TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
=====o0o=====
TRẦN THỊ LOAN
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
TRONG TẬP NHỮNG TRUYỆN HAY
VIẾT CHO THIẾU NHI MA VĂN KHÁNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học thiếu nhi
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Dương Thị Thúy Hằng
HÀ NỘI, 2016
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Dương Thị Thúy Hằng ‐ người đã
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã quan tâm
động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù đã nỗ lực cố gắng song do thời gian không nhiều, năng lực bản
thân có hạn nên khóa luận chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Kính mong nhận được
sự lượng thứ và góp ý chân thành của các thầy cô giáo và các bạn để được học
hỏi và rút kinh nghiệm cho những công trình sau.
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
Sinh viên
Trần Thị Loan
1.2.1. Tác giả Ma Văn Kháng....................................................................... 6
1.2.2. Tập “Những truyện hay viết cho thiếu nhi - Ma Văn Kháng” ............. 8
CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TẬP “NHỮNG TRUYỆN HAY VIẾT CHO
THIẾU NHI - MA VĂN KHÁNG” .................................................................. 10
2.1. Nhân vật trẻ em ...................................................................................... 10
2.1.1. Những đứa trẻ nghèo khó, bất hạnh.................................................. 10
2.1.2. Những đứa trẻ giàu mơ ước và lòng nhân hậu.................................. 23
2.2. Nhân vật người lớn ................................................................................. 26
2.2.1. Nhân vật người lớn chất phác, giàu lòng vị tha ................................ 27
2.2.2. Nhân vật người lớn bị tha hóa .......................................................... 35
Chương 3.......................................................................................................... 43
MỘT SỐ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT TRONG TẬP
“NHỮNG TRUYỆN HAY VIẾT CHO THIẾU NHI - MA VĂN KHÁNG” ... 43
3.1. Miêu tả ngoại hình.................................................................................. 43
3.2. Ngôn ngữ ............................................................................................... 45
3.2.1. Ngôn ngữ phong phú, đa dạng.......................................................... 46
3.2.2. Ngôn ngữ đời thường, giản dị ........................................................... 48
3.2.3. Ngôn ngữ giàu chất thơ, giàu hình ảnh............................................. 51
3.3. Giọng điệu .............................................................................................. 54
3.3.1. Giọng điệu nhẹ nhàng ...................................................................... 54
3.3.2. Giọng điệu triết lí ............................................................................. 56
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 62
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1 Văn học những năm đầu thập niên 80 có những dấu hiệu đổi mới từ
Văn Kháng viết cho thiếu nhi. Cuốn sách gồm 12 truyện với những cái tên thú vị
như: Khu vườn tuổi thơ; Ông Pồn và chú hổ con; Con chó lạc nhà, Hoa gạo đỏ;
Ông nội cổ giả và quê mùa; Giấc mơ của bà nội; Đồng cỏ nở hoa; Kiểm - Chú
bé - Con người; Giéc, con dân làng Mai; Buổi bình minh huyền thoại; Bà ngồi ở
góc nhà; Quê nội. Tất cả những truyện ngắn này được chọn lọc từ hơn 200
truyện ngắn của Ma Văn Kháng xoay quanh những nhân vật là trẻ em hoặc
những nhân vật, sự việc về thế giới tuổi thơ. Tập trung vào hai mảng hiện thực
lớn ở miền núi và đô thị, thế giới nhân vật trong Những truyện hay viết cho thiếu
nhi của ông rất phong phú và đa dạng… Từ những đứa trẻ nghèo khó, bất hạnh
đến những đứa trẻ giàu mơ ước và lòng nhân hậu, từ những con người chất phác,
giàu lòng vị tha, đến những con người bị tha hóa và ngay cả đến nhân vật loài
vật cũng hiện lên thật sinh động, chất phác, mộc mạc được phân tích một cách
cặn kẽ, tỉ mỉ. Cuốn sách như những trang nhật ký về tuổi thơ, về cuộc sống của
tác giả. Ẩn sau những câu chuyện, những nhân vật là tấm lòng yêu thương, chia
sẻ của tác giả đối với những số phận, những mảnh đời bất hạnh.
Với tất cả những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài Thế giới nhân vật trong
tập Những truyện hay viết cho thiếu nhi - Ma Văn Kháng để nghiên cứu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ma Văn Kháng là một trong những nhà văn lớn có đóng góp đáng kể
trong công cuộc đổi mới văn xuôi đương đại. Con người và những sáng tác của
ông có sức hút kỳ lạ không chỉ với các nhà văn mà còn đối với giới nghiên cứu
phê bình. Từ lâu đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài phê bình, nhận xét
về truyện ngắn của ông.
Trong công trình nghiên cứu Truyện ngắn Ma văn Kháng và vấn đề thức
tỉnh tinh thần con người vùng cao, Đào Thủy Nguyên có viết: “Tác giả đi sâu
vào nghiên cứu khẳng định một cách đầy thuyết phục những vấn đề nhân sinh,
thế sự, những thành công đặc sắc về nghệ thuật xây dựng nhân vật và sử dụng
ngôn từ trong truyện ngắn viết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma văn kháng”
[9]. Tác giả Nguyễn Nguyên Thanh trong bài viết Ngày đẹp trời -tính dự báo về
những tình thế xã hội (Báo Văn nghệ số 21 ngày 23/5/1987) khẳng định: “Ma
mới chỉ rải. Chưa có công trình nghiên cứu nào tập trung tìm hiểu về tập truyện
này. Trên cơ sở đó chúng tôi đã quyệt định lựa chọn đề tài “Thế giới nhân vật
trong tập Những truyện hay viết cho thiếu nhi - Ma Văn Kháng”.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Khóa luận tìm hiểu về tập truyện Những truyện hay viết cho thiếu nhi của
Ma Văn Kháng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi khóa luận, chúng tôi tập trung vào Thế giới nhân vật trong
tập Những truyện hay viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận hướng tới mục đích tìm hiểu sâu về thế giới nhân vật qua các
câu truyện mang những nét đặc trưng và màu sắc riêng trong tập truyện.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng những phương pháp như: phương pháp thống kê,
phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu...
6. Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, khóa luận được
triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Giới thuyết chung.
Chương 2: Đặc điểm thế giới nhân vật trong tập “Những truyện hay viết
cho thiếu nhi - Ma Văn Kháng”.
Chương 3: Một số thủ pháp nghệ thuật xây dựng nhân vật cơ bản trong
tập “Những truyện hay viết cho thiếu nhi - Ma Văn Kháng”.
4
Chí Phèo, Lão Hạc còn khi nhắc tới Tô Hoài người ta lại nghĩ tới Dế Mèn, A phủ,
Mị... Nhân vật trong tác phẩm văn học có vai trò rất quan trọng. Nhân vật chính là
nơi mang, chứa đựng nội dung phản ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm là nơi kí
5
thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn. Nhân vật là đứa con tinh
thần của nhà văn. Chính ví thế, thành công trong công cuộc xây dựng nhân vật
chính là thành công của tác phẩm văn học.
1.2. Tác giả Ma Văn Kháng và tập “Những truyện hay viết cho thiếu nhi Ma Văn Kháng”
1.2.1. Tác giả Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng tên thật là Đinh Trọng Đoàn, sinh ngày 1/12/1936, tại làng
Kim Liên, Kẻ Chợ nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây
là vùng đất chân lấm, tay bùn, nghèo khổ, lam lũ kiếm sống bằng mấy nghề vặt
như nhuộm vải, cắt tóc dạo, buôn bán lặt vặt ở ven thành “Đồng Lầm”.
Từ tuổi thiếu niên, Đinh Trọng Đoàn đã tham gia quân đội và được cử đi
học ở khu học xá Nam Ninh (Trung Quốc). Năm 1954, sau khi tốt nghiệp sư
phạm trung cấp ông được cử về tiếp quản thủ đô nhưng ông từ chối và xin về
dạy học ở Lào Cai với lí do “muốn viết văn thành ra dám liều mạng lên miền
biên ải một phen xem sao”. Đây là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông. Ông
về dạy cấp II và bắt đầu xung phong tham gia nhiều hoạt động. Năm 1960, Đinh
Trọng Toàn được cử về học tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Sự nhiệt huyết
với nghề đã thúc đẩy ông không ngừng học hỏi và trau dồi kinh nghiệm. Tốt
nghiệp năm 1964 ông lại xin về Lào Cai để dạy cấp III và làm hiệu trưởng của
trường rồi chuyển sang làm thư ký cho đồng chí Bí thư tỉnh ủy.
Ma Văn Kháng là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1959 và là
hội viên hội Nhà văn Việt Nam từ 1974. Bút danh Ma Văn Kháng bắt nguồn từ
câu chuyện đặc biệt của ông. Năm 1964, Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội,
Ban chấp hành, Tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài của Hội Nhà văn Việt
Nam... Khi “an cư” cũng là thời gian ông viết được nhiều nhất và thăng hoa nhất.
Nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này đã trở thành những dấu ấn không thể
mờ phai trong nền văn xuôi hiện đại. Tiểu thuyết đầu tay Gió rừng (1976) ra đời
như một sự khởi đầu cho một trang mới về cuộc đời của ông. Ma Văn Kháng
dần khẳng định vị thế của mình trên văn đàn cũng như trong lòng người đọc khi
tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xòe (1978) ra đời. Trong giai đoạn đầu, tiểu
thuyết của ông vẫn tập trung viết về đề tài miền núi. Đến 1982 khi tiểu thuyết
Mưa mùa hạ ra đời như một dấu mốc khai sáng trong sự nghiệp văn chương của
ông. Giai đoạn này, tiểu thuyết của ông đã có sự thay đổi rõ rệt về đề tài, về tư
duy nghệ thuật, từ đề tài dân tộc miền núi với cảm hứng sử thi chuyển sang đề
7
tài thành thị với cảm hứng thế sự đời tư. Sau đó một loạt các tiểu thuyết có giá trị
ra đời như Vùng biên ải (1983), Mùa lá rụng trong vườn (1985), Đám cưới
không có giấy giá thú (1989), Côi cút giữa cảnh đời (1989), ... Gần đây trong hai
năm từ năm 2010-2011, ông vừa cho ra mắt độc giả liên tiếp ba cuốn tiểu thuyết:
Một mình một ngựa, Bóng đêm và Bến bờ và năm 2013 ông có tiểu thuyết
Chuyện của Lý.
Suốt 50 năm miệt mài cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã để lại dấu ấn
riêng biệt trong tâm trí nhiều thế hệ độc giả. Ở thế hệ của ông, ông là một trong số
những nhà văn có tốc độ viết nhiều nhất, ông luôn tranh thủ từng giây khắc của
cuộc đời để cần mẫn gieo trồng trên cánh đồng chữ nghĩa. Gia tài văn chương của
ông đến nay có khoảng hơn 200 truyện ngắn, 17 cuốn tiểu thuyết, một cuốn hồi
ký, một tập bút ký - tiểu luận phê bình và hầu hết đều đã được xuất bản.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Ma Văn Kháng đã nhận được rất
nhiều giải thưởng quan trọng, điều đó khẳng định tài năng và vị trí của ông trong
nền văn học nước nhà. Truyện ngắn Xa phủ đoạt giải nhì của tuần báo văn nghệ
mong ước được vẽ và những bức tranh của mình được trân trọng... Từ những con
người chất phác, giàu lòng vị tha như Lí A Lừ; Ông nội cổ giả, quê mùa; bà nội
của Tuấn, Tú; bác Lan, họa sĩ Phan; vợ chồng chú Tư; bà nội của Giéc; bà nội của
Tèo, Tuất, Hải, Hồng; bà nội của Thía và Thủy Tiên... đến những con người bị tha
hóa như anh em Mẹo, Mộc; bố mẹ của Bống; dì ghẻ của Kiểm; ba của Thủy
Tiên... Ngay cả đến nhân vật loài vật chú hổ con, con chó lạc nhà cũng hiện lên
thật sinh động, chất phác, mộc mạc. Với một giọng văn tha thiết tác giả đã đi qua
một vài nhân vật mang âm hưởng của những số phận nhiều lo toan, vất vả, nhọc
nhằn, có hoàn cảnh éo le và chịu nhiều thiệt thòi. Nhưng đó cũng là những con
người có nhiều phẩm chất tốt đẹp mà nổi bật hơn cả là lòng nhân hậu, sự can đảm
và ý chí kiên cường.Sau mỗi câu truyện đều có năm viết như một cuốn nhật ký về
cuộc sống, về số phận con người mà Ma Văn Kháng được gặp, được chứng kiến.
Dòng nhật ký của ông như lời tâm sự muốn gửi gắm tình cảm sẻ chia, thông cảm
của mình tới những con người, những số phận đau thương.
Những truyện hay viết cho thiếu nhi của Ma Văn Kháng ngày càng được
nhiều bạn đọc đón nhận không chỉ bởi thế giới nhân vật phong phú mà còn bởi
giá trị nhân văn sâu sắc, đặc biệt với thế hệ trẻ. Nó đóng góp khá nhiều cho nền
văn học thiếu nhi nước nhà.
9
Chương 2
CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TẬP “NHỮNG TRUYỆN HAY VIẾT
CHO THIẾU NHI - MA VĂN KHÁNG”
Với Ma Văn Kháng, thế giới nhân vật trong truyện ngắn của ông được lấy
từ cảm hứng cuộc sống, cảm hứng đời thường, cảm hứng sự thật. Các nhân vật
của ông hiện thân cho hiện thực cuộc sống với những hoàn cảnh éo le, phức tạp.
Đặc biệt với truyện ngắn viết cho thiếu nhi, ông đã rất thành công và khéo léo
khi xây dựng một hệ thống nhân vật rất đa dạng và phong phú ở nhiều thế hệ: từ
một ăn bảy. “Thấy con gái vẽ nhiều, giấy bút, mầu mè bừa bộn, lắm khi mẹ Bống
quát tháo mắng mỏ ầm ĩ, coi như mày vẽ vời vô tích sự. Còn bố Bống thì cứ tiện
tay là vơ hết tranh vẽ của con gái, để làm giấy nhóm lò rang cơm mỗi sáng” [6,
tr.93]. Những lúc như thế, cô bé lại ngồi khóc vì buồn, vì tủi thân. Nỗi bất hạnh
của cô bé không phải là mồ côi cha mẹ mà là thiếu vắng sự quan tâm, sự yêu
thương và thấu hiểu của cha mẹ. Có lẽ, cha mẹ của em nghĩ em còn nhỏ chưa
hiểu gì, chưa biết gì. Họ đâu biết rằng dù là một đứa trẻ nhưng em có một tâm
hồn rất nhạy cảm, chân thật. Điều này được thể hiện qua chính những nét vẽ của
cô bé khi em vẽ chân dung của cha mẹ mình “Bố Lít nó ra bố Lít nó, cái mặt
hoằm hoặp, cái mũi cà chua, cái mồm thổi lửa. Cũng vậy, mẹ Phít nó cũng cẳng
lẫn được với ai, cái mặt tròn như đồng xu, trắng phau phau với hai con mắt lá
dăm, cái mũi tin hin và cái cằm lẹm một nét vát dài” [6, tr.92]. Những nét vẽ của
cô về cha mẹ mình là những gì em được thấy, được chứng kiến và tiếp xúc hàng
ngày. Dù cuộc sống như vậy, nhưng cô bé không hề bị mất đi sự hồn nhiên, ngây
thơ của một đứa trẻ:
“- Sao dưới bụng con gà mái mẹ lại có một hàng chấm chấm?
- Dạ! Đó là tí của nó ạ. Không có tí, gà con bú mẹ sao được ạ.
- Thế con chuột nhắt đứng cạnh cái vòng tròn có hai chóp nhọn là cái
gì?
- Dạ! Là lưng con mèo ạ. Ý cháu là... hỡi tên chuột kia, mi hãy giờ hồn,
11
mèo chưa quay đầu lại đâu!
- Khá lắm! Thế hai người dắt tay nhau đi trong bức tranh này là những
ai? Sao một người thì to đùng, còn một người thì bé tí và đen thui như
than thế?
- Thưa ông, người to là mẹ cháu. Người bé và đen thui là bố cháu
- Sao bố cháu lại bé tí và đen thui thế?
Có cha mẹ nào lại không muốn con mình học giỏi, đỗ đạt thành tài, có đứa trẻ
nào lại không có đam mê và mơ ước. Cô bé Đinh Minh Yên trở thành sinh viên
đại học và từ đây mở ra một trang mới mở ra trong cuộc đời đầy sóng gió của
em. Năm đầu em được nhận học bổng toàn phần, được nhiều bạn bè quý mến,
kết thân. Những tưởng số phận đã mỉm cười với em, thế nhưng thói đời không
thể lường trước được bạn bè dần xa lánh em. Nhờ học tập năng khiếu của em
phát triển thành tài năng hội họa thực sự và bạn bè đố kỵ với tài năng của em.
Dù vậy với niềm đam mê, sự khao khát, cô bé vượt qua nỗi đau này và tiếp tục
vẽ, chấp nhận ít dần những người bạn. Suốt bốn năm đại học em luôn phấn đấu
dành những thành tích cao và khi ra trường nhờ bác Lan xin cho làm ở phòng
hành chính - trị sự báo Văn hóa Thành phố. Hai tháng qua đi Bống vẫn chưa kí
được hợp đồng và sóng gió lại ập đến, em đã nghỉ việc.
“Bống vụt đứng dậy, mếu xệch miệng, khóc òa:
- Các người có hiểu cho tôi không? Cái người đàn bà mặc áo thổ cẩm
đó là cai ngục! Là kẻ giam hãm, đọa đày tôi. Đến ngủ mê tôi cũng thấy
cái mặt lưỡi cày nanh ác của mụ. Các người có biết hôm qua mụ ấy
nói với tôi thế nào không? Mụ ấy nghiến răng kèn kẹt chỉ tay vào mặt
tôi, rủa: “Con kia! Tao căm thù mày! Mày là đứa cướp cơm chim của
tao. Chỗ của mày lẽ ra là của con tao. Tháng này nó tốt ngiệp trường
Mĩ thuật Công nghiệp. Tao đã dấm sẵn chỗ cho nó. Vậy mà mày đến
tranh phần của nó! Tao phải vạch vôi vào cái mặt bất lương của
mày!” [6, tr.106].
Thì ra suốt mấy tháng qua cô bé đã phải chịu đựng sự đay nghiến, trù dập
của bà trưởng phòng mà không ai biết. Công việc hàng ngày chỉ rửa ấm chén và
13
quét nhà, không được vẽ hay làm gì liên quan đến nghệ thuật. Em biết tâm sự
với ai khi mà chính cha mẹ mình, những người thân yêu nhất của em còn không
tưởng xấu. Cô bé đã chép của ai? Và cái ý tưởng đó xấu ở chỗ nào? Có một lời
giải thích nào thỏa đáng không? Tội nghiệp cho cô bé khi không thể chứng minh
sự trong sạch của mình, không biết tâm sự, chia sẻ cùng ai. Em lại chịu đựng
một mình và nén nỗi đau trong lòng để rồi niềm khát khao được vẽ của em lại
rực cháy lên. Không giờ giấc, chẳng ngày đêm, như bị thiêu đốt trong khát vọng
được biến tất cả thành hình hài, màu sắc, trong trạng thái phẫn thì phát, dâng trào
cảm xúc. Sau ba hôm đóng chặt cửa buồng im ỉm, cô bé đã hoàn thành bức tranh
để đời của mình với biết bao tâm trạng đan xen lẫn lộn, với sự khát khao mơ
ước. Bức tranh Cánh đồng hoa hiện ra như một giấc mơ. Nó tươi mát, thánh
thiện đến lạ thường như chính cô bé. Có lẽ những cay đắng, bất hạnh của cô bé
hòa tan vào cánh đồng hoa đó và nó đã qua đi như một giấc mơ. Và bức tranh đó
là minh chứng khẳng định tài năng của cô bé. Dù cuộc đời em có biết bao sóng
gió, đau khổ, tủi nhục nhưng niềm đam mê vẽ, khát khao được vẽ không bao giờ
dập tắt. Tài năng của em là sức mạnh chiến thắng mọi thứ, là bất diệt. Câu
chuyện khép lại với lời hứa hẹn công việc tương lai của Bống là thay thế họa sĩ
Phan trong đoàn cải lương. Hi vọng nó sẽ đem lại cho cô bé nhiều may mắn và
phát huy được tài năng của em.
Với Bống nỗi bất hạnh của em là tài năng bị vùi dập, bị kìm hãm bởi
chính cha mẹ mình, bởi những người đố kỵ xung quanh em thì chú bé Kiểm
trong chuyện Kiểm - chú bé - con người lại có một nỗi bất hạnh khác. Kiểm là
một chú bé mới khoảng mười bốn tuổi, hiền lành, ngoan ngoãn, tốt bụng nhưng
lại phải sống trong sự ghẻ lạnh của dì ghẻ, sự đày đọa của hai em cùng cha khác
mẹ. Có câu:
“Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng”.
Không phải tự nhiên mà ông cha ta lại nghĩ ra được những câu ca dao tục
ngữ như thế. Đã có rất nhiều người sống trong cảnh như thế và chú bé Kiểm là
một trong những trường hợp đó. Qua những lời tâm sự của chú bé với vợ chồng
làm: “Bác ạ, cháu ấy mà, cháu không độc ác được đâu. Thật đấy, bác ạ. Thấy
người tàn tật cháu thương lắm. Đi tàu điện lần nào có tiền cháu cũng cho bố con
ông xẩm mù. Một bận, cháu cho hai mẹ con người đến ăn xin hai bát cơm, dì
16
cháu dộng đầu cháu vào tường sưng vếu lên đấy. Hôm nọ đi ra ga, một bà cụ
gánh gạo nặng quá, cháu gánh hộ bà cụ. Tới ga, bà cụ cho cháu mười đồng,
cháu nhất định không lấy. Mình phải biết thương người chứ, bác nhỉ?” [6,
tr.116]. Cậu bé thấy vui khi mình làm được nhiều việc tốt, thích thú khi kể cho
người khác nghe. Bản chất trong con người cậu bé là sự lương thiện, luôn đồng
cảm, thương xót cho những hoàn cảnh khó khăn. Còn mụ dì ghẻ thật quá đáng
không một lời khen ngợi còn đánh phạt cậu bé, mụ đúng là không có lương tâm.
Dù sống trong cảnh chịu sự tra tấn cả về thể xác lẫn tinh thần của dì ghẻ nhưng
Kiểm vẫn là một đứa trẻ lanh lợi, suy nghĩ chín chắn. Cậu biết rất nhiều chuyện
đời, biết nhiều thủ đoạn, mánh khóe, tệ lậu trong xã hội. Dù bị vùi dập và dồn
vào cảnh sống thiếu thốn cả vật chất lẫn tình cảm, cậu bé vẫn giữ được một
khoảng cách, chưa đồng hóa với cái xấu, chưa bị tha hóa.
Không chỉ bị dì ghẻ hành hạ, cậu bé còn bị hai em cùng cha khác mẹ đày
đọa, đành hanh ghê người, quái ác, bịa tạc đổ tội lên đầu khiến cậu phải chịu đòn
oan của dì ghẻ. Theo thói thường, cậu bé Kiểm phải căm ghét chúng. Nhưng cậu
bé lại chẳng thể ghét chúng vì cậu bế chúng từ lúc chúng đỏ hỏn giặt giũ, tắm
rửa, quấy bột, bón cơm cho chúng ăn. Cậu chăm sóc chúng như một người mẹ và
có lẽ còn hơn cả mẹ chúng chăm sóc chúng. Cậu chỉ mong chúng lớn lên, khỏe
mạnh, yêu thương nhau và yêu thương cả cậu nữa. Câu nói của cậu bé: “Cháu
mà lấy vợ thì hai vợ chồng cháu sẽ yêu thương nhau suốt đời, hai bác ạ”
[6,tr.122] khiến người ta không khỏi xót xa và nhói trong lòng. Thì ra trong tâm
tư của cậu bé luôn mong muốn về một gia đình hạnh phúc, bố mẹ, con cái không
phải chia lìa nhau. Cậu bé đã bất hạnh khi sống với người bố nhu nhược, mẹ con
cơn tai biến của người ruột thịt. Cậu bé quả thật là người có tấm lòng nhân hậu.
Mỗi số phận, mỗi hoàn cảnh, chú bé Kiểm không những phải chịu sự khó
khăn, thiếu thốn về vật chất, về tinh thần mà còn chịu nỗi đau về thể xác, thiếu
cảm gia đình. Nhưng lòng lương thiện trong em vẫn không hề bị phai nhạt mà
còn thể hiện mạnh mẽ hơn ở chính tình cảj em dành cho mọi người, đặc biệt là
với những người đối xử tệ bạc với em. Một thứ tình cảm chân thực mà không
phải đứa trẻ nào trog hoàn cảnh như em mà vẫn có được.
Cậu bé Giéc trong chuyện Giéc, con dân làng Mai có một hoàn cảnh thật
18
đặc biệt. Cậu là con lai, mẹ Việt - bố Tây, năm tuổi cậu về Việt Nam sống với bà
ngoại. Hình ảnh đầu tiên khi về của cậu là “tóc nâu, mũi cao, nhưng còm nhom
như con mèo hen”. Cậu nói tiếng Việt rất sõi và nhanh chóng hòa đồng với mọi
người, có lẽ vì mang một nửa dòng máu Việt. Sự ngây thơ, trong sáng của em
khiến người lớn phải xót xa: “Mẹ cháu bảo mẹ cháu ghét bố cháu nên ứ cho bố
cháu về Việt Nam với bà, bà ạ... Bà ơi cháu là người Việt Nam chứ không phải
lai Tây bà nhỉ” [6, tr.143]. Câu nói đáng yêu của cậu bé ẩn chứa biết bao khát
khao, mong ước mình cũng bình thường như bao đứa trẻ khác, cũng được đón
nhận tình yêu thương của mọi người. Và cũng như bao đứa trẻ khác “Ngủ nó sờ
tai, ôm tay bà, bắt bà kể chuyện cổ tích, theo bà đi chợ, đi thăm hàng xóm láng
giềng, nó nhong nhong trên lưng bà, thích nghe bà hát ru” [6, tr.143]. Cậu mới
chỉ năm tuổi, cũng nũng nịu bà như mọi đứ trẻ, cũng muốn chứng tỏ cậu như bao
đứa trẻ Việt khác. Sự thay đổi về vóc hình của cậu bé đã chứng minh điều đó.
Ngủ đầy giấc, ăn khỏe dù chỉ là rau dưa, cháo hến, canh cua, tép rang, cá kho.
Chưa đầy ba tháng mà mặt Giéc tròn phính, ngực sườn đầy lên, chân tay phổng
phao, có ngấn ở mỗi khớp. Tình yêu thương của bà, của đất và nước, của cội
nguồn giúp cậu bé như được thổi hơi vào. Nhưng ngoài vẻ ngây thơ, hồn nhiên,
khờ khạo đến hoang sơ của cậu bé, đôi lúc vẫn thấp thoáng nỗi đăm chiêu bí ẩn
cộng đồng.
Một trận ốm ập đến Giéc, cậu sốt mê man lảm nhảm suốt đêm: “Trong
cơn mê, nó đòi đi tàu bay, nó đòi ăn kem, ăn chè đậu vãi. Co rúm người lại, nó
kêu hức hức rồi rên rỉ: “Ứ ừ con mèo đen cụt đuôi đâu” rồi gọi mẹ liên tục” [6,
tr.148]. Thì ra sâu thẳm trong con người cậu bé vẫn luôn thường trực những ký
ức đẹp đẽ về tuổi thơ. Cậu vẫn thích đi tàu bay, thích ăn kem, ăn chè đậu vãi, vẫn
sợ con mèo đen cụt đuôi, vẫn là một đứa trẻ đáng yêu. Thì ra cậu vẫn giữ trong
lòng tậm sự trong lòng sâu kín của một đứa trẻ. Thật buồn thương thay cho số
phận của cậu bé đang chịu cảnh sống xa mẹ, hàng ngày, hàng đêm vẫn mong
ngóng được gặp mẹ. Dù được bà yêu thương hết mực nhưng cậu bé thiệt thòi
hơn những đứa trẻ khác rất nhiều vì không được sống cùng bố mẹ, thiếu thốn
tình cảm yêu của bố mẹ. Có một nỗi ấm ức nghẹn ứ trong lòng cậu bé đang khao
20