1
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn trường Cao Đẳng Công nghệ thông tin –
Đại học Đà Nẵng đã giúp em có cơ hội được thực tập, tiếp xúc trực tiếp với doanh
nghiệp, được vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế và trao đổi, tích lũy thêm
kinh nghiệm làm việc. Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến cô Đinh Nguyễn Khánh
Phương, giảng viên phụ trách hướng dẫn làm bài khóa luận của em. Cô đã giành thời
gian để hướng dẫn, giải thích cho em để em có thể hoàn thành tốt đợt thực tập cũng
như bài khóa luận này. Bên cạnh đó, xin gửi lời cảm ơn chân thành đến ban Giám đốc
Công ty du lịch Ngón Tay Việt, đặc biệt là Trưởng dự án Bùi Xuân Bích, cùng với các
anh chị nhân viên trong công ty đã tiếp nhận em vào thực tập, tạo điều kiện giúp em
trải nghiệm thực tế, học hỏi được nhiều kinh nghiệm chuyên môn. Tuy nhiên, trong
báo cáo thực tập này em còn nhiều khiếm khuyết và thiếu sót, em mong được các thầy
cô đóng góp ý kiến thêm cho em để bài khóa luận của em có thể hoàn thiện tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên thực tập
Lê Thị Mai Phương
2
Mục lục
3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
TNHH
TMĐT
Nội dung
Trang
Cơ cấu tổ chức của công ty Fivitour
Kết quả hoạt dộng kinh doanh của công ty
trong năm 2015
Trang chủ Website Fivitour.vn
Mục tìm kiếm sản phẩm
Thông tin đặt tour của Website
Hoạt động hỗ trợ trực tuyến qua Skype
Mục đóng góp ý kiến của khách hàng
Kết quả hoạt động bán hàng trực tuyến của
công ty
4
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Trong những năm gần đây, khi kinh tế Việt Nam đang hội nhập vào nền kinh tế
thế giới với một sự phát triển tương đối ổn định. Thu nhập trung bình của người dân
Việt Nam đang dần đuợc cải thiện. Với những điều kiện thuận lợi như vậy thì nhu cầu
trong tiêu dùng của người dân đang ngày càng tăng, những đòi hỏi về hình thức phục
vụ, sự tiện lợi trong mua bán cũng như thanh toán cũng được người dân Việt Nam chú
ý đến.
Đi cùng xu thế đó, bán hàng trực tuyến là một giải pháp hoàn toàn phù hợp với
những đòi hỏi mới của người tiêu dùng.Với những thế mạnh của mình, bán hàng trực
tuyến đã trở thành một hình thức bán hàng phổ biến trên thế giới. Trong khoảng hai
đến ba năm trở lại đây, bán hàng trực tuyến ở Việt Nam đã có những sự phát triển vượt
bậc, thể hiện ở chất lượng bán hàng được cải thiện, sự quan tâm đến hình thức mua
bán này của người tiêu dùng ngày càng một lớn hơn.
hành tại công ty TNHH một thành viên du lịch Ngón Tay Việt.
Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động bán hàng trực tuyến trong lĩnh vực kinh
doanh lữ hành tại công ty TNHH một thành viên du lịch Ngón Tay Việt.
1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN HÀNG TRỰC
TUYẾN VÀ KINH DOANH LỮ HÀNH
1.1. Kinh doanh lữ hành
1.1.1. Định nghĩa
Kinh doanh lữ hành (Tour Operators business) là việc thực hiện các hoạt động
nghiên cứu thị trường, thiết lập chương trình du lịch trọn gói hay từng thành phần,
quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc
văn phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch. Các doanh
nghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành. [Giáo trình
quản trị kinh doanh lữ hành, Nxb Thống kê Hà Nội, trang 4].
Nói cách khác kinh doanh lữ hành theo:
- Nghĩa rộng: Kinh doanh lữ hành là việc đầu tư để thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công việc trong quá trình chuyển giao sản phẩm từ lĩnh vực sản xuất sang lĩnh vực
tiêu dùng du lịch nhằm mục đích thu lợi nhuận. Kinh doanh lữ hành có phạm vi rất
rộng nên không thể xác định rõ loại sản phẩm của kinh doanh lữ hành.
- Nghĩa hẹp: “Kinh doanh lữ hành là việc xây dựng, bán, tổ chức thực hiện các chương
trình du lịch nhằm mục đích lợi nhuận” [Tổng cục du lịch, Thông tư 04/2001/TT TCDL]. Từ đó xác định rõ sản phẩm của kinh doanh lữ hành là chương trình du lịch.
1.1.2. Phân loại
Căn cứ vào tính chất của hoạt động tạo ra sản phẩm
•
Đại lý lữ hành: Dịch vụ trung gian đảm nhiệm chức năng bán và tiêu thụ sản
phẩm một cách độc lập, riêng lẻ cho các nhà sản xuất để hưởng hoa hồng theo
Căn cứ vào các quy định của Pháp luật Việt Nam
• Kinh doanh lữ hành quốc tế là việc xây dựng, bán và tổ chức các chương
trình du lịch cho khách du lịch quốc tế.
• Kinh doanh lữ hành nội địa là việc xây dựng, bán và tổ chức các chương
trình du lịch cho khách du lịch nội địa.
Căn cứ vào cách hiểu của các công ty du lịch lữ hành ở Việt Nam
• Chương trình du lịch quốc tế là xây dựng, bán và tổ chức các chương
trình du lịch cho khách du lịch quốc tế và chương trình du lịch nước ngoài cho khách
du lịch nội địa. Trong hình thức này ta có thể chia ra làm mảng khách là:
Chương trình outbound : Là khách nội địa và quốc tế du lịch nước ngoài.
Chương trình inbound : Là khách quốc tế du lịch nội địa.
• Chương trình du lịch nội địa là xây dựng, bán và tổ chức các chương
trình du lịch trong nước cho khách du lịch nội địa.
1.1.3. Vị trí, vai trò và chức năng
Vị trí
Kinh doanh lữ hành là trung gian thị trường du lịch vì:
• Cùng mang tính chất độc lập, bộ phận và phân tán ở một số nơi còn cầu
lại phân tán ở khắp mọi nơi. Các tài nguyên du lịch và phần lớn các cơ sở kinh doanh
du lịch như khách sạn, nhà hàng… đều không thể cung cấp những giá trị của mình đến
nơi ở của khách du lịch. Muốn có giá trị đó khách phải rời nơi ở của họ để đến với tài
nguyên, các cơ sở kinh doanh du lịch. Như vậy trong du lịch chỉ có dòng chuyển động
một chiều của cầu đến với cung, không có dòng chuyển động ngược lại.
3
• Cầu du lịch mang tính chất tổng hợp, đồng bộ cao và phân tán ở khắp
mọi nơi, trong khi mỗi đơn vị kinh doanh du lịch chỉ đáp ứng một phần của cầu du
lịch. Khi đi du lịch khách có yêu cầu về mọi thứ như ăn ngủ, vui chơi…Đối lập với
tính tổng hợp của nhu cầu thì khách sạn chủ yếu đáp ứng nhu cầu ăn, ở, các công ty
4
• Chức năng thực hiện
• Chức năng tổ chức
1.2. Cơ sở lý luận về hoạt động bán hàng
1.2.1. Khái niệm về bán hàng
Bán hàng là một quá trình trong đó người bán tìm hiểu, khám phá, gợi tạo và
đáp ứng nhu cầu của người mua, để cả hai bên nhận được quyền lợi thỏa đáng.
Theo quan niệm cổ điển: Bán hàng là hoạt động thực hiện sự trao đổi sản phẩm hay
dịch vụ của người bán chuyển cho người mua để được nhận lại từ người mua tiền, vật
phẩm hoăc giá trị trao đổi đã thỏa thuận”
Theo quan điểm hiện đại thì:
Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh đó là sự gặp gỡ của người bán và người
mua ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nếu cuộc gặp gỡ
thành công trong cuộc đàm phán về việc trao đổi sản phẩm. Bán hàng là 1 phần của
tiến trình mà doanh nghiệp thuyết phục khách hàng mua hàng hóa dịch vụ của họ.
1.2.2. Vai trò của bán hàng
− Bán hàng giúp cho hàng hóa được lưu chuyển từ nhà sản xuất đến người tiêu
dùng.
− Bán hàng còn đóng vai trò lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế.
− Bán hàng giúp cho luân chuyển hàng hóa từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu.
− Bán hàng mang về lợi ích cho cả người mua lẫn người bán. Với người mua lợi
ích của họ là có được sản phầm, còn với người bán lợi ích của họ là đó là lợi
nhuận từ kinh doanh
1.2.3. Phân loại bán hàng
− Căn cứ theo địa điểm bán hàng: Bán hàng lưu động và bán hàng bán hàng tại
cửa hàng, quầy hàng.
− Căn cứ theo quy mô bán: Bán sỉ và bán lẻ.
− Căn cứ theo sự sở hữu hàng hóa: Bán hàng tự sản tự tiêu, bán hàng mua lại, bán
hàng qua trung gian môi giới, đại lý.
1.2.2. Các loại hình giao dịch trong Thương mại điện tử
Dựa vào chủ thể của thương mại điện tử, có thể phân chia thương mại điện tử ra
các loại hình phổ biến như sau:
B2C (Business – Consumer)
Doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử để bán hàng hóa và dịch vụ tới
người tiêu dùng; người tiêu dùng thông qua các phương tiện điện tử để lựa chọn, mặc
cả, đặt hàng, thanh toán và nhận hàng. Mô hình B2C chủ yếu là mô hình bán lẻ qua
mạng như www.Amazon.com, qua đó doanh nghiệp thường thiết lập Website, hình
thành cơ sở dữ liệu về hàng hóa, dịch vụ, tiến hành các quy trình tiếp thị, quảng cáo và
phân phối trực tiếp tới người tiêu dùng. Thương mại điện tử B2C đem lại lợi ích cho
cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng: Doanh nghiệp tiết kiệm nhiều chi phí bán hàng
do không cần phòng trưng bày hay thuê người giới thiệu bán hàng, chi phí quản lý
cũng giảm hơn. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy thuận tiện vì không phải tới tận cửa
hàng, ngồi ở bất cứ nơi đâu, bất cứ khi nào cũng có khả năng lựa chọn và so sánh
nhiều mặt hàng cùng một lúc, cũng như tiến hành việc mua hàng. Hiện nay, số lượng
giao dịch theo mô hình Thương mại điện tử B2C rất là lớn, tuy nhiên thì giá trị giao
dịch từ hoạt động này chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng giá trị thương mại điện tử ngày nay,
7
chiếm khoảng 5%. Trong tương lai Thương mại điện tử theo mô hình B2C sẽ còn phát
triển nhanh hơn nữa. Mô hình Thương mại điện tử B2C còn được gọi dưới cái tên khác
đó là bán hàng trực tuyến (E-tailing).
B2B (Business to Business):
B2B là loại hình giao dịch qua các phương tiện điện tử giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp. Các giao dịch B2B chủ yếu được thực hiện trên các hệ thống ứng dụng
Thương mại điện tử như mạng giá trị gia tăng VAN, SCM, các sàn giao dịch Thương
mại điện tử B2B (emarketplaces)... Các doanh nghiệp có thể chào hàng, tìm kiếm bạn
hàng, đặt hàng, ký kết hợp đồng, thanh toán qua các hệ thống này. Ở mức độ cao, các
thuế cá nhân qua mạng, trả phí đăng ký hồ sơ,...
1.3.3. Thanh toán trong Thương mại điện tử
Các hình thức thanh toán trong Thương mại điện tử
1.3.3.1. Thanh toán bằng thẻ tín dụng
Thanh toán bằng thẻ tín dụng hiện đang là phương thức thanh toán phổ biến
nhất của các giao dịch thương mại điện tử; phương thức thanh toán này hiện đang
chiếm tới 90% tổng các món giao dịch cũng như doanh số bán hàng. Ưu điểm lớn nhất
của việc thanh toán bằng thẻ tín dụng đối với người mua hàng là được tiếp cận với
thông tin về sản phẩm, dịch vụ và người bán hàng một cách nhanh nhất. Việc chấp
nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, giúp cho Website bán hàng nhanh chóng xây dựng
được niềm tin trong tâm trí của khách hàng tiềm năng; nâng cao được doanh thu nhờ
việc tạo điều kiện mua hàng thuận lợi cho khách.
Với một chương trình thanh toán tự động thông qua thẻ tín dụng, người mua
cũng như người bán hàng trong giao dịch thương mại điện tử sẽ giảm thiểu được thời
gian và chi phí để xử lý séc khống, các đơn đặt hàng và các công việc liên quan đến
lưu trữ chứng từ giấy.
Tuy nhiên để được chấp nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng, người bán hàng trên
trực tuyến trên Internet cần phải ký kết với một đối tác cung cấp dịch vụ thanh toán thẻ
(Merchant Account), và trang bị phần mềm, phần cứng cần thiết để có thể chấp nhận
thanh toán bằng thẻ tín dụng trên web site bán hàng của mình.
1.3.3.2. Thanh toán bằng thẻ ghi nợ
Khi sử dụng phương thức thanh toán bằng thẻ ghi nợ, tiền trong tài khoản của
người mua ngay lập tức sẽ được rút ra sau khi giao dịch được ấn định. Thuận lợi đối
với người bán, họ có thể biết người mua có tiền để mua hàng thực sự hay không. Còn
đối với người mua, việc thanh toán sẽ được thực hiện ngay lập tức cho từng giao dịch,
vì vậy họ sẽ tránh được những “cú sốc” thẻ tín dụng khi ngân hàng gửi các bản kê đến.
Tuy nhiên, để thực hiện thanh toán theo phương pháp này, trước tiên người bán
cần phải liên hệ với các nhà cung cấp Merchant Account để mình có thể chấp nhận
thanh toán bằng hình thức này không? Hiện tại việc thanh toán bằng thẻ ghi nợ vẫn
chưa thực sự phổ biến, hơn nữa khách hàng vẫn muốn tự bảo vệ mình bằng cách hạn
Quá trình xử lý séc trực tuyến cũng giống như séc thông thường, chính vì vậy
người bán hàng cần phải đợi đến khi séc được chuyển đến ngân hàng và phải được
chứng nhận chắc chắn rằng những tấm séc đó có giá trị.
Việc áp dụng phương pháp này sẽ giúp người bán hàng giảm được chi phí giao dịch
nhưng nó lại tốn kém về mặt nhân công và thời gian.
-
Trung tâm giao dịch: Đối với người mua, việc sử dụng trung tâm
giao dịch cũng giống như việc áp dụng phương pháp “Print and
Pay”, bởi vì trong cả hai phương pháp, họ đều phải nhập tất cả
các thông tin trên séc vào form trực tuyến. Những thông tin đó sẽ
10
được mã hoá và chuyển trực tiếp tới ngân hàng và sẽ được xử lý
trong vòng 48 giờ. Sau đó, toàn bộ số tiền của giao dịch sẽ được
chuyển từ tài khoản của người mua sang tài khoản của người bán.
Kèm theo đó, là một “báo có” trực tuyến vào tài khoản của người
bán và một “báo nợ” được gửi bằng Email cho người mua.
Phương pháp này nhanh hơn phương pháp “Print and Pay” bởi vì tất cả các
thông tin cần thiết của khách hàng sẽ được nhập trực tiếp trên mạng ngay khi giao dịch
đang được thực hiện, và những tấm séc đó luôn được đảm bảo có giá trị.
Ngoài việc cho phép người bán hàng chấp nhận thanh toán trực tuyến, cả hai
phương pháp trên còn cho phép người bán hàng thanh toán qua điện thoại hoặc fax, vì
khi đó họ có thể kiểm tra các thông tin của người mua, sau đó người bán có thể tự
nhập thông tin đó vào.
Tuy nhiên, riêng đối với phương pháp “Print and Pay”, trước khi người bán
quyết định sử dụng phương pháp này, cần phải chắc chắn rằng ngân hàng của mình sẽ
chấp nhận loại séc này và hãy tìm kiếm nếu như người bán cần mua bất kỳ một loại
•
SMS banking
1.4. Cơ sở lý luận về bán hàng trực tuyến
1.4.1. Định nghĩa bán hàng trực tuyến
Bán hàng trực tuyến bao gồm các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch
vụ theo một chu trình khép kín trên các Website, tất cả các hoạt động từ lựa chọn hàng
hóa đến thanh toán và giao hàng đều được thực hiện thông qua Internet.
• Các bên mua, bán không phải biết nhau và cũng không cần phải giao dịch trực
tiếp với nhau.
• Các hoạt động bán hàng trực tuyến được thực hiện trên phạm vi toàn cầu.
• Tất cả các hoạt động bán hàng trực tuyến đều phải thông qua mạng Internet và
gần như mạng Internet cũng chính là thị trường hoạt động của bán hàng trực tuyến, nó
cung cấp tất cả các thông tin cần thiết cho bán hàng trực tuyến.
Nhìn chung, các hoạt động bán hàng trực tuyến hầu hết được thực hiện trên
Internet, nhưng cũng có thể được điều khiển trong mạng riêng, như các mạng gia tăng
giá trị, mạng khu vực địa phương, hoặc một máy móc độc lập được vi tính hóa hay
thông qua các mạng điện tử viễn thông khác như mạng thông tin di động…
1.4.2. Quản trị quy trình bán hàng trực tuyến
Quy trình bán hàng trực tuyến được tính kể từ khi khách hàng gửi yêu cầu mua
sản phẩm đến máy chủ của nhà cung cấp đến khi nhận được sản phẩm. Ta có thể chia
làm 9 bước:
• Bước 1: Khách hàng (Người mua) sau khi lựa chọn sản phẩm trên Website và
quyết định mua sản phẩm đó, sẽ điền thông tin cần thiết có liên quan tới hàng hóa
được mua và gửi cho nhà cung cấp.
• Bước 2: Doanh nghiệp nhận được yêu cầu mua hàng hóa hay dịch vụ của khách
hàng thì phản hồi xác nhận, tóm tắt lại những thông tin cần thiết như: mặt hàng đã
chọn, địa chỉ giao nhận và số phiếu đặt hàng…
trong chất lượng sản phẩm mà còn trong cả quá trình thanh toán trực tuyến, bởi hình
thức thanh toán trực tuyến vẫn chưa tạo ra sự tin tưởng ở phía mua hàng trực tuyến,
đặc biệt là khi đặt trong môi trường Thương mại điện tử phát triển chưa cao ở Việt
Nam.
1.4.3. Công cụ hỗ trợ bán hàng trực tuyến
13
Bán hàng trực tuyến đang ngày càng nở rộ cùng với sự phát triển và hoàn thiện
của hệ thống thương mại điện tử và các phương thức phục vụ bán hàng. Đi cùng với
đó là sự ra đời của các công cụ Marketing Online giúp thu hút thêm các khách hàng
tiềm năng, quảng bá thương hiệu và tăng thêm cơ hội bán hàng hiệu quả hơn. Hiện
nay, có rất nhiều các công cụ đáp ứng việc bán hàng trực tuyến được các cửa hàng,
doanh nghiệp sử dụng. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp chưa thực sự nắm được vai
trò, tầm quan trọng và hiệu quả mà các công cụ này mang lại trong việc bán hàng
trực tuyến.
Website bán hàng
Công cụ đầu tiên phải kể đến đó chính là Website bán hàng, đây được xem là
xương sống của ngành Thương mại điện tử hiện nay đồng thời Website chính là nền
tảng giúp các doanh nghiệp bắt đầu hoạt động bán hàng trên Internet và thu hút khách
hàng. Ưu điểm của thiết kế Website bán hàng đó chính là giúp tiếp cận khách hàng
mọi lúc, mọi nơi cùng với tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp và tiết kiệm chi phí.
Công cụ này phù hợp với mọi doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh trực tuyến hiện
nay.
Để có thể phát huy hiệu quả của Website bán hàng, các cửa hàng, doanh nghiệp
cần thiết kế Website có giao diện đẹp mắt, thân thiện với bố cục hợp lý, phù hợp với
ngành nghề kinh doanh, tính năng đầy đủ và thân thiện với người dùng. Bên cạnh đó
Website còn phải cung cấp thông tin cụ thể, tốc độ tải trang nhanh, tối ưu hóa cho
công cụ tìm kiếm và hiển thị tốt trên mọi màn hình thiết bị, trong đó có các thiết bị di
với khách hàng và quảng bá thương hiệu nhanh chóng. Hiện nay có một số mạng xã
hội phổ biến được các cửa hàng, doanh nghiệp khai thác sử dụng cho việc bán hàng
online như Google+, Pinterest, Instagram, Youtube, Zalo và đặc biệt phải kể Facebook
với số lượng người dùng lên tới 30 triệu người. Tuy nhiên mạng xã hội thường thích
hợp với các dòng sản phẩm bán lẻ như thời trang, sản phẩm làm đẹp, đồ chơi công
nghệ, thực phẩm hoặc tour du lịch và các khóa học đồng thời hướng tới đối tượng
khách hàng trẻ.
Để có thể xây dựng chiến lược bán hàng hiệu quả trên mạng xã hội, các cửa
hàng, doanh nghiệp cần chú trọng vào việc phát triển nội dung thu hút khách hàng
tiềm năng đồng thời quảng bá đúng đến khách hàng mục tiêu, thường xuyên đăng nội
dung và tạo tương tác đối với người dùng.
Quảng cáo trực tuyến
Các hình thức quảng cáo trực tuyến như Google Adwords hay quảng cáo
Facebook là công cụ Marketing Online đang được rất nhiều cửa hàng, doanh nghiệp sử
dụng. Các loại quảng cáo này giúp tiếp cận các khách hàng tiềm năng một cách nhanh
chóng và nâng cao quảng bá thương hiệu. Nó thích hợp với các chiến dịch khuyến
mại, giảm giá hoặc sự kiện tuy nhiên các doanh nghiệp phải trả chi phí cho các lượt
15
tương tác với quảng cáo.
Muốn đạt được hiệu quả cao khi sử dụng công cụ quảng cáo trực tuyến, các cửa
hàng, doanh nghiệp cần đưa ra thông điệp thu hút khách hàng, tăng lượng tương tác
của khách hàng với quảng cáo và hướng tới tỷ lệ chuyển đổi mua hàng đồng thời phải
quảng cáo đúng đến đối tượng khách hàng đang tìm kiếm hoặc quan tâm đến sản
phẩm, dịch vụ của bạn.
SMS Marketing
Trong thời buổi người dùng sử dụng các thiết bị di động như điện thoại thông
minh hay máy tính bảng ngày càng tăng lên thì SMS Marketing được đánh giá là công
mạng lưới bán hàng trực tuyến dựa trên tỷ lệ hoa hồng dành cho cộng tác viên hoặc đại
lý bán hàng trực tuyến.
1.4.4. Rủi ro và phòng tránh rủi ro trong bán hàng trực tuyến
Thương mại điện tử là một hoạt động kinh doanh mang lại hiệu quả cao, song
một khi gặp rủi ro thì những thiệt hại đối với các doanh nghiệp kinh doanh trên mạng
cũng không nhỏ.
Những sơ suất trong kỹ thuật của nhân viên như sự nhầm lẫn khi truyền dữ liệu,
hay một động tác nhấp “chuột” vô tình… đều có thể làm cho toàn bộ dữ liệu của một
thương vụ đang giao dịch bị xoá bỏ, hoặc những chương trình và những tệp dữ liệu
đang lưu trữ mà doanh nghiệp dầy công thiết kế và xây dựng bị mất, gây thiệt hại nặng
nề cho các doanh nghiệp về mặt tài chính.
Những yếu tố khách quan như máy hỏng hay thời tiết xấu, nghẽn máy… có thể
làm tê liệt hoạt động của doanh nghiệp, hoặc tệ hại hơn là virút xâm nhập phá huỷ, đảo
lộn toàn bộ cơ sở dữ liệu về khách hàng, đối tác, thị trường… được lưu giữ hay ăn cắp
những thông tin tuyệt mật có thể làm mất đi cơ hội kinh doanh hoặc làm suy giảm
nghiêm trọng uy tín của doanh nghiệp.
Các biện pháp phòng tránh rủi ro trong thương mại điện tử có nhiều, song có thể
khái quát thành những biện pháp cơ bản, phổ biến sau đây:
•
Mã hoá dữ liệu
-
Mã hoá khoá bí mật (Secret key Crytography): Mã hoá khoá bí mật hay
còn gọi là mã hoá đối xứng, nghĩa là dùng một khoá cho cả hai quá trình
“mã hoá” và “giải mã”. Khoá này phải được giữ bí mật.
-
Mã hoá công khai (Public key Crytography): Mã hoá công khai hay còn
mại điện tử, các bên tham gia không gặp mặt trực tiếp nhau và đôi khi không quen biết
nhau nên rất cần có sự đảm bảo của người thứ 3.
Hệ thống bảo mật hiện nay đảm bảo độ an toàn rất cao, gần như là tuyệt đối, song việc
thực hiện phụ thuộc vào trình độ cũng như thực trạng cơ sở hạ tầng tin học của các
bên.
• Kiểm tra tính đúng đắn và chân thực của thông tin trong giao dịch
Mặc dù đã sử dụng những biện pháp kỹ thuật để bảo mật thông tin trong giao
dịch, song khi nhận được các thông tin người sử dụng vẫn phải kiểm tra tính đúng đắn,
chân thật của thông tin.
Giao dịch trên mạng là loại hình giao dịch không biên giới có tính chất toàn
cầu. Các bên giao dịch không gặp nhau, thậm chí không hề quen biết nhau, và đây
cũng chính là cơ hội để cho kẻ xấu lợi dụng để thực hiện mục đích của mình. Vì vậy,
việc kiểm tra tính đúng đắn và chân thật của thông tin trong giao dịch cần phải được
thực hiện thường xuyên để phòng tránh những rủi ro như thông tin gây nhiễu, giả mạo
hay lừa đảo. Các biện pháp kiểm tra cần tuỳ theo tình huống cụ thể mà áp dụng. Có thể
dùng các phương pháp kỹ thuật hoặc phương pháp điều tra mang tính xã hội…
•
Lưu trữ dữ liệu nhiều nơi với nhiều hình thức
Để đề phòng những rủi ro hiểm hoạ do thiên tai, sự cố bất ngờ hay những hành
động chiến tranh khủng bố… thì việc lưu trữ dữ liệu trong Thương mại điện tử ở nhiều
18
nơi với nhiều hình thức là việc làm rất có ý nghĩa. Việc làm này tạo sự an toàn và liên
tục trong hoạt động kinh doanh trên mạng.
thị trường một loại dịch vụ bảo hiểm mới là “Bảo hiểm Internet – Internet insurance”
cũng ở ngay trên mạng Internet.
Mặc dù chưa phải là đầy đủ, song những biện pháp nêu trên là các bước cơ bản
để phòng ngừa và hạn chế những rủi ro tổn thất có thể gặp phải trong quá trình kinh
doanh trên mạng của các doanh nghiệp.
20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BÁN HÀNG TRỰC TUYẾN
TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH LỮ HÀNH TẠI CÔNG TY TNHH MỘT
THÀNH VIÊN DU LỊCH NGÓN TAY VIỆT.
2.1. Đặc điểm, tình hình kinh doanh tại công ty TNHHMTV Ngón Tay Việt
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Tên công ty viết bằng tiếng Việt: Công Ty TNHH Một Thành Viên Du Lịch
Ngón Tay Việt
Tên công ty viết bằng tiếng nước ngoài: FIVITOUR CO., LTD
Mã số doanh nghiệp: 0401632246
Ngày cấp mã DN: 14/11/2014 | Ngày bắt đầu hoạt động: 17/11/2014
Trạng thái: Đang hoạt động
Địa chỉ trụ sở: 171 Nguyễn Văn Thoại, Phường An Hải Đông, Quận Sơn
Trà, Đà Nẵng
Website: Fivitour.vn
Điện thoại: 05113627333
E-mail:
Chủ doanh nghiệp: Võ Thúy An
Giám đốc: Võ Thúy An
Các loại hình du lịch: Nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch của khách hàng trong và
ngoài nước, công ty có các loại hình du lịch chính như sau:
Lữ hành: Tổ chức tour du lịch