, các công ty được tổ chức Standard & Poor’s xếp hạng cho trái
phiếu công ty và thương phiếu được xem là không có giới hạn tài chính, các
công ty không nằm trong danh sách xếp hạng này thì có nhiều giới hạn tài
chính. Đây cũng là phương pháp được sử dụng trong các nghiên cứu trước

tài chính hơn.
 Theo Bond (2003) lập luận rằng trên khía cạnh thị trường vốn không hoàn
hảo, các quyết định tài chính và đầu tư sẽ có tương tác với nhau. Một nhận
định trong bài nhiên cứu này cho rằng các hệ thống tài chính khác biệt có
thể đem lại những hiệu ứng đầu tư khác nhau. Tính không đồng nhất giữa
các quốc gia đã được ghi nhận, khác biệt về cách thức đầu tư tài chính, hình
thức sở hữu doanh nghiệp, quy tắc quản trị doanh nghiệp, thị trường kiểm
soát công ty, và tương tác khác nhau của các của thị trường tài chính và
định chế tài chính. Chẳng hạn như sự khác nhau của hai nền kinh tế: nền
kinh tế thị trường đại diện là Anh – Mỹ và nền kinh tế “ngân hàng” ở Đức
và Nhật Bản; đã nhận được nhiều sự chú ý đặc biệt. Bởi vì trong nền kinh tế
thị trường, mối quan hệ giao dịch giữa các công ty và các nhà cung cấp tài
chính có xu hướng ít hiệu quả do các vấn đề của bất cân xứng thông tin. Từ
đó, chi phí vốn vay bên ngoài sẽ cao hơn khi phải gánh thêm một khoản chi
phí bù trừ khác. Vì thế, câu hỏi đặt ra rằng liệu có sự khác biệt nào trong chi
phí đầu tư ở nền kinh tế mang đặc thù của hệ thống ngân hàng như Nhật
Bản và Đức? Tuy nhiên chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện về vấn đề này,
nên việc so sánh các kết quả là khá hạn chế. Dù vậy, tác giả cũng đã trình
bày một quan điểm khá quan trọng, đó là khi phân tích một quốc gia đơn lẻ,
hệ số tự do của dòng tiền được xem là đại diện cho các biến đã bị loại bỏ
khỏi mô hình về kỳ vọng khả năng sinh lợi trong tương lai, chứ không phải


12

là một tín hiệu nào đó về giới hạn tài chính (thông qua sự tác động đến việc
đầu tư khi nguồn vốn nội bộ có biến động). Tuy nhiên khi phân tích dữ liệu
từ nhiều quốc gia, mối quan hệ giữa dòng tiền và kỳ vọng khả năng sinh lợi
trong tương lai, sẽ được xem xét trên phương diện đa chiều, sẽ nhận diện
được sự khác biệt về hệ số ước tính của biến dòng tiền giữa các quốc gia

hạn tài chính hơn công ty riêng lẻ.
Nghiên cứu của Takeo Hoshi, Anil Kashyap và David Scharfstein (1991) về
cấu trúc vốn với đầu tư của các công ty thuộc tập đoàn ở Nhật Bản, gọi là Keiretsu.
Mối quan hệ với ngân hàng được xem như là yếu tố xác định giới hạn tài chính, các
công ty có mối quan hệ tốt với các ngân hàng có khả năng huy động vốn nhanh, rẻ
và như thế có ít giới hạn tài chính hơn các công ty có mối quan hệ không tốt với các
ngân hàng. Các Keiretsu có quan hệ tốt với ngân hàng lớn, còn các công ty riêng lẻ,
không thuộc tập đoàn nào, mối quan hệ với ngân hàng kém hơn và vì thế, họ gặp
khó khăn khi cần nguồn vốn bên ngoài để mở rộng đầu tư. Vì thế, các Keiretsu có ít
giới hạn tài chính hơn các công ty riêng lẻ.
 Trong bài nghiên cứu của Deloof (1998) và Lensink (2003) cho biết, thế
mạnh về quy mô và phạm vi hoạt động cho phép các nhóm công ty có khả
năng tái tạo lại các chức năng tương tự với hoạt động của các định chế tài
chính ở các nước phát triển. Do đó, khắc phục được những hạn chế của thị
trường vốn, nhóm công ty đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra và
bố trí vốn cho các dự án đầu tư, chính là hai trong số các chức năng quan
trọng của một thị trường vốn. Đối với hoạt động đầu tư, điều này hàm ý
rằng nhóm công ty có khả năng tiếp cận tốt hơn với nguồn vốn bên ngoài,
hoặc từ nội bộ trong các thành viên của nhóm công ty hoặc từ thị trường
vốn bên ngoài. Đặc biệt là ở các nước đang phát triển, các nhóm công ty
đóng vai trò như một trung gian tài chính giữa các công ty và thị trường.
Khi xem xét khả năng tiếp cận nguồn vốn bên ngoài của nhóm công ty theo
trong hai phương diện khác nhau. Thứ nhất là khi các nhóm công ty vay
vốn bên ngoài sẽ dễ dàng hơn những công ty riêng lẻ vì các ngân hàng sẵn
sàng để cho vay đối với một đối tượng có những mối liên kết tài chính giữa
nhiều công ty thành viên. Đây là những mối quan hệ có dạng sở hữu chéo,
hoặc nợ đảm bảo cho nhau. Những mối tương tác tài chính này sẽ làm giảm


14


15

Bảng 2.2 Tóm tắt các yếu tố được sử dụng làm đại diện cho giới hạn tài chính
trong các nghiên cứu thực nghiệm

Yếu tố đại diện
Chỉ số KZ

Công ty có giới hạn
tài chính
Chỉ số KZ lớn

Chỉ số Z-score

Z-score
Moyen (2004)
Moyen (2004)
Hovakimian và Titman (2006)
Calomiris và cộng sự (1995)
Almeida và cộng sự (2004)
Denis và Sibilkov (2010)
White (1992)
Kashyap và cộng sự (1994)
Gilscrist và Himmelberg (1995)
Almeida và cộng sự (2004)
Hovakimian và Titman (2006)
Denis và Sibilkov (2010)
Evereux và Schiantarell (1990)
Gilscrist và Himmelberg (1995)
Almeida, Campello và Weisbach
(2004)
Hovakimian và Titman (2006)
Denis và Sibilkov (2010)
Oliner và Rudebusch (1992)
Hovakimian và Titman (2006)
Fazzari, Hubbard, and Petersen
(1988)
Cleary (1999)
Aydogan Alti (2003)
Almeida và cộng sự (2004)
Moyen (2004)
Hovakimian và Titman (2006)
Hovakimian và Titman (2006)

Hovakimian và Titman (2006)

Nhóm công ty có rất nhiều tên gọi khác nhau ở các nước khác nhau trên thế
giới. Các cụm từ như “Group”, “Cartel”, “Consortium”, “Conglomerate”,
“Syndicate” rất phổ biến để chỉ nhóm công ty ở các nước phát triển tại Âu – Mỹ.
Tại các nước Châu Á, khái niệm này khá nổi tiếng ở Nhật Bản với tên gọi là
“Keiretsu”, hay “Cheabol” ở Hàn Quốc, và “Jituan Gongsi” ở Trung Quốc. Có thể
thấy tên gọi các nhóm công ty trên thế giới rất khác nhau, nhưng thực chất các tên
gọi này gắn liền với nguồn gốc và xuất xứ của từng loại hình nhóm công ty.
Cấu trúc của các nhóm công ty cũng rất đa dạng, phụ thuộc vào từng mô hình
quản trị công ty riêng biệt. Một số nhóm công ty tiêu biểu trên thế giới hiện nay là:
 Tại Âu – Mỹ, các nhóm công ty được hình thành trên cơ sở phát triển lâu
đời của ngành thương mại, công nghiệp và dịch vụ. Ban đầu là các hộ kinh
doanh gia đình trong một số ngành nghề nhất định, sau đó là quá trình mở
rộng và sáp nhập, hình thành nên các “tập đoàn kinh tế”.


17

 Mô hình Keiretsu tại Nhật Bản hình thành từ hoạt động mua bán cổ phần
của các công ty, tập hợp thành nhóm các công ty ở nhiều lĩnh vực và
ngành nghề khác nhau. Các nhóm công ty tại Nhật Bản thường lấy một
ngân hàng làm hạt nhân trung tâm, tạo ra mối liên kết cho các thành viên
trong nhóm công ty, thể hiện qua quan hệ tín dụng và quan hệ sở hữu cũng
như chi phối vốn cổ phần.
 Ở Hàn Quốc, mô hình Chaebol là một hình thức nhóm công ty hoạt động
trên nền tảng của các công ty gia đình liên kết. Đây là những công ty nhận
được nhiều sự hỗ trợ từ Chính phủ và có nhiều ưu đãi trong các dự án đầu
tư. Chính sách phát triển của các Chaebol có sự định hướng từ phía Chính
phủ, đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế với phạm vi hoạt động mở
rộng ở tất cả lĩnh vực và ngành nghề.
 Nhóm công ty ở Trug Quốc được biết đến với tên gọi là Jituan Gongsi.

 Mở rộng các kênh phân phối và thị trường quốc tế, tạo uy tín trong
ngành nghề và nâng cao nhận thức về thương hiệu, cung cấp các giá trị
gia tăng cho khách hàng
 Có lợi thế để thiết lập nên chuẩn mực công nghệ đối với ngành nghề.
Các nhóm công ty trên thế giới đóng một vai trò nổi bật trong nhiều nền kinh
tế, với sự đóng góp đáng kể vào tỷ lệ GDP của cả nước (được đo bằng giá trị vốn
hóa thị trường chứng khoán) như Đài Loan (hơn 100%), Hàn Quốc (40%), Ấn Độ
(38%), Mexico (36%), Tây Ban Nha (35%) và Indonesia (34%).
Kết luận, với những đặc thù kinh tế được phân tích ở phần trên, các nhóm
công ty thật sự có một nguồn vốn nội bộ dồi dào, tận dụng mối liên kết rộng rãi từ
các công ty thành viên sẽ giúp khả năng tiếp cận nguồn vốn tài chính bên ngoài linh
hoạt hơn rất nhiều. Vì vậy, các nhóm công ty được xem là có ít giới hạn tài chính
hơn các công ty hoạt động riêng lẻ.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status