luận văn thạc sĩ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại công ty cổ phần bê tông hà thanh - Pdf 41

1

1

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan toàn bộ nội dung luận văn: “Nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bê tông Hà Thanh” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, các số liệu trích dẫn trung thực. Luận văn không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu khác.
Hà Nội, ngày

tháng năm 2015

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Thu Hương

1


2

2

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Thương Mại đã tận
tâm giảng dạy, truyền đạt những kiến thức quý báu cho tôi trong suốt thời gian học
tập tại trường.Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đăng Nam đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.Xin được
cám ơn Ban lãnh đạo và nhân viên Công ty Cổ Phần Bê Tông Hà Thanh đã hỗ trợ
cung cấp số liệu, đóng góp ý tưởng cho luận văn này.


SXKD

: Sản xuất kinh doanh

TSCĐ

: Tài sản cố định

VCĐ

: Vốn cố định

VLĐ

: Vốn lưu động

TSLĐ

: Tài sản lưu động

LNST

: Lợi nhuận sau thuế

VCSH

: Vốn chủ sở hữu

TNHH

5

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu bộ máy tổ chức và quản lý Công ty CP Bê Tông Hà Thanh
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 : Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty các năm từ 2012- 2014
Bảng 2.2 Quy mô và cơ cấu tài sản của công ty năm 2012-2013-2014
Bảng 2.3 : Quy mô và cơ cấu tài sản lưu động của công ty
Bảng 2.4 : Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của công ty các năm 2012-2013-2014
Bảng 2.5: Tỷ trọng các loại nợ trong tổng nợ của Công ty
Bảng 2.6 : Hiệu suất sử dụng Tài sản lưu động của công ty
Bảng 2.7 : Các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của công ty từ 2012-2014
Bảng 2.8 : Vòng quay các khoản phải thu và kỳ thu tiền trung bình của Công ty các
năm 2012-2013-2014
Bảng 2.9 : Số vòng quay hàng tồn kho và số ngày một vòng quay hàng tồn kho của
công ty qua các năm
Bảng 2.10: Quy mô và cơ cấu tài sản cố định của công ty qua các năm 2012-2013-2014
Bảng 2.11 : Hiệu suất sử dụng vốn cố định của công ty
Bảng 2.12 : Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của công ty các
năm 2012-2013-2014
Bảng 2.13 : Mối quan hệ tương tác giữa tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn kinh doanh
với hiệu suất sử dụng toàn bộ vốn và tỷ suất lợi nhuận
Bảng 2.14: Mối quan hệ tương tác với tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu
Bảng 3.1: Tỷ lệ % trên doanh thu của một số khoản mục năm 2014
Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn vốn trước và sau khi tăng vốn chủ sở hữu
Bảng 3.3 : So sánh bố trí cân đối vốn và tài sản

5




2

Tổng quan tình hình nghiên cứu
Có thể thấy vốn là tiền đề có tính chất quyết định tới sự thành công của một
doanh nghiệp. Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh rất
được các doanh nghiệp quan tâm.

6


7

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nêu ra một số công trình
nghiên cứu về đề tài này như:
Thứ nhất, Nguyễn Thị Nga “ Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh tại Công ty Cổ Phần viễn Thông Hà Nội” luận văn thạc sỹ quản trị kinh
doanh, trường Học viện Bưu chính Viễn Thông (2012). Công trình nghiên cứu của
tác giả Nguyễn Thị Nga đã phân tích khá sâu sắc các nội dung về vốn kinh doanh và
đưa ra các biện pháp cụ thể.
Thứ hai, Hà Thị Kim Duyên “ Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của công ty cổ phần xây dựng điện VNECO 8”, luận văn thạc sỹ trường Đại học
Kinh tế Quốc dân (2011). Luận văn đã phân tích được hiệu quả sử dụng vốn trong
Công ty cổ phần xây dựng điện VNECO 8, từ đó đưa ra các nội dung về hạn chế và
những kết quả đạt được để đưa ra các giải pháp gắn với thực tế của công ty.
Thứ ba,Vũ Thị Thu Trang “Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại
Công ty Cổ phần Chế tạo thiết bị điện Đông Anh”, luận văn thạc sỹ trường Đại học
Thương Mại (2014), luận văn thạc sỹ đã hệ thống hóa lý luận cơ bản về hiệu quả sử
dụng vốn kinh doanh và đã dùng các chỉ số để phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh

- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
Công ty Cổ phần Bê tông Hà Thanh .
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Công
ty Cổ phần Bê tông Hà Thanh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vốn kinh doanh và giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường.
- Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài nghiên cứu về hiệu quả sử dụng
vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Bê tông Hà Thanh. Về thời gian, các số liệu
tình hình sử dụng trong luận văn được dựa trên các báo cáo tài chính của công ty
trong các năm từ 2012- 2014;
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp
phân tích thống kê, diễn giải, quy nạp, tổng hợp, so sánh... trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá thực tế và đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp;

8


9

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Luận văn đã góp phần hệ thống hóa và làm sâu sắc hơn những vấn
đề lý luận về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
Về thực tiễn: Luận văn đã đề xuất được một số giải pháp phù hợp, khả thi để

cùng lại trở về hình thái ban đầu là tiền. Sự vận động của vốn kinh doanh như vậy
được gọi là sự tuần hoàn của vốn. Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp diễn ra liên tục, không ngừng. Do đó, sự tuần hoàn của vốn kinh
doanh cũng diễn ra liên tục, lặp đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu
chuyển của vốn kinh doanh. Sự chu chuyển của vốn kinh doanh chịu sự chi phối rất
lớn bởi đặc điểm kinh tế- kỹ thuật của ngành kinh doanh.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn kinh doanh của doanh
nghiệp như sau:“Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước mà
doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết dùng trong hoạt động
kinh doanh”. Nói cách khác vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh
doanh nhằm mục đích sinh lời.
Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của doanh
nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình
hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
1.1.1.2 Đặc điểm của vốn kinh doanh

10


11

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có những đặc điểm chủ yếu:
Thứ nhất: Vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản nhất định. Vốn
chính là biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản có thực mà doanh nghiệp huy
động và sử dụng vào sản xuất kinh doanh, bao gồm cả tài sản hữu hình và vô hình
như nhà xưởng, máy móc, đất đai, bản quyền, phát minh, sáng chế,…
Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời - vốn được biểu hiện bằng tiền
nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của vốn. Để thực sự trở thành vốn thì đồng tiền đó
phải vận động sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu

tiền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau, khiến cho một đồng vốn ở thời điểm này
sẽ có giá trị khác hẳn ở một thời điểm khác. Chính vì vậy, khi quyết định bỏ vốn đầu tư
và xác định hiệu quả do đầu tư mang lại, doanh nghiệp cần chú ý xem xét đến yếu tố thời
gian của vốn.
Thứ năm : Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được quản lý
chặt chẽ, sử dụng có hiệu quả, tránh hiện tượng thất thoát, lãng phí. Kinh tế thị
trường có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn nên tuỳ thuộc vào
hình thức đầu tư, chủ sở hữu có thể là người sử dụng vốn hoặc không, song không
bao giờ có một đồng vốn vô chủ và người sử dụng vốn luôn phải có trách nhiệm với
đồng vốn mà mình nắm giữ, sử dụng.
Thứ sáu : Trong nền KTTT, vốn được xem là loại hàng hóa đặc biệt. Là một
hàng hoá vì vốn cũng có giá trị và giá trị sử dụng như mọi hàng hoá khác - giá trị
sử dụng của vốn là để sinh lời, khi sử dụng hàng hoá ‘‘vốn’’ sẽ tạo ra một lượng giá
trị lớn hơn trước. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, quyền sở hữu vốn
và quyền sử dụng vốn có thể được gắn với nhau song cũng có thể tách rời nhau, vốn
khi bán ra không mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng và người mua
vốn chỉ được quyền sử dụng vốn đó trong một thời gian nhất định.
1.1.1.3 Vai trò của vốn kinh doanh
Vốn là một phạm trù kinh tế, là điều kiện tiên quyết cho bất cứ doanh nghiệp,
ngành nghề kinh tế kỹ thuật, dịch vụ nào trong nền kinh tế. Để tiến hành hoạt động
kinh doanh được, doanh nghiệp cần phải nắm giữ một lượng vốn nhất định nào đó.
Số vốn này thể hiện giá trị toàn bộ tài sản và các nguồn lực của doanh nghiệp trong
hoạt động kinh doanh.Vì vậy vốn kinh doanh có vai trò quyết định trong việc thành
lập, hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Cụ thể:
- Vốn kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại có vai trò quyết định
trong việc thành lập, hoạt động, phát triển của từng loại hình doanh nghiệp theo luật
định. Nó là điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển
của các doanh nghiệp. Tuỳ theo nguồn của vốn kinh doanh, cũng như phương thức

12

nhau. Trong công tác quản lý thường sử dụng một số tiêu thức như dưới đây:
1.1.2.1 Phân loại vốn theo kết quả hoạt động đầu tư

13


14

Phân loại vốn theo kết quả hoạt động đầu tư được chia thành vốn kinh doanh
đầu tư vào tài sản lưu động, tài sản cố định và tài sản tài chính của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản lưu động là số vốn đầu tư để hình thành các
tài sản lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao
gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại tài sản
lưu động khác của doanh nghiệp.
Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản cố định là vốn đầu tư để hình thành các tài
sản cố định hữu hình và vô hình như nhà xưởng, máy móc thiết bị, phương tiện vận
tải, các khoản chi phí mua bằng phát minh sang chế, nhãn hiệu sản phẩm độc
quyền, gía trị lợi thế thương mại…
Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn đầu tư vào các tài sản tài
chính như cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp, chứng chỉ quỹ đầu tư, trái phiếu chính
phủ, kỳ phiếu ngân hàng và có các giâý tờ có gía khác.
Mỗi loại tài sản đầu tư trên có đặc tính thanh khoản và thời hạn sử dụng khác
nhau. Điều này có ảnh hưởng đến tốc độ luân chuyển vốn và mức độ rủi ro trong sử
dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm luôn chuyển của vốn có thể chia vốn kinh doanh thành:
Vốn cố định và vốn lưu động
a) Vốn cố định

Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định cần thiết cho hoạt

định; phần còn lại của vốn cố định được “cố định” trong tài sản cố định. Trong các
chu kỳ sản xuất tiếp theo, nếu như phần vốn luân chuyển được dần dần tăng lên thì
phần vốn “cố định” lại dần dần giảm đi tương ứng với mức giảm dần giá trị sử dụng
của tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc tài sản cố định

-

hết thời gian sử dụng và vốn cố định hoàn thành một vòng chu chuyển.
Vốn cố định chỉ hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố
định về mặt giá trị - tức là khi thu hồi đủ tiền khấu hao tài sản cố định.
Từ những phân tích trên có thể rút ra khái niệm về vốn cố định như sau:
Vốn cố định của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản
cố định. Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu
kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất được tài sản cố
định về mặt giá trị.
Vốn cố định là một bộ phận quan trọng của vốn kinh doanh. Việc tăng thêm
vốn cố định trong các doanh nghiệp nói riêng và trong các ngành nói chung có tác
động lớn đến việc tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và nền kinh
tế. Do giữ vị trí then chốt và đặc điểm vận động của nó tuân theo tính quy luật
riêng, nên việc quản lý vốn cố định được coi là một trọng điểm của công tác quản lý
tài chính doanh nghiệp. Để quản lý sử dụng vốn cố định có hiệu quả cần nghiên cứu
về khấu hao tài sản cố định và phương pháp khấu hao tài sản cố định.

b) Vốn lưu động

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các tài sản cố định, doanh nghiệp cần
15


16

đi lặp lại có tính chất chu kỳ tạo thành sự chu chuyển của vốn lưu động.
Trong quá trình kinh doanh, vốn lưu động chu chuyển không ngừng, nên tại
một thời điểm nhất định, vốn lưu động thường xuyên có các bộ phận cùng tồn tại
dưới các hình thái khác nhau trong các giai đoạn mà vốn đi qua.
Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc
điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:

-

Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện.
16


17

-

Vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ

-

sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Có thể rút ra khái niệm về vốn lưu động như sau:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các tài
sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được thực
hiện thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong
một lần và được thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một
chu kỳ kinh doanh.
Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản

khi mới hình thành doanh nghiệp hoặc đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Nguồn vốn đầu tư khi hình thành doanh nghiệp: Khi thành lập doanh nghiệp
đỏi hỏi phải có một lượng vốn tối thiểu cần thiết đầu tư cho hoạt động kinh doanh.
Nguồn hình thành vốn đầu tư ban đầu giữa các loại hình doanh nghiệp cũng có
điểm khác nhau: Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn đầu tư ban đầu do Ngân sách
Nhà nước cấp; Đối với công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã
hoặc tổ chức sản xuất … vốn đầu tư ban đầu được hình thành từ việc góp vốn dưới
hình thức cổ phần hoặc hùn vốn, có thể góp vốn bằng tiền mặt, nhà cửa hoặc máy
móc thiết bị…
Nguồn vốn đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp: Trong
quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp tạo ra một luồng tiền nội bộ, luồng tiền này
cho biết khả năng tự tài trợ cao nhất mà doanh nghiệp có thể khai thác. Đó là số tiền tăng
thêm trong kỳ bao gồm lợi nhuận để lại và tiền khấu hao tài sản cố định, chủ sở hữu góp
thêm, phát hành cổ phiếu. Một phần lợi nhuận của doanh nghiệp để lại được hàng năm
nhằm bổ sung vốn, tự đáp ứng sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Số tiền khấu hao tài sản
cố định chủ yếu dùng cho việc tái đầu tư sản xuất giản đơn tài sản cố định. Tuy nhiên,
cũng cần thấy rằng, tài sản cố định sau một thời gian cần đổi mới, trong khi đó tiền khấu
hao tài sản cố định được tính ra hàng năm và được tích lũy lại. Do vậy, trong khi chưa có
nhu cầu thay thế tài sản cố định cũ có thể sử dụng số tiền khấu hao đó đáp ứng nhu cầu
tăng trưởng của doanh nghiệp. Trên ý nghĩa đó cho thấy tiền trích khấu hao tài sản cố
định không chỉ có tác dụng tái sản xuất giản đơn tài sản cố định mà còn có tác dụng tái
sản xuất mở rộng đối với doanh nghiệp.
Nguồn vốn chủ sở hữu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp , nó tạo điều kiện thuận lợi cho chủ doanh nghiệp
chủ động hoàn toàn trong sản xuất, từ đó kịp thời đưa ra các quyết sách trong kinh

18



hiệu quả các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế, bởi lẽ vốn vay sẽ hợp lý hóa một
cách tối ưu các nhu cầu tạm thời về vốn phát sinh bởi tính chu kỳ của quá trình sản
xuất kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp không nên quá lạm dụng vào loại vốn

19


20

này, nó như con dao hai lưỡi, nếu sử dụng hợp lý sẽ cho phép doanh nghiệp tăng
sức cạnh tranh, tận dụng được cơ hội đầu tư. Ngược lại, nếu tỷ lệ vốn vay trong
tổng nguồn vốn quá cao sẽ gây ra các nguy cơ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có
thể dẫn đến phá sản.
Thông thường, một doanh nghiệp cần phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ
sở hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Sự
kết hợp chặt chẽ hai nguồn vốn này phụ thuộc vào đặc điểm của doanh nghiệp đang
hoạt động cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ sở xem xét
tình hình chung của nền kinh tế và trên tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
1.1.3.2 Căn cứ vào phạm vi huy động vốn kinh doanh
Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể chia
thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài:
Việc phân loại này chủ yếu để xem xét việc huy động nguồn vốn của một
doanh nghiệp đang hoạt động:
- Nguồn vốn bên trong:
Nguồn vốn bên trong là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ chính
hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng
tự tài trợ của doanh nghiệp
Nguồn vốn từ bên trong doanh nghiệp bao gồm:
+ Lợi nhuận giữ lại để tái đầu tư
+ Khoản khấu hao tài sản cố định

ngược lại.
Qua việc xem xét tổng quan nguồn vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường, có thể thấy vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau, mỗi nguồn có ưu nhược điểm riêng. Mục tiêu của mỗi
doanh nghiệp là phải xác lập được một cơ cấu nguồn vốn thích hợp, chủ động khai
thác các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
kinh doanh , trên cơ sở tăng cường và nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn hiện có.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh là điều kiện tiên quyết của
doanh nghiệp khi tham gia vào kinh tế thị trường.
1.1.3.3 Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Căn cứ vào tiêu thức này có thể chia vốn kinh doanh của doanh nghiệp ra làm
hai loại: Vốn thường xuyên và vốn tạm thời.
a) Vốn thường xuyên

21


22

Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định mà
doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường
được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu
động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể bằng
công thức:
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc:
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp = Giá trị tổng tài sản – Nợ ngắn hạn.
b) Vốn tạm thời
Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)

Hiệu quả sử dụng vốn được tính bằng công thức chung
Kết quả kinh doanh trong kỳ
Hiệu quả sử dụng vốn =
Số vốn bình quân sử dụng trong kỳ
Vì vậy, để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn người ta thường so sánh tổng vốn
đầu tư kinh doanh với doanh thu, lợi nhuận đạt được. Tuy nhiên, dù là tính bằng
cách nào thì cũng cần phải xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp.Vì
vậy, hiệu quả sử dụng vốn phải được hiểu bằng lợi nhuận tạo ra trên một đồng vốn.
Mặt khác, hiệu quả sử dụng vốn phải phản ánh mức độ thích nghi của doanh nghiệp
với sự thay đổi của môi trường bên ngoài, phản ánh trình độ quản lý các hoạt động
tài chính và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, nên hiệu quả sử dụng vốn còn
được hiểu trên những góc độ, những khía cạnh khác. Từ những lập luận trên cũng
có thể hiểu hiệu quả sử dụng vốn là sự tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa lợi nhuận
trong sự tối thiểu hóa chi phí.
Hiệu quả sử dụng vốn được lượng hóa thông qua hệ thống các chỉ tiêu về khả
năng hoạt động, khả năng sinh lời, tốc độ luân chuyển vốn… Sử dụng vốn hiệu quả

23


24

sẽ đảm bảo khả năng an toàn của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của doanh nghiệp. Qua đó, doanh nghiệp sẽ đảm bảo việc huy động các nguồn
tài trợ và khả năng thanh toán, khắc phục được rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác,
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhằm tăng uy tín, thế lực, thị phần của doanh
nghiệp trên thương trường cũng như góp phần hạ giá thành, nâng cao chất lượng
sản phẩm, đảm bảo khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó tăng lợi
nhuận, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao đời sống của cán bộ công nhân viên,
nâng cao hiệu quả đóng góp cho xã hội.


Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ. Số vòng quay hàng tồn kho cao hay thấp phụ thuộc rất lớn vào đặc
điểm của ngành kinh doanh.
Số vòng quay hàng tồn kho cao chỉ ra rằng việc tổ chức và quản lý dự trữ của
doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm
được lượng vốn bỏ ra vào hàng tồn kho. Nếu số vòng quay hàng tồn kho thấp,
thường gọi lên doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức dẫn đến tình trạng bị ứ
đọng hoặc sản phẩm bị tiêu thụ chậm.Từ đó có thể dẫn đến dòng tiền vào của doanh
nghiệp bị giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình thế khó khăn về tài chính
-

trong tương lai.
Kỳ thu tiền trung bình:
Hoặc:
Là một hệ số hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ánh độ dài thời
gian thu tiền bán hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu
được tiền bán hàng. Kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào
chính sách bán chịu và việc tổ chức thanh toán của doanh nghiệp. Do vậy, khi xem
xét kỳ thu tiền trung bình của doanh nghiệp cần xem xét trong mối liên hệ với sự
tăng trưởng doanh thu của doanh nghiệp.
Kỳ thu tiền trung bình phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải
thu, đồng thời cũng phản ánh hiệu quả của việc quản lý các khoản phải thu và chính
sách tín dụng của doanh nghiệp thực hiện với khách hàng của mình. Vì vậy, chỉ tiêu
này càng nhỏ thì số vòng quay càng lớn, tốc độ luân chuyển vốn tăng, khả năng vốn
bị chiếm dụng thấp, hiệu quả sử dụng vốn cao và ngược lại.
Cả hai chỉ tiêu: vòng quay hàng tồn kho và kỳ thu tiền trung bình phản ánh
tình hình tiêu thụ hàng hóa và chính sách thanh toán của doanh nghiệp.; phản ánh
tốc độ tiêu thụ sản phẩm và tốc độ thu hồi tiền mặt của doanh nghiệp. Nếu hai chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status