BỘ MÔN: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN: LÊ THỊ HỒNG THUẬN
(NHÓM 1)
ĐỀ TÀI:
Phân tích quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế
nước ta thời kì trước đổi mới(1975-1986) .Suy nghĩ
của nhóm về cách nhìn của giới trẻ hiện nay về thời
bao cấp
BẢN PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC
1.
Nguyễn Hoài Anh: Công nghiệp hóa + Chuẩn bị slide
+ Chỉnh sửa bản word
2.
Chử Linh Chi: Công nghiệp hóa + Chuẩn bị slide
3.
Đỗ Trọng Bửu: Liên hệ + Chuẩn bị slide
4.
Bùi Mạnh Hải: Liên hệ
5.
III.Liên hệ :quan niệm của giới trẻ hiện nay về thời bao cấp
Phần I: CÔNG NGHIỆP HÓA TRƯỚC THỜI KÌ
ĐỔI MỚI
1.Cơ sở hình thành đường lối của đảng về CNH
1.1.Thực tiễn
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/ 5/1954 và hiệp định Geneve
tháng 7/1954 thì Việt Nam bị chia làm hai vùng tập trung quân sự, sau
đó do không có tổng tuyển cử theo hiệp định nên quốc gia bị chia cắt
làm hai miền.Miền Bắc Việt Nam một mặt đi lên xây dựng chủ nghĩa xã
hội và mặt khác trợ giúp Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến
hành cuộc kháng chiến chống Mỹ. Trong khi đó, Miền Nam Việt Nam
thành lập chính phủ riêng với trợ giúp tài chính và quân sự từ Mỹ và
quốc tế, tiến hành xây dựng nền kinh tế theo hướng tư bản ở miền Nam
Việt Nam. Nhưng thực tế cho thấy rằng việc đi lên xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở miền Bắc gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Kết quả của
hơn 100 năm đô hộ của Pháp và sự phá hoại của Mỹ đã làm cho nền
kinh tế của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc trở nên cạn kiệt,
nghèo nàn lạc hậu, tài nguyên kiệt quệ, đất đai bị tàn phá nặng nề. Hơn
nửa triệu người dân đã ngã xuống, làng mạc ruộng đồng bị tàn phá nặng
nề. Trước tình hình cấp bách đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định muốn cải biến tình trạng lạc hậu của nước ta, muốn tiếp tục cuộc
kháng chiến trường kỳ của Việt Nam và đã chọn con đường công nghiệp
hóa xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc (1960- 1975). Khi đất nước vừa thống
nhất (1975), cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội được vài năm thì lại
xảy ra chiến tranh biên giới phía bắc, rồi kết thúc cuộc chiến này lại kéo
theo sự cấm vận của Mỹ. Như vậy, trước thời kỳ đổi mới, nước ta có
khoảng 25 năm tiến hành công nghiệp hóa theo 2 giai đoạn: từ 1960 đến
suất lao động, tăng khả năng chinh phục tự nhiên, tăng trưởng phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế
chính trị, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH.
+ Tạo điều kiện thay đổi về chất nền sản xuất xã hội, tăng năng
suất lao động, tăng khả năng chinh phục tự nhiên, tăng trưởng phát
triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, ổn định tình hình kinh tế
chính trị, góp phần quyết định sự thắng lợi của CNXH.
+ Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh
tế cuả nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và
phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp
cho sự phát triển tự do, toàn diện của con người trong mọi hoạt
động kinh tế - xã hội.
+ Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố, tăng cường vai trò kinh
tế cuả nhà nước, nâng cao năng lực quản lý, khả năng tích luỹ và
phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm, nâng cao thu nhập, giúp
cho sự phát triển tự do, toàn diện của con người trong mọi hoạt
động kinh tế - xã hội.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học - công nghệ phát triển
nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng cường lực lượng vật
chất - kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh; đảm bảo đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước ngày càng cải thiện. Tạo điều kiện
vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức thực
hiện sự phân công lao động và hợp tác quốc tế.
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho khoa học - công nghệ phát triển
nhanh đạt trình độ tiên tiến hiện đại. Tăng cường lực lượng vật
chất - kỹ thuật cho quốc phòng, an ninh; đảm bảo đời sống kinh tế,
chính trị, xã hội của đất nước ngày càng cải thiện. Tạo điều kiện
vật chất cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đủ sức thực
3. Mục tiêu và phương hướng CNH
3.1 Thuận lợi và khó khăn
- Thuận lợi:
+ Cả nước độc lập thống nhất và quá độ lên CNXH
+ Có đội ngũ trí thức đông đảo
+ Kế thừa kinh nghiệm của miền Bắc giai đoạn trước
+ Quan hệ quốc tế mở rộng
- Khó khăn:
+ Hậu quả chiến tranh nặng nề
+ Chuyển nền kinh tế sang dựa vào sức mình là chính
+ CNĐQ và các thế lực thù địch không ngừng chống phá CMVN
+ Không tranh thủ được những thành tựu của CM Khoa hoc kĩ thuật –
Công nghệ trên thế giới. Chủ yếu dựa vào Liên Xô và các nước XHCN
+ Không hiểu hết luận điểm của Lênin ‘CNTB hiện đại là sự chuẩn bị
đầy đủ cơ sở vật chất cho CNXH” và “CNXH thoát thai từ CNTB”
3.2 Mục tiêu
“Đẩy mạng CNH XHCN, xây dựng cơ sở vật chất-kĩ thuật của CNXH,
đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN”
3.3 Phương hướng
Đường lối CNH đại hội IV (tháng 12-1976)
-
Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở
phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ
Kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một
cơ cấu kinh tế công-nông nghiệp
Xây dựng kinh tế trung ương, phát triển kinh tế địa phương, kết
hợp thành một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất
đã tạo một sự thay đổi nhất định trong phát triển:
-
-
Số xí nghiệp quốc doanh tăng từ 1913 cơ sở năm 1976 thành 2627
cơ sở năm 1980 và tiếp tục tăng thành 3220 cơ sở năm 1985. So
với năm 1955, số xí nghiệp đã tăng 16,5 lần.
Nhiều khu công nghiệp lớn đã hình thành.
Các ngành công nghiệp nặng quan trọng như điện, than, cơ khí,
luyện kim, hóa chất được xây dựng.
Nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy
nghề đào tạo xấp xỉ 43 vạn người, tăng 19 lần so với năm 1960- là
thời điểm bắt đầu CNH.
Ý nghĩa:
Đi lên từ điểm xuất phát thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, đối với
quá trình CNH của nước ta thì những kết quả đạt được trên đây có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Đây chính là nền móng tạo cơ sở ban đầu để
nước ta phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp theo.
4.2 Những hạn chế và nguyên nhân
Hạn chế:
Nhìn chung, trong thời kì 1960-1985, chúng ta đã nhận thức và tiến hành
CNH theo kiểu cũ dẫn tới những hạn chế và sai lầm:
-
-
bổ nguồn lực để CNH chủ yếu bằng cơ chế kế hoạch hóa tập trung
quan liêu, bao cấp, không tôn trọng các quy luật của thị trường. Do
-
tập trung phát triển công nghiệp nặng cần vốn lớn và chậm sinh lời
và chậm thu hồi vốn, vì vậy, cơ chế kế hoạch hóa hành chính tập
trung và nguồn lực to lớn chỉ có thể huy đông từ Nhà nước.
Nóng vội ,chủ quan,duy ý chí,ham làm nhanh,làm lớn,không quan
tâm đến hiệu quả kinh tế ,xã hội
Trong điều kiện chiến tranh phá hoại, tiếp theo lại bị bao vây cô lập,
những sai lầm và hạn chế trên đã trở thành nguyên nhân chủ yếu dẫn
tới khùng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm.
Nguyên nhân chung dẫn đến các hạn chế, sai lầm:
-
-
Khách quan:
Tiến lên CNH từ 1 nền kinh tế lạc hậu, nghèo nàn vừa bị chiến
tranh tàn phá nghiêm trọng -> Chưa thể tập trung sức người, sức
của cho CNH.Chưa qua thời kì TBCN nên thiếu nề tảng ban đầu
cho CNXH.
Chủ quan:
Mắc sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định mục tiêu, bước đi cơ
sở vật chất - kí thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư,.. ->
Chủ quan duy ý chí trong nhận thức và chủ trương CNH. Tiến
hành CNH trên cơ sở mô hình kinh tế hiện vật với cơ chế tập trung
Bắc.
Chiến tranh phá hoại của Mĩ đã phá hủy hầu hết những cái mà
nhân dân ta tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá
trình tiến lên sản xuất lớn bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm.
Miền Nam hoàn toàn giải phóng, chế độ thực dân mới của Mĩ cùng
bộ máy chính quyền trung ương Sài Gòn bị sụp đổ, nhưng cơ sở
của chính quyền này ở địa phương cùng bao di hại của xã hội cũ
vẫn còn tổn tại. Cuộc chiến tranh của Mĩ đã gây ra hậu quả nặng
nề. Nhiều làng mạc, đồng ruộng bị tàn phá. Nửa triệu héc ta ruộng
đất bị bỏ hoang. Một triệu hec ta rừng bị chất độc hóa học và bom
đạn cày xới. Vô số bom mìn còn bị vùi lấp trên các cánh đồng,
ruộng vườn và nơi cư trú của nhân dân. Đội ngũ thất nghiệp lên tới
hàng triệu người. Số người mù chữ chiếm tỉ lệ lớn trong dân cư.
-
Miền Nam có nền kinh tế trong chừng mực nhất định phát triển
theo hướng tư bản chủ nghĩa, song về cơ bản vẫn mang tính chất
của kinh tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ và phân tán, phát triển
không cân đối, lệ thuộc nặng nề vào viện trợ từ bên ngoài
Sau khi miền Nam Việt Nam được hoàn toàn giải phóng (năm
1975) và đất nước thống nhất (năm 1976), bắt đầu ngay việc thực
hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai (1976-1980). Kế hoạch này có
nhiều điểm duy ý chí nên phần lớn chỉ tiêu đều không đạt. Sản xuất
đình trệ, tăng trưởng chỉ đạt 0,4 %/ năm (kế hoạch là 13-14 %)
trong khi tỷ lệ tăng dân số hàng năm trên 2,3 %. Tình trạng thiếu
lương thực diễn ra gay gắt, năm 1980 phải nhập 1,576 triệu tấn
lương thực. Ngân sách thiếu hụt lớn, giá cả tăng hàng năm 20 %,
nhập khẩu nhiều gấp 4-5 lần xuất khẩu. Nhà nước thiếu vốn đầu tư
từng thời kỳ khác nhau, đã viện trợ cho các bên trong Chiến tranh Việt
Nam về đủ mọi mặt kinh tế, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, đào
tạo, giáo dục... với đủ các mức độ khác nhau. Nhìn chung viện trợ ngày
càng tăng theo quy mô chiến tranh.
Tuy nhiên sau khi Việt Nam giành được độc lập, thống nhất đất nước,
viện trợ từ nước ngoài đã bị cắt giảm, thâm chí dừng trợ cấp làm nguồn
nguyên liệu đầu vào bị thiếu hụt trầm trọng, cơ sở vật chất không đủ sản
xuất. Sản xuất nhỏ lẻ không đủ phục vụ nhu cầu của thị trường. Yêu cầu
lúc đó đặt ra cần tập trung sản xuất để gia tăng sản lượng
2. Tìm hiểu Cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp
2.1 Khái niệm và đặc trưng
Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta
giành thắng lợi, hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, đất
nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc. Miền Bắc được
giải phóng và tiến bước lên con đường xây dựng xã hội chủ nghĩa. Sau
khi hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa, từ năm 1960, miền Bắc bắt đầu
áp dụng cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Ngày 30/4/1975, cuộc
kháng chiến chồng Mĩ cứu nước thắng lợi, đất nước ta hoàn toàn thống
nhất. Cả nước bước vào thời kì xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội.
Định hướng của Đảng và Nhà nước là xây dựng kinh tế theo mô hình kế
hoạch hóa tập trung.
•
-
-
•
-
2.2 Quy trình kế hoạch hóa:
Quy trình kế hoạch hóa được thực hiện theo công thức “một lên, hai
xuống”
-
Cái xuống thứ nhất: Bộ chính trị, Trung ương Đảng, Chính phủ
giao cho Ủy ban kế hoạch nhà nước tính toán “số liệu kiểm tra” rồi
-
-
phân bổ chỉ tiêu cho các bộ, ngành, tỉnh. Sau đó số liệu lại được
chuyển xuống các cấp thấp hơn là các cục, vụ, xí nghiệp, công ty,
xã, phường…
Một cái lên: mỗi cơ sở phải tự xây dựng kế hoạch của mình và
trình lên cấp trên bằng cách cân đối giữa “số liệu kiểm tra” được
đưa xuống với số liệu điều tra tại cơ sở.
Cái xuống thứ hai: kế hoạch cuối cùng được đưa ra sau khi cấp
trên xem xét “số liệu điều tra” và kế hoạch của cấp dưới. Kế hoach
này được trở thành chỉ tiêu pháp lệnh và giao lại xuống dưới.
Quy trình kế hoạch thường được thực hiện từ cuối năm trước đến tháng
3 năm sau thì có các chỉ tiêu, pháp lệnh cụ thể. Nhưng cũng có khi xảy
ra hiện tượng trể trong việc cân đối số liệu giữa các cấp và phải đến
tháng 6 hoặc tháng 7 chỉ tiêu mới được đưa xuống. Khi đó thời gian thực
hiện kế hoạch sẽ ngắn hơn rất nhiều trong khi chỉ tiêu thường cao, gây
khó khăn cho các cấp thực hiện.
toàn bộ sản phẩm làm ra đều phải giao nộp lại cho nhà nước để phân
phối. Hợp tác xã cũng phải bán toàn bộ sản phẩm cho nhà nước với giá
rất rẻ.
Các doanh nghiệp chỉ quan tâm đên một vấn đề duy nhất đó là hoàn
thành chỉ tiêu, dù cho chỉ tiêu đó có phi lý đến đâu. Bởi vì, doanh nghiệp
không phải người định giá bán sản phẩm, không quan tâm đến cái gọi là
lỗ hay lãi. Chế độ tài chính của nhà nước thực hiện theo nguyên tắc thu
đủ, chi đủ. Nghĩa là Nhà nước sẽ thu lợi nhuận khi có lãi, và ngược lại
cũng sẽ phải bù khi bị lỗ. Và trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp này lỗ thì nhiều mà lãi chẳng thấy đâu do không có sự gắn
liền giữa quyền lợi và trách nhiệm của các cấp thực hiện.
Chỉ tiêu được ví như cái vòng kim cô trên đầu các doanh nghiệp. Năm
1979, công ty khai thác than ở Thái Nguyên được giao chỉ tiêu khai thác
150.000 tấn than. Nhưng công ty không tìm được đầu ra. Sản phẩm chất
đống trong kho. Gần hết năm mà chỉ tiêu mới thực hiện được gần nửa.
Lo sợ ảnh hưởng đến số phận chính trị của ban lãnh đạo, lương cán bộ
công nhân viên và danh hiệu thi đua của đơn vị. Cả công ty ra sức khai
thác để đạt bằng được chỉ tiêu. Nhưng kho chứa có giới hạn nên ngoài
việc mất công khai thác công ty còn mất công đổ than đi, đổ bất cứ đâu.
Sự việc cuối cùng đến tai cấp trên, Giám đốc công ty bị khiển trách. Thế
nhưng cuối năm công ty vẫn có bằng khen vì đã hoàn thành chỉ tiêu.
b. Cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh
doanh của các doanh nghiệp
Can thiệp từ khâu cấp phát vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm
nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lý đối với các
quyết định của mình.
Những thiệt hại về vật chất do các quyết định không đúng gây ra thì
Các công cụ như giá cả, lãi suất, tiền lương chỉ áp dụng để tính
toán một cách hình thức. Vì vậy nhiều hàng hóa quan trọng như
sức lao động, phát minh sáng chế, tư liệu sản xuất quan trọng
không được coi là hàng hóa về mặt pháp lý.
Giá cả không phản ánh quan hệ cung cầu mà do Nhà nước đặt ra
dùng để tính toán cho việc cấp phát và giao nộp giữa Nhà nước và
doanh nghiệp .
Tiền lương được quy định theo cấp bậc hành chính và thâm niên,
tính theo chủ nghĩa bình quân chứ không phải là được tính theo
hiệu quả lao động của mỗi người. Các doanh nghiệp khi không có
tiền trả lương cho công nhân thì trả bằng sản phẩm. Đơn vị có cao
su trả bằng cao su, xí nghiệp có mũ cứng thì trả lương bằng mũ
cứng, hay sản xuất sứ tích điện thì trả bằng sứ tích điện…Những
lúc như vậy lĩnh lương xong cũng không biết đem về để đâu, làm
gì ?
Tình trạng tranh mua, tranh bán làm cho giá của hàng hoá bị đẩy
lên cao. Chi ngân sách nhà nước cho tiền lương tăng vọt, nhưng
thu ngân sách lại không tăng bao nhiêu do giá vật tư không tăng
bằng mức Ban chỉ đạo đề nghị. Lạm phát bùng nổ. Tiền phát hành
nhiều mà vẫn không đủ. Lương công nhân không có. Vật tư, hàng
hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng 10 lần vẫn không đủ
bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút. Đầu tư trong công
nghiệp giảm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng
587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay
sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn
cả tăng giá hàng hóa. Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc
sống chật vật không những về số lượng mà cả về chất của nhiều
lương thành lương hiện vật, thủ tiêu động lực kích thích người lao động
và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.
Nguyên tắc phân phối theo lao động là phải lấy kết quả lao động làm
thước đo để phân phối sản phẩm tiêu dùng cá nhân. Lấy số lượng lao
động và chất lượng lao động làm căn cứ trả công.
Có 2 nguyên tắc không được làm sai đó là:
-
-
chủ nghĩa bình quân tiểu tư sản trong việc trả công người lao động
vì nó gạt bỏ hoàn toàn nguyên tắc lợi ích vật chất kìm hãm động
lực lao động của người lao động.
khuynh hướng đòi mở rộng quá mức khoảng cách giữa các bậc
lương, thang lương một cách không có căn cứ kinh tế và những đòi
hỏi có sự ưu đãi đặc biệt với một số người.
Bao cấp qua chế độ tem phiếu vi phạm nguyên tắc 1
c. Bao cấp theo chế độ cấp phát vốn
Vốn ngân sách được cấp cho các đơn vị nhưng không có chế tài ràng
buộc trách nhiệm vật chất đối với các đơn vị được cấp vốn=> làm tăng
gánh nặng đối với ngân sách, vừa làm cho việc sử dụng vốn kém hiệu
quả nảy sinh cơ chế “xin cho”
Người cho có thể cho ít, có thể cho nhiều và cũng có thể không cho.
Bên xin thì phải phụ thuộc vào bên cho và không thể tự quyết, tự tìm ra
giải pháp để đáp ứng nhu cầu của mình mà phải trông chờ vào bên cho.
Nhiều thủ tục hành chính rườm rà hành dân để thể hiện quyền lực nhà
nước. Không dựa trên sự cạnh tranh bình đẳng giữa các tổ chức, cá nhân
-
Những tác động cả về lý luận và thực tiễn của công cuộc cải cách,
cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu, đặc biệt là sự trở về của chính sách
NEP của Lênin
Như vậy, từ cuối thập kỉ 70 Đảng ta đã tìm tòi những biện pháp để cải
biến tình hình. Đó là những tiền đề quan trọng đến ĐH đại biểu toàn
quốc lần 6 tháng 12/1986. Đảng thông qua nội dung đường lối đổi mới
một cách toàn diện, trong đó có cơ chế quản lý kinh tế là một trong
những yêu cầu cấp bách và trọng tâm. Phát triển kinh tế theo định hướng
xã hội chử nghĩa ở nước ta là một tất yếu là nhiệm vụ cần thiết, cấp
bách để chuyển từ kinh tế lạc hậu thành kinh tế hiện đại, hội nhập và
phân công lao động quốc tế,. Đó là con đường đúng đắn để phát triển lực
lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của đất nước nhằm
phục vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước
Đại hội VI ( tháng 12/1986)- Đại Hội đánh dấu sự đổi mới
Đại Hội cho rằng, cơ chế quản lý cũ mang nặng tính chất tập trung quan
liêu. Đặc trưng của cơ chế ấy là cơ quan quản lý hành chính có toàn
quyền quyết định những vấn đề kinh tế nhưng lại không chịu trách
nhiệm gì về các quyết định của mình: không tính tới hiệu quả sử dụng
vốn, tài sản, vật tư,.. không gắn trách nhiệm với lợi ích vật chất, tách rời
việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động, bộ máy
quản lý công kềnh, nhiều trung gian, cửa quyền kém năng động, thiếu
trách nhiệm. Đại Hội VI khẳng định” Việc bố trí lại cơ cấu kinh tế phải
đi đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Cơ chế quản lý tập trung quan
liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không tạo được động lực để phát triển,
làm suy yếu kinh tế xã hội chủ nghĩa, hạn chế việc sử dụng và cải tạo
các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất
lượng , hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và đẻ ra nhiều
chiến trường yên tâm phục vụ chiến đấu hơn, bởi họ không phải lo
nghĩ chuyện gia đình, vợ con ở nhà, vì mọi thứ đã được nhà nước
bao cấp.
Ý nghĩa: Những kết quả trên đây có ý nghĩa hết sức quan trọng – tạo cơ
sở ban đầu để nước ta phát triển nhanh hơn trong các giai đoạn tiếp
theo.
b.Hạn chế của cơ chế bao cấp
-
-
-
-
-
-
-
Cơ sở vật chất – kỹ thuật còn hết sức lạc hậu. Những ngành công
nghiệp then chốt còn nhỏ bé và chưa được xây dựng đồng bộ, chưa
đủ sức làm nền tảng cho nền kinh tế quốc dân.
Làm thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học – công nghệ,
gây tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm, lười biếng, triệt tiêu sự sáng tạo của
người lao động