BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN QUỐC KỊP
KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA
KIỂM TOÁN VIÊN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH - NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: KẾ TOÁN
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN THỊ GIANG TÂN
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Khoảng cách mong đợi về trách
nhiệm của kiểm toán viên trong kiểm toán báo cáo tài chính - Nghiên cứu thực
nghiệm tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu khoa học của tôi với sự hướng dẫn
của PGS.TS. Trần Thị Giang Tân. Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ
hình thức nào. Tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đã được công bố đầy đủ.
TP.HCM, ngày 28 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Quốc Kịp
2.2 Khoảng cách mong đợi kiểm toán ....................................................................21
2.2.1 Khái niệm khoảng cách mong đợi kiểm toán.................................................21
2.2.2 Nguyên nhân hình thành khoảng cách mong đợi kiểm toán ...........................23
2.3 Lý thuyết nền tảng ...........................................................................................24
2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm .......................................................................................24
2.3.2 Lý thuyết niềm tin ký thác ............................................................................25
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thiết kế nghiên cứu .........................................................................................28
3.2 Đối tượng khảo sát...........................................................................................29
3.3 Nội dung khảo sát ............................................................................................30
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOẢNG CÁCH MONG ĐỢI VỀ
TRÁCH NHIỆM CỦA KTV TRONG KIỂM TOÁN BCTC TẠI VIỆT NAM
4.1 Tổng quan về hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam .................................33
4.1.1 Lịch sử phát triển ..........................................................................................33
4.1.2 Các quy định pháp lý ....................................................................................34
4.2 Kết quả khảo sát khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV trong kiểm
toán BCTC tại Việt Nam .......................................................................................35
4.2.1 Thống kê mô tả các đặc điểm của các đối tượng khảo sát..............................35
4.2.2 Kết quả khảo sát về khoảng cách hợp lý .......................................................37
4.2.3 Kết quả khảo sát về khoảng cách năng lực ....................................................46
4.2.4 Kết quả khảo sát về khoảng cách chuẩn mực ................................................50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Kết luận ...........................................................................................................57
5.2 Đề xuất quan điểm và định hướng thu hẹp khoảng cách mong đợi ..................60
5.3 Hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ...........................................69
Kết luận .................................................................................................................72
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
8. CPA
Chứng chỉ kiểm toán viên
9. ĐVĐKT
Đơn vị được kiểm toán
10. GTTB
Giá trị trung bình
11. KSCL
Kiểm soát chất lượng
12. KTV
Kiểm toán viên
13. NQL
Nhà Quản lý
14. VACPA
Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam
15. VSA
tiêu kiểm toán hoặc trách nhiệm của KTV. Một số nghiên cứu khác cho thấy nhân
tố thể chế và văn hóa của mỗi nước ảnh hưởng đến kì vọng của xã hội về trách
nhiệm và đánh giá của họ về kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV.
Tuy nhiên các nghiên cứu về khoảng cách mong đợi kiểm toán chưa nhiều tại
Việt Nam. Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào vấn đề về
quy trình lập kế hoạch và hoàn thiện các thủ tục kiểm toán nhằm phát hiện hoặc
ngăn ngừa gian lận (Lý Trần Kim Ngân, 2011; Trương Thị Yến Nhung, 2012 và
Nguyễn Thị Thùy Linh, 2013), đánh giá một số thuộc cá nhân của KTV đối với chất
2
lượng kiểm toán (Nguyễn Thị Ngọc Mai, 2013), những vấn đề về luân chuyển KTV
và những giải pháp để nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán BCTC (Lâm
Huỳnh Phương, 2013; Nguyễn Trọng Thể, 2013 và Nguyễn Quốc Cường, 2013),
nâng cao trách nhiệm của KTV (Ngô Thị Thu Hà, 2007) nhưng chưa chú trọng
mong đợi thực tế của xã hội về trách nhiệm của KTV, trách nhiệm đó đã được KTV
thực hiện như thế nào, bản thân KTV nhìn nhận ra sao, ĐVĐKT nghĩ gì về trách
nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán BCTC. Vì vậy tác giả đã thực hiện nghiên
cứu “Khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC Nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam”. Nghiên cứu này nhằm cung cấp một bằng
chứng thực nghiệm liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Việt nam, về
sự mong đợi của xã hội về trách nhiệm hiện tại của KTV trong kiểm toán BCTC tại
Việt Nam hiện nay, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV hiện nay như
thế nào theo quan điểm của người sử dụng BCTC và có những đề xuất nhằm thu
hẹp khoảng cách mong đợi đối với trách nhiệm của KTV trong kiểm toán BCTC tại
Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Xem xét liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của KTV trong
cuộc kiểm toán BCTC tại Việt Nam hiện nay.
Tìm hiểu các nguyên nhân tạo ra khoảng cách mong đợi về trách nhiệm của
Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên bảng câu hỏi từ bài nghiên cứu của Porter
(2012), “Report on research conducted in the united kingdom and new zealand in
2008 investigating the audit expectation-performance gap and users’ understanding
of, and desired improvements to, the auditor’s report” với một vài thay đổi cho phù
hợp với môi trường pháp lý, văn hóa tại Việt Nam cũng như dựa trên một số nghiên
cứu khác.
Các bảng câu hỏi được gửi trực tiếp và thực hiện khảo sát dựa vào ứng dụng của
Google.docs cho ba nhóm đối tượng có liên quan lợi ích đến kiểm toán:
Nhóm KTV: là những người có kiến thức chuyên môn về kiểm toán và là
những người trực tiếp thực hiện trong cuộc kiểm toán. Đối tượng này tham
gia khảo sát gồm có KTV chính, chuyên viên kiểm toán và trợ lý kiểm
toán…
4
Nhóm người làm việc tại đơn vị được kiểm toán: là những cá nhân chịu trách
nhiệm trong việc lập và trình bày BCTC, tiếp xúc, trao đổi và giải trình trực
tiếp cho KTV trong quá trình kiểm toán. Nhóm này tham gia khảo sát bao
gồm Ban (Tổng) Giám đốc, Kế toán Trưởng, Kế toán viên…
Nhóm người sử dụng BCTC: Đây là nhóm có lợi ích liên quan như đánh giá
thông tin tài chính để cho vay hoặc đánh giá tình hình hoạt động để đầu tư
hay đánh giá khả năng đóng góp cho Nhà nước thông qua đóng
thuế,…Nhóm này được khảo sát bao gồm: các nhân viên ngân hàng, các
nhân viên làm việc ở các Công ty Chứng Khoán, các nhân viên làm việc ở
các Cơ quan thuế…
Các số liệu được thu thập, tổng hợp và xử lý bằng phần mềm excel 2010. Từ đó
phân tích thực trạng và đề ra giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi của xã
hội về trách nhiệm của KTV trong cuộc kiểm toán BCTC tại Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu luận văn
quả này cho thấy rằng KTV dường như đã nhầm lẫn và không xác định rõ mục tiêu
cuộc kiểm toán của mình (Forter 2012, trang 10, đoạn 2).
[2] Beck (1973) đã tiến hành một cuộc khảo sát ở Úc tương tự như của Lee ở
Anh. Kết quả từ nghiên cứu của Beck là cổ đông có mâu thuẫn về tính độc lập của
KTV, đó là các cổ đông tin rằng nếu KTV sở hữu cổ phần trong công ty được kiểm
toán thì lợi ích của KTV sẽ được kết hợp chặt chẽ hơn với những lợi ích của các cổ
đông.
[3] Humphrey, Moizer và Turley (1993) đã tiến hành một cuộc khảo sát tại Anh
để điều tra ý kiến của KTV, công ty được kiểm toán và người sử dụng BCTC về
KTV và công việc mà họ thực hiện. Và cũng giống như các nghiên cứu trước đó,
kết quả nghiên cứu cho thấy rằng những ý kiến của nhóm KTV khác biệt rõ rệt với
những người là các giám đốc tài chính và những người sử dụng BCTC.
6
[4] Porter (1993) đã tiến hành một cuộc khảo sát ở New Zealand để xác định ý
kiến đến trách nhiệm của KTV hiện có theo quy định của pháp luật, các tiêu chuẩn
về sự thực hiện những trách nhiệm đó. Năm 1999, Porter và Gowthorpe (2004)
nhân rộng nghiên cứu năm 1989 của Porter ở cả New Zealand và Anh để so sánh
giữa cơ cấu, thành phần và mức độ của khoảng cách mong đợi kiểm toán ở New
Zealand và Anh 1999, hai nơi có môi trường pháp lý, văn hóa và kinh tế - xã hội
tương tự nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy người sử dụng BCTC vẫn có sự hiểu
lầm về chức năng của kiểm toán và trách nhiệm tồn tại của KTV.
[5] Hian Chye Koh và E-Sah Woo (1998) cho rằng có một sự lo ngại khi KTV
và công chúng có niềm tin khác nhau về trách nhiệm của KTV và các thông điệp
được truyền đạt bởi các báo cáo kiểm toán. Trong những năm gần đây, nhiều công
ty lớn sụp đổ đã làm cho khoảng cách mong đợi kiểm toán càng lớn. Rõ ràng, nhận
thức không hợp lý của công chúng là một nguyên nhân chính của khoảng cách này.
Và điều này phù hợp với các nghiên cứu trước về khoảng cách mong đợi kiểm toán.
sử dụng tại Barbados từ sự kiện Enron. Kết quả từ 43 người được hỏi (19 KTV và
24 người sử dụng) đã chỉ ra rằng tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán rất lớn tại
Barbados vì KTV cảm thấy rằng việc phát hiện gian lận là trách nhiệm NQL, trong
khi người sử dụng và NQL không đồng ý điều này. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng
phát hiện rằng gian lận không phải là một vấn đề lớn ở Barbados vì các công ty có
kiểm toán nội bộ, hệ thống kiểm soát hữu hiệu và hiệu quả giúp trang bị tốt để đối
phó với việc phòng chống và phát hiện gian lận.
[9] Yusuf Munir Sidani (2007) nghiên cứu xem liệu có sự tồn tại của một
khoảng cách mong đợi giữa KTV và những người không phải KTV tại Lebanon.
Kết quả cho thấy tồn tại một khoảng cách giữa hiểu biết các KTV về nghề nghiệp
của họ so với nhận thức của những người khác, đặc biệt có sự khác biệt trọng yếu
trong nhận thức về vai trò của KTV đối với việc phát hiện gian lận.
[10] Mahdi Salehi (2008) thực hiện nghiên cứu thực nghiệm để xác định khoảng
cách mong đợi về trách nhiệm của KTV giữa KTV và chủ ngân hàng ở Iran. Theo
quan điểm thực tế, các yếu tố quan trọng trong việc nâng cao sự tín nhiệm là sự
nhận thức của các cổ đông đánh giá BCTC được cung cấp bởi nhà quản lý. Trong
những năm gần đây, nhiều vụ bê bối của công ty lớn đã xảy ra, vì vậy các bên thứ
ba yêu cầu KTV phải là một thẩm phán trung thực. Các bên thứ ba mong đợi KTV
8
cần có nhiều trách nhiệm hơn nữa trong việc phát hiện gian lận. Tuy nhiên KTV thì
hiểu rằng giới hạn trách nhiệm của họ là không thể phát hiện tất cả các loại gian lận.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng có khoảng cách đáng kể giữa KTV và các
chủ ngân hàng về việc nhận thức trách nhiệm phát hiện gian lận của KTV trong
cuộc kiểm toán BCTC.
[11] Mahdi Salehi (2009) nghiên cứu về sự độc lập của KTV và khoảng cách
mong đợi kiểm toán. Độc lập là cơ sở để đảm bảo độ tin cậy của báo cáo kiểm toán.
Các nguyên nhân để giảm tính độc lập là từ sự phụ thuộc tài chính của KTV với
gian lận. Điều này là trái ngược với nhận thức và mục tiêu chính của KTV. Do đó,
tạo ra một khoảng cách mong đợi kiểm toán rất lớn tại Nigeria.
[15] Fowzia Rehana (2010) cũng nghiên cứu thực nghiệm về khoảng cách mong
đợi kiểm toán thông qua nghiên cứu vai trò của giáo dục về kiểm toán tại
Bangladesh. Khoảng cách mong đợi kiểm toán là sự khác biệt giữa những gì các
KTV thực sự làm và những gì các bên thứ ba nghĩ rằng KTV làm hoặc nên làm
trong việc thực hiện các thủ tục kiểm toán. Sự mâu thuẫn quan điểm đã được làm rõ
liên quan đến vai trò của giáo dục trong việc thu hẹp khoảng cách mong đợi kiểm
toán này. Nghiên cứu này đã được tiến hành nhằm điều tra xem liệu có bằng chứng
cho thấy việc cung cấp giáo dục về bản chất và giới hạn của kiểm toán như là một
phần trong chương trình đào tạo cử nhân kinh doanh góp phần thu hẹp khoảng cách
mong đợi kiểm toán mà nguyên nhân từ một sự hiểu lầm các quy định và mục tiêu
kiểm toán. Cũng như kết quả của các nghiên cứu trước, cho thấy rằng giáo dục về
kiểm toán có hiệu quả đáng kể trong việc thu hẹp khoảng cách mong đợi kiểm toán.
[16] Semiu Babatunde Adeyemi và Olayinka Marte Uadiale (2011) nghiên cứu
về sự tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Nigeria. Nghiên cứu cho thấy một
khoảng cách mong đợi kiểm toán tồn tại ở Nigeria, đặc biệt là các vấn đề liên quan
đến trách nhiệm KTV. Kết quả cho thấy rằng có sự khác biệt đáng kể trong nhận
thức của nhóm trả lời tạo nên khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Nigeria. Do đó,
nghiên cứu kiến nghị cần thiết phải thông tin cho công chúng về các đối tượng của
một cuộc kiểm toán, vai trò và trách nhiệm của KTV để thu hẹp khoảng cách mong
đợi kiểm toán.
10
[17] Omid Pourheydari và Mina Abousaiedi (2011) điều tra liệu có tồn tại một
khoảng cách mong đợi kiểm toán giữa KTV và người sử dụng BCTC tại Iran.
Nghiên cứu sử dụng một công cụ khảo sát để xác định khoảng cách mong đợi kiểm
toán tại Iran. Các phương pháp nghiên cứu tương tự như bởi Schelluch; Best và các
nghiên cứu này cung cấp một tập hợp các đề xuất để giúp ích cho nỗ lực chống gian
lận của nhà ban hành chuẩn mực kiểm toán và KTV.
[21] Porter (2012) đã tiến hành một cuộc khảo sát ở New Zealand và Anh trong
năm 2008 để xác định ý kiến đến trách nhiệm của KTV hiện có theo quy định của
pháp luật, các tiêu chuẩn về sự thực hiện những trách nhiệm đó và để xác định sự
hiểu biết người sử dụng BCTC về những thông điệp được chuyển tải trên báo cáo
kiểm toán. Nghiên cứu này được mở rộng từ chính nghiên cứu của Porter được thực
hiện trong năm 1999 cũng khảo sát tại New Zealand và Anh nhằm xác định và giải
thích sự khác biệt về khoảng cách mong đợi kiểm toán giữa năm 2008 và 1999 tại
đây. Kết quả của nghiên cứu là các nhóm khảo sát vẫn chưa nhận thức đúng về
trách nhiệm hiện tại của KTV và kỳ vọng KTV thực hiện thêm những trách nhiệm
mà chuẩn mực kiểm toán hiện tại chưa quy định. Điều này cho thấy tồn tại khoảng
cách mong đợi ở Anh và New Zealand. Và khoảng cách này ở New Zealand thì lớn
hơn so với Anh một cách đáng kể. Kết quả này khác so với năm 1999 khi mức độ
chênh lệch khoảng cách mong đợi kiểm toán ở hai quốc gia đã được tìm thấy cơ bản
giống nhau. Từ năm 1999 đến năm 2008, khoảng cách mong đợi ở Anh đã thu hẹp
đáng kể, trong khi đó ở New Zealand mở rộng một chút. Các kết quả nghiên cứu
cho thấy rằng sự thay đổi về khoảng cách mong đợi ở Anh và New Zealand khác
nhau là do việc giám sát hoạt động KTV và công khai cho doanh nghiệp các vấn đề
của BCTC đã kiểm toán tại Anh thì tốt hơn. Kết quả nghiên cứu còn cho thấy nội
dung của chuẩn mực về báo cáo kiểm toán thì ít tác động đến sự hiểu biết của người
sử dụng BCTC về những thông điệp được chuyển tải trên báo cáo kiểm toán.
[22] Klaus Ruhnke & Martin Schmidt (2014) phân tích nguyên nhân của khoảng
cách mong đợi kiểm toán cũng như tác động của những thay đổi đã được đề xuất
nhằm thu hẹp khoảng cách này của các nghiên cứu trước cho các Cơ quan ban hành
luật kiểm toán. Dựa trên bảng câu hỏi khảo sát được tiến hành trong năm 2011 tại
Đức, nghiên cứu phát hiện rằng công chúng đã có những mong đợi quá mức vào
trách nhiệm của KTV theo chuẩn mực hiện hành. Các nguyên nhân khác liên quan
một bằng chứng thực nghiệm liệu có tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán tại
13
Việt nam, về sự mong đợi của xã hội về trách nhiệm hiện tại của KTV trong kiểm
toán BCTC tại Việt Nam hiện nay, đánh giá kết quả thực hiện trách nhiệm của KTV
hiện nay như thế nào theo quan điểm của nguời sử dụng BCTC và có những đề xuất
nhằm thu hẹp khoảng cách mong đợi đối với trách nhiệm của KTV trong kiểm toán
BCTC tại Việt Nam.
14
Kết luận chương 1
Nghiên cứu về khoảng cách mong đợi kiểm toán là một đề tài cấp thiết và có ý
nghĩa to lớn đối với người sử dụng BCTC nói riêng và xã hội nói chung. Vì việc
nâng cao chất lượng kiểm toán hiện nay không chỉ cố gắng nâng cao năng lực của
KTV, hoàn thiện các thủ tục kiểm toán hay kiểm soát chất lượng của các công ty
kiểm toán mà còn phải tìm hiểu xem mong đợi thực tế của xã hội hiện nay như thế
nào, hợp lý hay không và họ có đánh giá tốt trách nhiệm mà KTV đã thực hiện
trong cuộc kiểm toán BCTC không, từ đó hạn chế những mong đợi không hợp lý
của các nhóm lợi ích vượt quá khả năng thực tế của KTV nhằm thu hẹp khoảng
cách mong đợi kiểm toán.
Và chủ đề này đã được rất nhiều nghiên cứu trên thế giới thực hiện, điển hình
là nghiên cứu của Porter được tiến hành từ năm 1989 tại New Zealand và mở rộng
cả Anh và New Zealand năm 1999 và 2008. Các nghiên cứu đều có một kết luận:
tồn tại khoảng cách mong đợi kiểm toán tại Anh và New Zealand mặc dù nghiên
cứu ở các năm khác nhau. Đó cũng là kết quả nghiên cứu của Best, Peter J and
Bản chất của việc lập và trình bày BCTC: việc lập và trình bày BCTC gồm các
xét đoán của BGĐ, nhiều khoản mục trên BCTC liên quan đến các quyết định hoặc
đánh giá chủ quan hoặc có mức độ không chắc chắn dẫn đến kết quả là một số
khoản mục trên BCTC có mức độ thay đổi tiềm tàng, không thể loại trừ hoàn toàn
mà chỉ có thể áp dụng các thủ tục kiểm toán bổ sung để đánh giá.
Bản chất của các thủ tục kiểm toán: khả năng thu thập bằng chứng kiểm toán
của KTV bị giới hạn về tính khả thi hoặc giới hạn pháp lý như BGĐ ĐVĐKT hoặc
đối tượng khác có thể cố ý hoặc vô ý không cung cấp đầy đủ thông tin; hành vi gian
16
lận có thể được thực hiện tinh vi và kỹ lưỡng để che dấu và KTV không được đào
tạo để làm chuyên gia xác minh chứng từ giả mạo; KTV không có quyền điều tra,
thanh tra, xét hỏi, khám xét như cuộc điều tra của cơ quan pháp luật.
Sự cân nhắc giữa thời gian và giá phí một cách hợp lý: sự thích hợp của thông
tin, giá trị của thông tin có xu hướng giảm đi theo thời gian và cần cân nhắc sự cân
đối giữa độ tin cậy của thông tin với chi phí bỏ ra để có được thông tin đó.
Theo khoản j, đoạn 13 của chuẩn mực này cũng nêu rõ trách nhiệm của BGĐ
và BQT:
Lập và trình bày BCTC phù hợp với khuôn khổ quy định;
Đảm bảo cho việc lập và trình bày BCTC không còn sai sót trọng yếu do gian
lận hoặc nhầm lẫn;
Cung cấp cho KTV đầy đủ thông tin và quyền hạn cần thiết: tiếp cận với tất cả
tài liệu có liên quan đến quá trình lập và trình bày BCTC như chứng từ kế toán, sổ
kế toán và tài liệu khác; cung cấp và giải trình những yêu cầu của KTV để phục vụ
cho mục đích của cuộc kiểm toán; quyền tiếp cận không hạn chế đối với nhân sự
của ĐVĐKT mà KTV xác định là cần thiết để thu thập bằng chứng kiểm toán.
KTV cũng có trách nhiệm trao đổi thông tin và báo cáo về một số vấn đề phát
sinh từ cuộc kiểm toán với người sử dụng BCTC, BGĐ, BQT hoặc các đối tượng
vi và tần suất của các đánh giá đó; quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận;
quan điểm về gian lận, các hoạt động kinh doanh và hành vi đạo đức. Và KTV cũng
phải phỏng vấn bộ phận kiểm toán nội bộ và các đối tượng khác để xác định xem họ
có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian
lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không, và để tìm hiểu các quan điểm của họ về
rủi ro có gian lận tại đơn vị (đoạn 17 – 19).
KTV phải tìm hiểu cách thức mà BQT thực hiện chức năng giám sát quy trình
xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị của BGĐ và kiểm soát nội bộ mà
BGĐ thiết lập để giảm thiểu các rủi ro. Sau đó, KTV phải phỏng vấn BQT để xác
định xem BQT có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận
hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không và đối với kết quả đã
phỏng vấn BGĐ xem liệu có sự phù hợp và nhất quán (đoạn 20 - 21).
Sau khi phỏng vấn và thu thập các thông tin cần thiết, KTV phải xác định và
đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ BCTC và ở cấp độ cơ sở
18
dẫn liệu của các nhóm giao dịch, số dư tài khoản và thông tin thuyết minh và có
những biện pháp xử lý phù hợp theo quy định của chuẩn mực này. Và khi KTV
khẳng định rằng BCTC có chứa đựng sai sót trọng yếu, hoặc không thể đưa ra kết
luận được rằng BCTC có chứa đựng sai sót trọng yếu do gian lận hay không thì
KTV phải đánh giá các tác động đối với cuộc kiểm toán và cân nhắc thực hiện
những công việc tiếp theo cho phù hợp:
Thu thập giải trình bằng văn bản của BGĐ và BQT ĐVĐKT về việc thừa nhận
trách nhiệm thiết lập, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ nhằm ngăn ngừa và phát
hiện gian lận; đã cung cấp cho KTV các thông tin mà họ biết về bất kỳ cáo buộc
gian lận, hoặc nghi ngờ gian lận nào có ảnh hưởng đến BCTC.
Trao đổi với Ban Giám đốc: khi đã thu thập được bằng chứng về sự tồn tại
hoặc có thể tồn tại gian lận do các nhân viên thực hiện, KTV cần trao đổi ngay với
trong đó có kiểm soát nội bộ, từ đó cung cấp cơ sở cho việc thiết kế và thực hiện
các biện pháp xử lý đối với rủi ro có sai sót trọng yếu đã được đánh giá (đoạn 03).
KTV phải thu thập hiểu biết về khách hàng và môi trường hoạt động để xác
định và hiểu các sự kiện, giao dịch và thông lệ kinh doanh của khách hàng có ảnh
hưởng trọng yếu tới BCTC, qua đó giúp xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian
lận. KTV phải tìm hiểu các thông tin sau:
Ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý.
Đặc điểm của đơn vị bao gồm lĩnh vực hoạt động; loại hình sở hữu và bộ máy
quản trị; Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và sẽ tham gia; Cơ cấu tổ chức, sản
xuất kinh doanh và quản lý và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị.
Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng.
Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà
có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu.
Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị.
Chuẩn mực này đưa ra một số phương pháp giúp KTV thu thập những hiểu
biết về đơn vị, bao gồm:
Phỏng vấn BGĐ và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo xét đoán của KTV
có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu
do gian lận.
Thực hiện thủ tục phân tích.
20
Quan sát và điều tra.
Sử dụng các thông tin thu thập được từ kinh nghiệm của các cuộc kiểm toán
trước.
Thảo luận giữa các KTV, tận dụng hiểu biết của các KTV có nhiều kinh
nghiệm và chuyên môn lâu năm về khách hàng để đánh giá khả năng BCTC của
đơn vị có dễ xảy ra sai sót trọng yếu do gian lận.