NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN CHUYỂN HOÁ Ở NGUỜI TĂNG HUYẾT ÁP TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ - TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 41

Header Page 1 of 16.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

CHU HỒNG THẮNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGUỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

THÁI NGUYÊN - 2008

Footer Page 1 of 16.


Header Page 2 of 16.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

CHU HỒNG THẮNG

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG
BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP VÀ RỐI LOẠN
CHUYỂN HOÁ Ở NGƯỜI TĂNG HUYẾT ÁP
TẠI XÃ HOÁ THƯỢNG HUYỆN ĐỒNG HỶ TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành Nội khoa
Mã số: 60 72 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Chu Hồng Thắng

Footer Page 3 of 16.


Header Page 4 of 16.
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BMI

Body Mass Index (chỉ số khối cơ thể)

BMMNB

Bệnh mạch máu ngoại biên

CCVC

Công chức viên chức

Cre

Creatinin

CT

Cholesterol toàn phần

DTH

Dịch tễ học

ISH

International Society of hypertention
(Hội tăng huyết áp quốc tế)

JNC

Join National Committee
(Uỷ ban phòng chống tăng huyết áp Hoa Kỳ)

KTHA

Không tăng huyết áp

NaCl

Natri clorua

NST

Nhiễm sắc thể

PTTH

Phổ thông trung học

TBMMN

Tai biến mạch máu não



1

Chƣơng 1. TỔNG QUAN

3

1.1.Định nghĩa và phân loại bệnh THA

3

1.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh THA

4

1.3. Biểu hiện của bệnh THA

9

1.4. Tổn thương cơ quan đích có thể gặp trong THA

10

1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh tăng huyết

11

áp ở một số nước trên Thế giới
1.6. Nghiên cứu bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam



2.6. Kỹ thuật thu thập số liệu

26

2.7. Xử lý số liệu

33

Chƣơng 3. KẾT QUẢ

34

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu xã Hóa Thượng

34

3.2. Thực trạng về bệnh THA

36

3.3. Một số rối loạn chuyển hoá và yếu tố liên quan với bệnh THA

41

Chƣơng 4. BÀN LUẬN

49

4.1. Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Header Page 6 of 16.

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt
Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây
tàn phế và tử vong hàng đầu ở người cao tuổi. Trong số các trường hợp mắc
bệnh và tử vong do tim mạch hàng năm có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do
THA [53].
Tỷ lệ bệnh THA rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở các
nước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển. Bệnh THA gây
nhiều biến chứng nguy hiểm như: tai biến mạch máu não, suy tim, suy mạch
vành, suy thận... phải điều trị lâu dài, cần sử dụng thuốc và phương tiện kỹ thuật
đắt tiền. Chính vì thế, bệnh THA không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc
sống của bản thân người mắc bệnh, mà còn là gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THA
chiếm khoảng 10% - 15% dân số và ước tính đến 2025 là 29%. Tại Hoa Kỳ,
hàng năm chi phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [53].
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Tim mạch
tại thành phố Hà Nội năm 2001-2002, tỷ lệ THA ở người lớn là 23,2%, cao gần
ngang hàng với các nước trên thế giới [25]. Tỷ lệ THA trong các nghiên cứu về
dịch tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25% [53]. Một số nghiên cứu mới đây
cho thấy tỷ lệ THA người lớn (trên 25 tuổi) ở một số vùng Việt Nam đã lên đến
33,3% [18]. Bệnh THA còn liên quan đến một số rối loạn chuyển hoá glucose
máu, lipid máu... Các rối loạn chuyển hoá này vừa là nguyên nhân gây THA vừa
là hậu quả của THA và như vậy khi bị THA bệnh ngày càng nặng lên nhanh
chóng và tử vong do các biến chứng tại tim, não, thận. Đây là vòng xoắn bệnh lý
mà chúng ta cần quan tâm.



Footer Page
7 of
16.
Số hóa bởi
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 8 of 16.

3

Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp
1.1.1. Định nghĩa THA
Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được gọi là THA khi HA tối
đa, HA tâm thu (HATT) ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu, HA tâm trương
(HATTr) ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có ít nhất 2
lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [3], [8], [69].
Đây không phải tình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều
nguyên nhân, các triệu chứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau.
THA cũng là yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch
máu não, bệnh mạch vành...
1.1.2. Phân loại THA
Phân loại THA có nhiều thay đổi trong những năm gần đây. Theo
WHO/ISH (năm 2003) chia lại THA làm 3 độ [8], [17], [20], [69]:

Footer Page
8 of
16.
Số hóa bởi
Trung
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 9 of 16.

4

Bảng 1.2. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII (năm 2003)
HuyÕt ¸p (mmHg)
Ph©n ®é THA
T©m thu

T©m tr-¬ng


120 – 129

80 – 84

HA b×nh th-êng cao

130 – 139

85 – 89

THA ®é 1 (nhÑ)

140 – 159

90 – 99

THA ®é 2 (trung b×nh)

160 – 179

100 – 109

THA ®é 3 (nÆng)

 180

 110

THA t©m thu ®¬n ®éc


thng ng mch ngoi vi v ng mch thn b co tht, lm tng sc cn ngoi
vi li hu qu cui cựng l THA ng mch [8].
Sơ đồ cơ chế bệnh sinh THA do tăng hoạt động thần kinh giao cảm và tăng
cung l-ợng tim [41]:
Tăng hoạt động
thần kinh giao cảm

Tăng cung
l-ợng tim

Tăng huyết áp hệ
thống động mạch

Co thắt động mạch
ngoại vi

- Tỏc dng co mch ca adrenalin v noradrenalin: hai cht ny do tu
thng thn bi tit ra, khi h giao cm b kớch thớch. Adrenalin cú tỏc dng co
mch di da nhng li lm gión mch vnh, mch nóo, mch c võn nờn ch
lm THA ti a. Noradrenalin lm co mch ton thõn nờn lm tng c HA ti a
v HA ti thiu [22].
- Vai trũ ca h RAA: Renin - Angiotensin - Aldosteron [8], [41].
Renin l enzym c t bo ca t chc cnh cu thn v mt s t chc
khỏc tit ra khi cú yu t kớch thớch. Yu t kớch thớch tit renin l nng mui
trong huyt tng v kớch thớch th th ca adrenecgic. Khi renin c tit ra
s chuyn 2 globulin (c tng hp t gan) gi l angiotensinogen thnh
angiotensin I (l peptid cú 10 acid amin), theo mỏu n tun hon phi c

Footer Page
10Trung

năng sinh lý là điều hoà huyết áp, hạ canxi máu, tăng canxi niệu khi chất này bị
ức chế hoặc thiếu gây THA.
- Vai trò của natri trong cơ chế bệnh sinh của THA: natri có vai trò trong
bệnh THA cả trên thực nghiệm và trong điều trị. Trong điều kiện bình thường các
hormon và thận sẽ hiệp đồng để thải natri làm cho lượng natri trong máu ổn
định. Hiện tượng ứ natri xảy ra khi lượng natri sẽ tăng giữ nước, hệ thống mạch
sẽ tăng nhạy cảm với angiotensin và noradrenalin [41].

Footer Page
11Trung
of 16.
Số hóa bởi
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 12 of 16.

7

Hệ thống cạnh tiểu cầu thận (và
một số các tổ chức khác)

Angiotensinogen
(2 globulin do gan sản xuất)

Renin
Angiotensin I
Converting anzyme

Header Page 13 of 16.

8

1.2.2. THA thứ phát
Bệnh nhân THA có nguyên nhân rõ ràng như:
- Bệnh thận ở nhu mô thận đều có thể gây THA thứ phát. Cơ chế gây THA
do thận liên quan đến thể tích lòng mạch hoặc tăng hoạt động renin - angiotensin
- aldosteron, giảm sản xuất chất giãn mạch cần thiết (có thể là prostaglandin
hoặc bradykinin) giảm bất hoạt các chất giãn mạch hoặc kém thải trừ natri nên
natri bị giữ lại làm THA [36].
- THA do dị dạng động mạch thận: có khoảng 75% bệnh nhân hẹp động
mạch thận là do xơ vữa đặc biệt là bệnh nhân lớn tuổi, 25% còn lại do dị dạng
xuất phát từ lớp cơ (thường gặp ở đối tượng trẻ tuổi). THA do bệnh mạch thận là
do giảm tưới máu nhu mô thận, do hẹp nhánh chính hoặc nhánh phụ động mạch
thận dẫn đến hoạt hoá hệ R.A.A, angiotensin II được giải phóng gây co mạch
trực tiếp [41].
- U tuỷ thượng thận là nguyên nhân hiếm gặp gây THA (chiếm tỷ lệ 1 - 2%
THA). Là khối u tế bào ưa crôm sản xuất và phóng thích ra lượng lớn
catecholamin (norepinephrine hoặc epinephrin hoặc cả hai) [36].
- Do cường aldosteron và hội chứng cushing: Hậu quả angiotensin II kích
thích làm tăng aldosteron gây giữ natri bằng cách kích thích sự trao đổi natri và
kali ở ống thận gây giữ nước làm tăng thể tích tuần hoàn gây THA. Cường
aldosteron có thể do khối u hoặc quá sản vỏ thượng thận hai bên [41]. Cường
aldosteron tiên phát chiếm 0,3% tổng số bệnh nhân THA.
- Hẹp eo động mạch chủ: Chiếm khoảng 7% bệnh nhân tim bẩm sinh.
Đường kính động mạch chủ có thể bị nhỏ hoặc bị thắt ở trên bất kỳ vị trí nào của
động mạch nhưng hay gặp nhất ở đoạn dưới nơi xuất phát của động mạch dưới
đòn trái. Trong hẹp eo động mạch chủ gây THA ở chi trên trong khi lại hạ HA ở
chi dưới, HA ở chi trên cao hơn HA ở chi dưới  30 mmHg [36].

* Đo HA là động tác quan trọng nhất có ý nghĩa chẩn đoán xác định.
Phương pháp korotkoff dùng huyết áp kế thủy ngân hoặc các loại huyết áp kế
khác được chuẩn lại 6 tháng 1 lần. Số đo HA được đánh giá theo tiêu chuẩn của
Hội Tim mạch học Việt Nam như sau:
Tại phòng khám: Khi bệnh nhân có trị số HA  140/90mmHg. Sau khám lại
lâm sàng ít nhất 2 hoặc 3 lần khác nhau. Mỗi lần khám được đo ít nhất 2 lần [17].
Tại nhà khi đo nhiều lần đúng phương pháp THA có trị số HA >135/85
mmHg.
- Các dấu hiệu lâm sàng khác: Bệnh nhân có thể béo phì, mặt tròn, cơ chi
trên phát triển hơn cơ chi dưới trong hẹp eo động mạch chủ. Tìm các biểu hiện
vữa xơ động mạch trên da (u vàng, u mỡ…).

Footer Page
14Trung
of 16.
Số hóa bởi
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 15 of 16.

10

- Khám tim phổi có thể phát hiện sớm dày thất trái hay dấu hiệu suy tim
trái. Sờ và nghe động mạch để phát hiện các trường hợp nghẽn hay tắc động
mạch cảnh.
- Khám bụng có thể phát hiện tiếng thổi tâm thu hai bên rốn, trong hẹp
động mạch thận, phồng động mạch chủ hoặc phát hiện thận to, thận đa nang.



Header Page 16 of 16.

11

Về cận lâm sàng có các biểu hiện sớm trên điện tâm đồ như: thiếu máu cơ tim,
blook nhánh phải hoàn toàn, blook nhánh phải không hoàn toàn, tăng gánh thất
trái, ngoại tâm thu thất, dày thất trái…
- Não: Tai biến mạch máu não thường gặp như: nhũn não, xuất huyết não
có thể tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề. Có thể chỉ gặp tai biến mạch máu
não thoáng qua với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc
bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội
[12].
- Thận:
+ Vữa xơ động mạch thận sớm và nhanh.
+ Xơ thận gây suy thận dần dần.
+ Hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính.
+ Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ renin và
angiotensin II trong máu tăng gây cường aldosteron thứ phát.
- Mạch máu: THA là yếu tố gây vữa xơ động mạch [65], phồng động
mạch chủ.
- Mắt: Soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt. Theo Keith-Wagener
Barker có 4 giai đoạn tổn thương đáy mắt [8]:
+ Giai đoạn I: Tiểu động mạch cứng và bóng
+ Giai đoạn II: Tiểu động mạch hẹp có dấu hiệu bắt chéo tĩnh mạch
(dấu hiệu Salus Gunn)
+ Giai đoạn III: Xuất huyết và xuất tiết võng mạc nhưng chưa có phù gai thị
+ Giai đoạn IV: Phù lan toả gai thị
1.5. Tình hình bệnh tăng huyết áp và các nghiên cứu bệnh THA ở một số

tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [57].
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới về bệnh THA ở
người trưởng thành: tại Canada (1995) tỷ lệ THA là 22%, Mêhicô (1998) 19,4%;
Tây Ban Nha (1996) 30%; Cu Ba (1998) 44%; Trung Quốc (2001) 27%; Thái
Lan (2001) 20,5%; Singapore (1998) 26,6%; Châu Phi (2007) 21,3% [60]. Một
nghiên cứu ở Brasil, với nhóm tuổi từ 20 đến 69 tuổi có tỷ lệ THA là 23,6% [56].
Kiểm soát huyết áp có hiệu quả cũng làm giảm tỷ lệ tử vong và biến
chứng của các bệnh tim mạch. Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc
trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40%. Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số
đo huyết áp tâm thu 6,3 mmHg so với nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích
cực, hơn nữa nhóm chứng không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo
HA thêm 4,8 mmHg. Các mô hình như bệnh nhân tự theo dõi HA, nhân viên y
tế theo dõi phải được xây dựng và đánh giá thêm. Giáo dục truyền thống trực

Footer Page
17Trung
of 16.
Số hóa bởi
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 18 of 16.

13

tiếp cho người bệnh hoặc thầy thuốc đơn thuần không có tác dụng đáng kể trong
việc làm giảm số đo HA ở bệnh nhân THA.
Phân tích tổng hợp khác trên các thử nghiệm phòng tiên phát bệnh mạch

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 19 of 16.

14

Năm 1999, theo điều tra của Phạm Gia Khải và cộng sự, tỷ lệ THA là
16,05% [23]. Năm 2002, theo điều tra của Viện Tim mạch trung ương, tỷ lệ
THA là 23,2% [26].
Theo số liệu điều tra y tế quốc gia năm 2001 - 2002 của Việt Nam, tỷ lệ
tăng huyết áp ở nam giới từ 16 tuổi trở lên là 15,1% và nữ giới là 13,5% [4].
Điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam về tần suất THA và các yếu tố
nguy cơ tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam năm 2001 - 2002 (trên 5012 người) cho
thấy tần suất THA ở người trưởng thành là 16,5%; trong đó THA độ 1, độ 2, độ
3 lần lượt là 10,2%; 4,2% và 1,9%. Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm
11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (đưa HA về bình thường) chỉ chiếm 19,1%
[26]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm: tuổi cao, giới nam, chỉ số khối cơ thể tăng,
béo bụng, chỉ số vòng bụng/vòng mông tăng, rối loạn đường máu, rối loạn mỡ
máu, uống nhiều rượu, tiền sử gia đình huyết thống trực hệ có người THA. Yếu
tố liên quan mạnh nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì. Tỷ lệ người dân
hiểu biết đúng tất cả các yếu tố nguy cơ chỉ chiếm 23% (18,8% nông thôn so với
29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các yếu tố nguy cơ chiếm hơn 1/3
dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [26].
Theo điều tra mới nhất một nghiên cứu của Trường Đại học Y- Dược Thái
Nguyên, cho thấy tỷ lệ THA ở vùng nông thôn Thái Nguyên cũng rất cao chiếm
tỷ lệ 33,3% (đối với đối tượng từ 18 tuổi trở lên) [18].
THA và các yếu tố nguy cơ (nhất là các yếu tố lối sống, vốn có thể thay
đổi được) đã trở thành vấn đề cần giải quyết không những chỉ bằng thuốc điều
trị kiểm soát HA, mà cần hàng loạt các biện pháp giáo dục truyền thông sức

nhân tăng huyết áp [10].
Năm 1976, Berghen và cộng sự cũng nhận thấy sự gia tăng insulin khi đói
và sau khi uống 100g glucose ở bệnh nhân THA chưa điều trị. Năm 1987,
Ferranini và cộng sự lần đầu tiên đã chứng minh ở người trẻ bị tăng huyết áp
chưa điều trị với trọng lượng và sự dung nạp glucose bình thường có sự kháng
insulin ở mô ngoại biên và liên quan đến mức độ tăng huyết áp. Năm 1988, Shen
và cộng sự so sánh sự đáp ứng glucose, insulin ở người huyết áp bình thường
với người bệnh tăng huyết áp chưa điều trị và tăng huyết áp được điều trị. Kết
quả cho thấy ở các bệnh nhân THA này có tình trạng kháng insulin [trích dẫn 5].
Người ta đã dễ dàng nhận thấy một tỷ lệ đáng kể các bệnh nhân tăng
huyết áp có kháng insulin và tăng insulin máu, nhưng cũng chưa chắc đây là
quan hệ nhân quả. Sự kháng insulin hay gặp ở những bệnh nhân đái tháo đường
typ 2 hoặc béo phì. Hai bệnh này gặp nhiều trong những người bị tăng huyết áp
hơn những người có huyết áp bình thường. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã

Footer Page
20Trung
of 16.
Số hóa bởi
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 21 of 16.

16

chứng minh rằng tăng insulin máu và kháng insulin có cả ở những bệnh nhân:
THA, gầy và không bị đái tháo đường [23].

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 22 of 16.

17

1.7.2. Rối loạn lipid máu
Được gọi là rối loạn lipid máu khi có rối loạn một hoặc nhiều thành phần
sau: tăng cholesterol toàn phần, tăng triglycerid, tăng LDL-C, giảm HDL-C,
giảm apoprotein AI, tăng apoprotein B [11].
Chẩn đoán rối loạn lipid máu khi:
- Cholesterol toàn phần:

> 5,2 mmol/l

- Triglycerid :

> 2,3 mmol/l

- HDL- C:

< 0,9 mmol/l

- LDL- C:

> 3,12 mmol/l.

Nghiên cứu về các mức lipid máu ở những trường hợp THA không có tai
biến. Một phân tích lượng lipid máu tại chỗ trên 3182 bệnh nhân không bị đái

Năm 1998, ở Việt Nam nghiên cứu trên 118 bệnh nhân bị bệnh tim mạch
cho thấy cholesterol tăng trong 44% bệnh nhân nhồi máu cơ tim, 51,9% số bệnh
nhân tăng huyết áp, triglycerid tăng trong 24% và 40,4%, apoprotein B tăng
trong 92% và 75%, HDL- C giảm trong 68% và 67,3%, apoprotein AI giảm
trong 80% và 71,1% [11]. Nghiên cứu 144 bệnh nhân tăng huyết áp cho thấy:
khi xét nghiệm sinh hoá lipid máu: 37,2% có tăng cholesterol máu; 25% tăng
triglycerid máu; 33,6% có giảm HDL-C [33].
1.7.3. Béo phì
Béo phì là hậu quả của tình trạng mất cân bằng năng lượng, trong đó năng
lượng ăn vào vượt quá năng lượng tiêu hao trong một thời gian dài. Béo phì
ngày càng phổ biến ở trên thế giới, cũng như ở Việt Nam. Hiện nay số người
mắc béo phì trên toàn cầu đã vượt quá 250 triệu, chiếm 7% dân số người trưởng
thành trên thế giới. Các nước ở Đông Âu, Tây Âu, Bắc Mỹ, Nam Mỹ tỷ lệ béo
phì đã lên trên 20%. Ở các nước phát triển tỷ lệ người béo phì cũng đang có xu
hướng tăng nhanh. Ở Việt Nam tỷ lệ thừa cân (BMI ≥ 23) ở nam giới trưởng
thành là 10,1% và ở nữ giới trưởng thành là 13,2% [3].
Béo phì rất có hại cho tim mạch vì hay dẫn đến THA và xơ vữa động
mạch, cuối cùng dẫn đến rút ngắn tuổi thọ rõ rệt. Nhiều nghiên cứu cho thấy
béo phì có tương quan thuận với huyết áp. Tỷ lệ THA tăng theo mức độ béo phì,
tỷ lệ THA tăng dần theo mức độ thừa cân ở cả nam và nữ giới. Người béo phì độ
II có tỷ lệ THA từ 33% - 39% so với người tiền béo phì tỷ lệ THA chiếm 17% - 24% [26].
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7610 người tại Hà Nội từ tháng 4/1998
đến tháng 4/1999 thấy chỉ số BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09 
2,72. Nhóm BMI từ 22 trở lên đã có nguy cơ THA [23].
Tại Nam Phi, tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố: trọng
lượng, chiều cao, vòng mông và vòng bụng tới THA (điều tra trên 431 sinh viên)

Footer Page
23Trung
of 16.

đồng thời còn có nhiều lợi ích khác như giảm tỷ lệ mắc đái tháo đường, hạ lipid máu...
1.7.4. Thói quen hút thuốc lá
Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất. Trong đó có hơn 200 loại hoá
chất có hại cho sức khoẻ. Nicotin là chất có trong thuốc lá. Nicotin được hấp thụ
qua da, niêm mạc miệng, mũi hoặc hít vào phổi. Khi hút một điếu thuốc, người
hút đưa vào cơ thể từ 1 đến 2 mg nicotin. Nicotin có tác dụng chủ yếu làm co
mạch ngoại biên, làm tăng nồng độ serotonin, catecholamin ở não, tuyến thượng

Footer Page
24Trung
of 16.
Số hóa bởi
tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

http://www.lrc-tnu.edu.vn


Header Page 25 of 16.

20

thận làm THA [3]. Hút một điếu thuốc lá, HA tâm thu có thể tăng lên tới 11
mmHg, HA tâm trương tăng lên đến 9 mmHg, kéo dài 20 – 30 phút. Hút thuốc
nhiều có thể có cơn THA kịch phát [12]. Một nghiên cứu trên công nhân viên
nhà máy thuốc lá, nơi chịu đựng bụi và khói thuốc lá nhiều thấy tỷ lệ bệnh THA
cao hơn rõ rệt [26].
Monocit carbon (khí CO) có nồng độ cao trong khói thuốc và được hấp
thụ vào máu, nó gắn với hemoglobin với lực mạnh hơn 20 lần so với ô xy [3], do
đó làm giảm lượng ô xy chuyển đến các bộ phận trong cơ thể, gây thiếu máu và
góp phần hình thành các mảng vữa xơ động mạch. Vì vậy, hút thuốc lá là một


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status