Header Page 1 of 166.
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THÚY HIỀN
CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ
(1954-1975)
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 62 22 03 13
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TS Trần Ngọc Long
2. PGS.TS Trương Công Huỳnh Kỳ
HUẾ - NĂM 2015
Footer Page 1 of 166.
0
Header Page 2 of 166.
DANH MỤC NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
An toàn khu:
Nhà xuất bản:
Nxb
Phủ Thủ tướng:
PTT
Trung tâm lưu trữ:
TTLT
Thành phố:
Tp
Ủy ban nhân dân cách mạng:
UBNDCM
Việt Nam Cộng hòa:
VNCH
Footer Page 2 of 166.
1
Header Page 3 of 166.
2
Header Page 4 of 166.
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế – xã hội ...................................................... 32
2.1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Trung Trung Bộ . 43
2.1.3. Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong quá trình vận động
Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp ....................... 48
2.2. Quá trình phục hồi căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung bộ (19541960) ................................................................................................................ 56
2.2.1. Âm mưu và thủ đoạn xóa bỏ căn cứ địa cách mạng của địch ............... 56
2.2.2. Chủ trương của ta .................................................................................. 59
2.2.3. Quá trình phục hồi căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đáp ứng
yêu cầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ...................................... 62
2.3. Cuộc đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng ..................................... 73
* Tiểu kết chương 2......................................................................................... 78
CHƯƠNG 3: KẾT HỢP XÂY DỰNG VỚI BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY VAI
TRÒ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ (1961-1975).80
3.1. Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong giai đoạn chống
chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965) .......................................... 80
3.1.1. Tiếp tục củng cố các căn cứ địa miền núi, phát triển căn cứ địa ở vùng
đồng bằng ........................................................................................................ 80
3.1.2. Đẩy mạnh cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa ........................................ 86
3.2. Chủ động xây dựng kết hợp với bảo vệ căn cứ địa cách mạng, góp
phần đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968) .............. 92
3.2.1. Phát triển thực lực căn cứ địa cách mạng đáp ứng yêu cầu chống chiến
lược “Chiến tranh cục bộ” ............................................................................... 92
3.2.2. Tổ chức chiến đấu, đánh thắng các cuộc hành quân càn quét của địch
vào căn cứ........................................................................................................ 98
của sự nghiệp cách mạng .............................................................................. 137
4.2.3. Là bàn đạp xuất phát tiến công của các LLVT tổ chức các chiến dịch,
trận đánh tiêu hao sinh lực địch và phát triển chiến tranh du kích ............... 139
4.2.4. Là nơi tiếp nhận sự chi viện bằng đường bộ, đường biển cho chiến
trường Khu V, góp phần hình thành thế bao vây chia cắt, trực tiếp uy hiếp lực
lượng của địch ở Trung Trung Bộ................................................................. 141
4.3. Một số bài học kinh nghiệm ................................................................ 144
4.3.1. Xây dựng căn cứ địa cách mạng phải chú trọng đặc điểm địa – chính trị,
địa – quân sự, địa – kinh tế, địa – văn hoá của địa phương .......................... 144
Footer Page 5 of 166.
4
Header Page 6 of 166.
4.3.2. Phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân
dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng .................... 146
4.3.3. Tăng cường xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt
chính sách dân tộc của Đảng ......................................................................... 148
4.3.4. Xây dựng căn cứ địa cách mạng vững mạnh toàn diện, kết hợp xây
dựng với bảo vệ, bảo vệ để xây dựng ........................................................... 152
4.3.5. Kết hợp đồng thời việc xây dựng căn cứ địa cách mạng ở miền núi với
xây dựng căn cứ du kích ở vùng địch tạm chiếm, các cơ sở, “lõm chính trị”
trong nội đô ................................................................................................... 155
* Tiểu kết chương 4....................................................................................... 157
KẾT LUẬN .................................................................................................. 158
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐÃ
CÔNG BỐ .................................................................................................... 162
Từ năm 1954 đến 1975, để chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc
Mỹ – một nước đế quốc mạnh nhất thế giới từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến
nay, Đảng ta đã tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng để giải phóng miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, thống nhất Tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
trong cả nước. Để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng to lớn này, ngoài việc xây dựng
miền Bắc thành hậu phương vững mạnh, thành căn cứ địa cách mạng của cả nước,
Đảng ta còn chủ trương xây dựng và phát triển hệ thống căn cứ địa trên các địa bàn
chiến lược ở miền Nam như Trị Thiên, Tây Nguyên, Trung Trung Bộ, Nam Trung
Footer Page 7 of 166.
6
Header Page 8 of 166.
Bộ, Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ… Do tác động của mục tiêu và nhiệm vụ cách
mạng đặt ra, cũng như các điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực,
vùng miền mà ở miền Nam thời chống Mỹ có nhiều loại hình căn cứ địa với các quy
mô khác nhau. Mặt khác, các căn cứ địa cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ có
những điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều nét riêng do điều kiện lịch sử địa
phương quy định. Song, tất cả các căn cứ địa đã góp phần tạo ra tiềm lực to lớn
để quân và dân miền Nam đánh thắng các chiến lược chiến tranh xâm lược của
đế quốc Mỹ.
Với vai trò và vị trí to lớn trên đây, vấn đề căn cứ địa trở thành một phận hữu
cơ của cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam thời chống Mỹ. Đây là một đối
tượng lịch sử cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ vai trò và vị trí của một phương
thức chiến tranh cách mạng, góp phần làm sáng tỏ đầy đủ về lịch sử của cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại do dân tộc ta tiến hành. Vấn đề căn cứ địa thời
chống Mỹ không chỉ cần và phải được khôi phục, đánh giá một cách khách quan với
phương. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ
trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975) sẽ mang lại nhiều ý nghĩa khoa học và
thực tiễn.
Về ý nghĩa khoa học, luận án làm rõ quá trình hình thành, phát triển, vai trò,
vị trí, đặc điểm của căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước. Qua đó, bổ sung một số tư liệu làm rõ vai trò lãnh đạo của các
cấp ủy Đảng đối với vấn đề căn cứ địa; sự linh hoạt, sáng tạo trong hoạt động tổ
chức, xây dựng căn cứ địa cách mạng ở các vùng miền. Kết quả nghiên cứu sẽ góp
phần làm sáng tỏ đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và chiến lược xây dựng
căn cứ địa đã được vận dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước ở Trung Trung Bộ.
Kết quả nghiên cứu của luận án còn góp phần bổ sung kiến thức nghiên cứu
về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nói chung, đặc biệt là đối với
Trung Trung Bộ nói riêng.
Về ý nghĩa thực tiễn, từ những cứ liệu nghiên cứu để bước đầu rút ra những
bài học kinh nghiệm là một yêu cầu cần thiết nhằm phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ
xây dựng thế trận an ninh – quốc phòng trên địa bàn hiện nay. Kết quả nghiên cứu
của luận án cũng sẽ góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước và cách
mạng cho các tầng lớp nhân dân, là cơ sở để trùng tu và bảo tồn các di tích căn cứ
địa kháng chiến thời chống Mỹ. Đây còn là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu và
dạy học về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở các bậc học.
Footer Page 9 of 166.
8
Header Page 10 of 166.
Từ những ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên đây, chúng tôi chọn vấn đề Căn
Footer Page 10 of 166.
9
Header Page 11 of 166.
phương này không thay đổi. Do vậy, từ đây đến khi kết thúc cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước, Trung Trung Bộ bao gồm: Quảng Nam, Quảng Đà, Quảng
Ngãi, Bình Định, Phú Yên.
Như vậy, về cơ bản địa bàn Trung Trung Bộ không có sự thay đổi, chủ yếu
vẫn bao gồm các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên.
Về nội dung: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về căn cứ địa cách
mạng trong chiến tranh giải phóng; những yếu tố tác động đến quá trình phục hồi,
xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò căn cứ địa (điều kiện địa lý tự nhiên, dân cư,
tình hình kinh tế – xã hội, truyền thống lịch sử; tình hình xây dựng căn cứ địa trước
khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ); những âm mưu, thủ đoạn đánh phá căn
cứ của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa; chủ trương của Đảng về xây dựng
căn cứ địa trong mỗi giai đoạn cách mạng; hoạt động xây dựng căn cứ về các mặt:
chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa – xã hội; các cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ; đặc
điểm, vai trò và một số bài học đúc rút từ quá trình xây dựng và bảo vệ căn cứ địa
cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975).
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục đích:
Nghiên cứu, phục dựng một cách căn bản và tương đối đầy đủ về hệ thống căn
cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy,
giáo dục truyền thống và bổ sung tư liệu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
của quân và dân trên địa bàn. Bên cạnh đó, luận án góp phần cung cấp những luận
cứ cho việc xây dựng thế trận an ninh – quốc phòng ở địa bàn Trung Trung Bộ
- Tài liệu lưu trữ: Các tài liệu liên quan đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước hiện được lưu trữ ở Bộ Tư lệnh Quân khu V; Trung tâm lưu trữ Quốc gia II,
thành phố Hồ Chí Minh; Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam; Viện Lịch sử Đảng; Ban
Tuyên giáo các tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,
Phú Yên.
- Các công trình nghiên cứu đã công bố: Các công trình nghiên cứu về cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Viện Mác –
Lênin, Viện Lịch sử Đảng; Các chuyên khảo, bài viết, báo cáo khoa học đã được
công bố trên các tạp chí chuyên ngành trong những năm gần đây; Các công trình
Lịch sử Đảng bộ, Lịch sử kháng chiến và Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân địa
phương các tỉnh, thành phố, quận (huyện) trên địa bàn; Các luận án, luận văn về đề
tài căn cứ địa cách mạng đã được bảo vệ và xuất bản.
- Tài liệu khảo sát thực tế: Tài liệu khảo sát thực địa tại các di tích căn cứ địa
cách mạng trên địa bàn nghiên cứu.
Footer Page 12 of 166.
11
Header Page 13 of 166.
- Các hồi ký cách mạng: Hồi ký và lời kể của các cán bộ lão thành cách mạng,
nhân chứng lịch sử sống và hoạt động ở địa bàn Trung Trung Bộ.
Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Ngoài
ra, trong quá trình nghiên cứu còn sử dụng một số phương pháp: so sánh, thống kê,
phân tích, tổng hợp, khái quát trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu văn bản, thực
địa và tiếp xúc nhân chứng lịch sử. Riêng đối với nguồn tư liệu khai thác từ các
nhân chứng lịch sử, tác giả tiến hành đối chiếu, so sánh với các tư liệu văn bản để
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu
Liên quan đến nội dung luận án đã có một số công trình trong nước phản ánh,
đề cập với nhiều cấp độ và từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong đó, tựu trung lại
có thể khu trú vào các nhóm như sau:
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về căn cứ địa cách mạng nói chung
Vấn đề căn cứ địa được đề cập trước hết phải kể đến là công trình Chiến thuật
du kích của Hồ Chí Minh (Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia,
HN, 2011) và Chọn căn cứ địa của Trường Chinh (Cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân Việt Nam, Tập 1, Nxb Sự Thật, HN, 1976). Các công trình này xác định
căn cứ địa là nơi có địa thế hiểm yếu, vừa có lợi cho việc tiến công, vừa có lợi cho
việc phòng ngự của lực lượng du kích. Việc xây dựng căn cứ địa gắn liền với xây
dựng lực lượng vũ trang (LLVT). Một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định
trong việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa là phải có sự ủng hộ, giúp đỡ của
đông đảo quần chúng nhân dân.
Vấn đề căn cứ địa còn được đề cập khá cụ thể ở một số công trình, trong đó
có thể kể đến là Bài giảng về đường lối quân sự của Đảng của Võ Nguyên Giáp
(Viện Khoa học Quân sự, HN, 1974). Ở công trình này, tác giả đã khái quát những
đặc trưng cơ bản của căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh giải phóng; phân tích
và luận giải về vai trò của căn cứ địa cách mạng. Trong đó, nhấn mạnh sự cần thiết
phải giải quyết vấn đề xây dựng địa bàn đứng chân và tiềm lực kháng chiến, nếu
không có đường lối đúng đắn để thực hiện vấn đề này thì không thể tiến hành chiến
tranh cách mạng lâu dài nhằm đi đến thắng lợi. Tác giả khẳng định chỗ đứng chân
của cách mạng để tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh là cơ sở chính trị, căn cứ địa,
hậu phương. Đây là vấn đề quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng. Bên cạnh
đó, tác giả cũng vạch ra quy luật hình thành và phát triển của cơ sở chính trị, căn cứ
Footer Page 14 of 166.
– kinh tế, địa – văn hóa; đặc điểm, vai trò của căn cứ địa cách mạng trong hai cuộc
kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.
Nhìn chung, những công trình trên đã khái quát những điều kiện hình thành
cũng như việc lựa chọn địa bàn xây dựng căn cứ địa; đồng thời luận giải, phân tích
Footer Page 15 of 166.
14
Header Page 16 of 166.
vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng. Những vấn đề mang tính lý luận
này sẽ trở thành tư tưởng chỉ đạo và “kim chỉ nam” cho quá trình xây dựng, bảo vệ
và phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng.
Vấn đề căn cứ địa cách mạng cũng được đề cập cụ thể hơn trong một số công
trình lịch sử trong đó có thể kể đến như: Quân khu 5. Thắng lợi và những bài học
trong kháng chiến chống Mỹ, Tập Hai, (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1982); Tổng
kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thắng lợi và bài học (Nxb Chính trị
Quốc gia, HN, 1996); Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975). Thắng lợi và
bài học (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2000). Đây là những công trình tổng kết sự
lãnh đạo của Đảng đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong đó tập
trung vào một số nội dung cơ bản và cốt yếu: đường lối chiến lược, sách lược và
phương pháp cách mạng; những bài học kinh nghiệm được đúc kết trong quá trình
tiến hành chiến tranh cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Ở các công trình này, vấn đề căn cứ địa được luận giải, phân tích
dưới góc độ là “một vấn đề lớn trong đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước”
[11, tr. 237], “vấn đề cốt tử trong chiến tranh cách mạng” [61, tr. 161]. Vai trò của
căn cứ địa trong quá trình kháng chiến được làm rõ: là nơi đứng chân của các cơ
quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến, nơi xây dựng lực lượng cách mạng; là bàn đạp
căn cứ địa cách mạng, chưa có điều kiện tập trung khảo cứu quá trình phát triển cũng
như đặc điểm của căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Dưới góc độ nghiên cứu sâu về hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh
cách mạng Việt Nam, cuốn Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (19451975) (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1997) là công trình nghiên cứu có tính chất hệ
thống và toàn diện nhất về quá trình xây dựng và phát huy vai trò của hậu phương
trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. Công
trình tập trung kiến giải về vai trò của các căn cứ địa cách mạng với tư cách là hậu
phương tại chỗ ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ; đồng thời khẳng định
hậu phương tại chỗ là một trong những nhân tố cơ bản để xây dựng và tăng cường
tiềm lực, sức mạnh của cách mạng và phát triển chiến tranh nhân dân trên khắp ba
vùng chiến lược. Thế và lực của cách mạng có thể chuyển hóa từ yếu sang mạnh
dựa trên cơ sở của việc xây dựng hệ thống căn cứ địa – hậu phương vững chắc.
Công trình đặc biệt nhấn mạnh vai trò của nhân dân trong việc xây dựng căn cứ địa
– hậu phương vững mạnh: nói đến căn cứ địa – hậu phương là nói đến vai trò của
nhân dân, căn cứ địa – hậu phương vững chắc trước hết và chủ yếu là ở lòng dân.
Có dân là có tất cả [33, tr. 281- 282].
Footer Page 17 of 166.
16
Header Page 18 of 166.
Trên Tạp chí Phát triển Nhân lực số 3(29)-2012 có bài viết Căn cứ địa, một
biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong 30 năm chiến tranh giải
phóng của Trần Đơn, đã luận giải về vấn đề căn cứ địa; đồng thời khái quát làm nổi
bật vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng Việt Nam: đó là khu vực tập
kết các cơ quan đầu não và lực lượng kháng chiến; nơi đứng chân và tổ chức chiến
đấu, bảo vệ các cơ quan lãnh đạo, chỉ huy; nơi củng cố và huấn luyện các LLVT
Nam trong kháng chiến chống Mỹ
Chủ đề căn cứ địa cách mạng ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ nói
chung cũng đã được khảo cứu trong một số công trình nghiên cứu, luận án Tiến sĩ
lịch sử:
Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945-1954),(Nxb Thành phố Hồ Chí Minh,
1996) của Hồ Sơn Đài là công trình nghiên cứu quá trình xây dựng, đặc điểm phát
triển và luận giải vai trò quan trọng của các chiến khu đối với cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp trên địa bàn miền Đông Nam Bộ. Căn cứ địa kháng chiến
chống Mỹ ở miền Đông Nam Bộ (1954-1975), luận án Tiến sĩ Lịch sử của Trần Thị
Nhung, Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh, 2001 đã đi sâu khảo cứu
khá công phu về tổ chức và hoạt động của các căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ
trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975). Căn cứ địa cách mạng ở Tây Ninh trong
chiến tranh giải phóng (1945-1975) của Bộ Tư lệnh (BTL) Quân Khu 7 – Tỉnh ủy
Tây Ninh (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2002) là tập hợp những bài viết của nhiều
tác giả về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của căn cứ địa cách mạng
ở Tây Ninh trong kháng chiến chống Mỹ. Căn cứ địa U Minh trong hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945-1975), luận án Tiến sĩ
Lịch sử của Trần Ngọc Long, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, 2006 là công trình
nghiên cứu về quá trình hình thành, phát triển và những đóng góp của Căn cứ địa U
Minh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược
(1945-1975). Căn cứ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở Cực Nam Trung Bộ (19541975), luận án Tiến sĩ lịch sử của Chu Đình Lộc, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam,
2011 đi sâu nghiên cứu về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò của các
căn cứ kháng chiến ở Cực Nam Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (19541975). Kỷ yếu hội thảo khoa học Căn cứ địa cách mạng tỉnh Bình Thuận trong 30
năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) của Quân Khu 7 và Tỉnh ủy Bình Thuận,
tháng 8-2012 là tập hợp các bài viết về quá trình xây dựng, bảo vệ và phát huy vai
Footer Page 19 of 166.
18
chiến chống Mỹ, cứu nước trên địa bàn các tỉnh thuộc Khu V và Nam Trung Bộ.
Trong các công trình này, chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng,
Footer Page 20 of 166.
19
Header Page 21 of 166.
quá trình ra đời, hoạt động chiến đấu bảo vệ căn cứ địa cách mạng của quân dân các
tỉnh, thành phố: Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên được
trình bày một cách khái lược, đan xen với diễn biến của cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước trên địa bàn Khu V và Nam Trung Bộ.
Những sự kiện lịch sử hậu cần chiến trường Khu V (1954-1975) của Cục hậu
cần – Quân Khu 5 (Nxb Đà Nẵng, 1989) và Công tác Đảng, công tác chính trị
LLVT Quân Khu V (1945-2000) – Biên niên, Tập 2, Quyển 1 (1954-1965) của Đảng
ủy – BTL Quân Khu V (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2002) là các công trình chứa
đựng những thông tin thuộc về hoặc liên quan đến vấn đề căn cứ địa được trình bày
dưới hình thức biên niên lịch sử bao gồm: chủ trương về xây dựng căn cứ địa cách
mạng của Liên Khu ủy V và Đảng bộ các địa phương; hoạt động xây dựng, đấu
tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng của Khu V, của các địa phương ở Trung Trung
Bộ; các hoạt động sản xuất lương thực, vũ khí, tiếp nhận, vận chuyển hàng chi viện
của miền Bắc cho chiến trường Khu V.
Trong công trình Một số kinh nghiệm chỉ đạo chiến tranh nhân dân địa
phương ở Khu 5 trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của BTL Quân
Khu 5 – Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 1999), các
tác giả khái quát về đặc điểm tình hình và những bước phát triển của chiến tranh
nhân dân trên địa bàn Khu V. Qua đó, rút ra một số bài học kinh nghiệm về chỉ đạo
chiến tranh nhân dân ở địa phương trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đánh
yêu cầu chiến đấu và xây dựng của từng thời điểm chiến tranh. Đây là một chuyên
đề tổng kết; vả lại do địa bàn phản ánh khá rộng (bao gồm cả Tây Nguyên) nên
những nội dung được đề cập đều mang tính khái quát, sơ lược. Đặc biệt là quá
trình hình thành, phát triển, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng căn cứ địa ở các
tỉnh, thành phố thuộc Trung Trung Bộ chưa được đi sâu nghiên cứu một cách có
hệ thống.
Công trình Vành đai diệt Mỹ trên chiến trường Khu 5 – một sáng tạo của
chiến tranh nhân dân Việt Nam của BTL Quân Khu 5 – Viện Lịch sử Quân sự Việt
Nam (Nxb Quân đội nhân dân, HN, 2002) cũng đề cập đến căn cứ địa cách mạng
thông qua cách tiếp cận từ việc khảo cứu các “căn cứ lõm” 1 trong hoạt động của
F
0
“vành đai diệt Mỹ”. Một số bài viết trong cuốn sách đã tập trung luận giải sự khác
nhau giữa “căn cứ lõm” và căn cứ chiến đấu; đồng thời nêu bật vai trò của một số
Căn cứ lõm, căn cứ của lực lượng kháng chiến nằm sâu trong vùng địch tạm chiếm trong kháng chiến
chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ; xuất hiện trong chiến tranh nhân dân Việt Nam để đấu tranh chống
địch có hiệu quả. Căn cứ lõm thường có quy mô không lớn nhưng chiếm giữ vị trí xung yếu mà lực lượng
kháng chiến dựa vào đó để xây dựng và phát triển lực lượng phục vụ cho đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ
trang trong vùng địch hậu (Bộ Quốc phòng – Trung tâm Từ điển Bách khoa Quân sự (2007), Từ điển thuật
ngữ Quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, HN, tr. 96)
1
Footer Page 22 of 166.
21
Header Page 23 of 166.
Footer Page 23 of 166.
22
Header Page 24 of 166.
Viện Lịch sử Công an, (Nxb Công an nhân dân, 2008) phản ánh sự chỉ đạo, lãnh
đạo của Ban An ninh Khu V đối với hoạt động bảo vệ Đảng, bảo vệ vùng giải
phóng và căn cứ địa cách mạng. Bên cạnh đó, một số cuộc chiến đấu chống địch
càn quét, bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng của khu, của các tỉnh thuộc Trung
Trung Bộ cũng được trình bày tương đối cụ thể trong công trình này.
Công trình Quá trình xây dựng và truyền thống của Ban Tổ chức Liên Khu ủy
V (1945-1975) (Ban liên lạc Ban tổ chức Liên Khu ủy V xuất bản năm 2008) đi sâu
làm rõ một số nội dung liên quan đến hoạt động xây dựng căn cứ địa bao gồm:
chuẩn hóa địa điểm đóng cơ quan của Liên khu V, Khu ủy V trong kháng chiến
chống Mỹ; diễn biến cuộc chiến đấu bảo vệ Mật khu Đỗ Xá (4-1963); phong trào
xây dựng làng chiến đấu; hoạt động sản xuất và huy động sự đóng góp của nhân
dân đối với cuộc kháng chiến.
Trong các công trình Lịch sử Đảng bộ cấp tỉnh: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình
Định (1954-1975) (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Định xuất bản năm 1996); Lịch sử
Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) (Ban Tuyên Giáo Tỉnh ủy
Phú Yên ấn hành năm 1996); Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1954-1975) (Nxb,
Chính trị Quốc gia, HN, 1999); Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam – Đà Nẵng (19301975) (Nxb Chính trị Quốc gia, HN, 2006), vấn đề căn cứ địa cách mạng được phản
ánh ở nhiều khía cạnh: chủ trương của Đảng bộ địa phương về xây dựng căn cứ địa
cách mạng; hoạt động chiến đấu của LLVT và nhân dân chống các cuộc hành quân
càn quét của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa (VNCH), bảo vệ căn cứ địa; một
số thành quả trong quá trình xây dựng căn cứ địa, vùng giải phóng trên các lĩnh vực
quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế. Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu khá
rộng nên những nội dung liên quan đến vấn đề căn cứ địa cũng chỉ được trình bày
xây dựng căn cứ địa cách mạng về chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội hầu như chỉ
được đề cập thoảng qua.
Ngoài các công trình kể trên, còn có một số bài báo đăng trên các tạp chí
chuyên ngành đề cập đến hoạt động xây dựng căn cứ địa ở Khu V nói chung, hoặc
một số căn cứ tiêu biểu ở các địa phương.
Bài Tìm hiểu quá trình hình thành căn cứ địa miền núi Khu V trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của Trần Hữu Đính, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 31986 đã phân tích, luận giải âm mưu và thủ đoạn đánh phá của địch đối với miền
núi Khu V; nhấn mạnh chủ trương của Đảng về xây dựng căn cứ địa cách mạng,
quá trình phát triển các “khu bất hợp pháp” thành những căn cứ đứng chân vững
chắc của cách mạng như căn cứ Tung Bủng, Cô Sia, Tân Túc, Đắc Min, xã Đoàn,
xã Hiếu (Kon Tum), huyện 2, huyện 7 (An Khê), Nam – Bắc đường 9 (Trị Thiên),
Footer Page 25 of 166.
24