skkn vấn đế bối dưỡng và một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên ở trường tiểu học thị trấn sóc sơn - Pdf 41

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1. Cơ sở lý luận:
Sự nghiệp giáo dục có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con
người, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ 8 của Đảng đã xác định: “ Cùng với khoa học và công nghệ giáo
dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và
bồi dưỡng nhân tài ”. Tiếp tục phát triển những tư tưởng của Đại hội 8 về giáo
dục. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng nhấn mạnh: “
Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự
nghiệp Công nghiệp hoá, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con
người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền
vững” Nghị quyết hội nghị lần thứ hai ban chấp hành TW khoá 8 đã nhấn mạnh:
“ Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo
dục đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định cho sự tăng
trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cho
phát triển”.
Bước vào thế kỉ 21, thế kỉ của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
giáo dục và đào tạo trở thành một nhân tố có ý nghĩa quyết định tốc độ và quy
mô của sự phát triển. Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành TW Đảng khoá 8 cũng
đã xác định: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng con người
và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có
đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân
tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại, phát huy tiềm năng của
dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực
cá nhân, làm chủ tri thức, khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có
kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỉ luật, có sức
khoẻ, là những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa “hồng” vừa
“chuyên” như lời căn dặn của Bác Hồ”.

trường Tiểu học Thị Trấn nói riêng có nhiều chuyển biến rõ nét:
Về quy mô: Toàn trường có 20 lớp học với tổng số học sinh giao động
hàng năm từ 640-700 học sinh. Tỷ lệ trẻ 6 tuổi hàng năm vào lớp 1 đạt 100%.
2


Cơ sở vật chất của trường đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập của giáo
viên và học sinh.
Về đội ngũ quản lý: Tổng số có 02 đ/c, trong đó số có trình độ Đại học là
02. Cả 02 đ/c đã có trình độ trung cấp lý luận chính trị và đã qua đào tạo kiến
thức về quản lý nhà nước, quản lý giáo dục.
Về đội ngũ giáo viên: Đủ theo hệ số quy định: 1,5 GV/lớp (với trường học
2buổi/ngày). Trong đó số giáo viên có trình độ Đại học là 16 đ/c, Cao đẳng là 16
đ/c. Qua đánh giá xếp loại, số giáo viên xếp loại Giỏi đạt từ 70% trở lên, không
có giáo viên xếp loại trung bình và yếu, kém.
Về chất lượng dạy học: Được sự đầu tư của các cấp lãnh đạo, sự nỗ lực
phấn đấu của nhà trường, chất lượng giáo dục của nhà trường nhiều năm qua ổn
định, tỷ lệ học sinh xếp loại văn hoá khá, giỏi năm học 2008 – 2009 đạt 85,6%,
năm học 2009 – 2010 đạt 93,9%, năm học 2010 – 2011 đạt 94,4%. Tỷ lệ học
sinh hoàn thành chương trình Tiểu học hàng năm đạt 100%.
Tuy đã có những chuyển biến rõ nét nhưng chất lượng giáo dục của
trường vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục:
Học lực của học sinh trong trường không đồng đều: Giữa các em học sinh
là con cơ quan với các em học sinh là con em nông dân.
Đội ngũ giáo viên tuy đã đủ về số lượng, tỷ lệ đạt trên chuẩn cao nhưng
không đồng đều, một số giáo viên tuổi đã cao, khả năng ứng dụng CNTT trong
giảng dạy còn hạn chế.
Chất lượng dạy và học: chất lượng giáo dục mặc dù có tăng song vẫn còn
thấp so với mặt bằng chất lượng của các trường xuất sắc trong Thành phố, chất
lượng mũi nhọn chưa thật cao.

I: LÝ LUẬN CHUNG

1. Khái niệm:
Dạy học là hoạt động truyền đạt và lĩnh hội khái niệm dưới sự điều khiển
có mục đích, có tổ chức, có phương pháp của người dạy để cuối cùng hình thành
cho người học những phẩm chất và năng lực nhất định.
Quá trình dạy học là tổng thể hoạt động dạy học kế tiếp, liên tục trong
một khoảng thời gian hữu hạn và theo một trình tự chặt chẽ. Quá trình dạy học
bao gồm hai hoạt động hữu cơ, có liên quan chặt chẽ với nhau: Hoạt động dạy
của giáo viên và hoạt động học của học sinh.
Hoạt động dạy của giáo viên là hoạt động chủ đạo trong quá trình dạy
học. Giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy, bao gồm hai chức năng: chủ đạo
truyền đạt và tổ chức nhận thức của tri thức.
Học sinh là đối thể của hoạt động dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động
học. Hoạt động học của học sinh cũng thực hiên hai chức năng: chủ động tiếp
thu và tự tổ chức nhận thức theo sự chỉ đạo của giáo viên cũng như sự tự chỉ đạo
bởi nhu cầu nhận thức của bản thân. Hoạt động học chỉ có thể đạt hiệu quả cao
nếu như học sinh tiến hành một cách tích cực, chủ động, tự giác. Thông qua hoạt
động học tập học sinh tự hình thành nhân cách của mình.
Để thực hiên mục tiêu giáo dục, đào tạo con người mới, nhà trường tiểu
học phải thực hiện giáo dục một cách toàn diện: Đức, Trí, Thể, Mỹ, Lao động.
Các mặt giáo dục này được thông qua nhiều con đường khác nhau như: Dạy
học, hoạt động tập thể, vui chơi giải trí . . . Trong đó dạy học giữ vai trò quan
trọng. Dạy học là con đường thuận lợi nhất giúp học sinh trong một khoảng thời
gian ngắn nhất có thể nắm vững một lượng tri thức với chất lượng cần thiết. Dạy
học là con đường quan trọng nhất giúp học sinh phát triển một cách có hệ thống
năng lực hoạt động trí tuệ nói chung đặc biệt là năng lực tư duy sáng tạo. Dạy
học cũng là con đường chủ yếu góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan
hoa học, nhân sinh quan cộng sản và phẩm chất của con người mới “ Dạy chữ để
dạy người ”.

công chức của Chính phủ.
Để thực hiện tốt nhiệm vụ năm học 2011-2012.
6


II: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ BỒI DƯỠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN
SÓC SƠN

1. Đặc điểm trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn
Trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn được thành lập năm 1988, tiền thân là
trường Phổ thông cơ sở Thị Trấn. Khi ấy trường còn rất khó khăn, thời kỳ đầu
trường chỉ có những phòng học cấp 4, học ghép với trường THCS Thị Trấn.
Trang thiết bị phục vụ giảng dạy còn thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chuyên môn
mới chỉ đạt chuẩn, chuyên môn chưa cao, chưa thu hút được học sinh trong
vùng.
Năm 1993, trường được tách riêng với tên gọi trường TH Thị Trấn Sóc
Sơn. Hai năm sau trường được tiếp nhận một cơ sở mới với diện tích 2600m 2, cơ
sở vật chất, thiết bị dạy học được đầu tư. Cơ sở mới này đã đáp ứng được phần
nào nhu cầu học tập của học sinh và yêu cầu giảng dạy của giáo viên. Cũng từ
đây thành tích thi đua ngày càng dày thêm trên những trang vàng truyền thống
của nhà trường.
Trước yêu cầu phát triển khách quan của giáo dục, được sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo và sự tham mưu tích cực, đúng hướng của Ban giám hiệu, năm
học 2001 – 2002 một ngôi trường Tiểu học Thị Trấn mới khang trang với diện
tích 8460m2 được xây dựng theo chuẩn trường Tiểu học chuẩn Quốc gia với một
khung cảnh sư phạm, quy hoạch tổng thể gọn đẹp, tổng giá trị gần 10 tỉ đồng
được đưa vào sử dụng, gồm 33 phòng, trong đó có có 20 phòng học văn hoá,
còn lại là các phòng chức năng như: Thư viện, Đồ dùng dạy học, Y tế học
đường, Tin học, Mỹ thuật, . . . được khai thác triệt để đáp ứng nhu cầu học tập

- Giáo viên cơ bản

: 24

- Giáo viên Nhạc

: 01

- Giáo viên Mỹ thuật

: 01

- Giáo viên Thể dục

: 02

- Giáo viên Ngoại ngữ : 02
- Giáo viên Tin học

: 01

- Nhân viên

: 07

* Về trình độ giáo viên: Đạt trên chuẩn: 100%
* Số Đảng viên: 29 (trong đó Nữ 27)
* Độ tuổi:
- Dưới 30: 05
- Dưới 40: 21

BD qua hội

CĐSP Tại

ĐHSP Tại

lớp BDTX

tế, dự giờ,

thảo, tham quan

chức

chức

sinh hoạt CM

học hỏi

16/32=50%

16/32=50%

100%

100%

100%




11


12


Trong thời đại về công nghệ thông tin, việc sử dụng thành thạo vi tính và
ngoại ngữ thông dụng là điều kiện thuận lợi để nâng cao trình độ và giao tiếp. Vì
vậy cũng phải bồi dưỡng để giáo viên có thể tiếp cận và sử dụng thành thạo lĩnh
vực này.
13


* Về kĩ năng sư phạm:
Có các kĩ năng sư phạm (Kĩ năng dạy và giáo dục, kĩ năng tổ chức), kĩ
năng chuẩn bị bài lên lớp (xác định yêu cầu, nội dung cơ bản của bài học, dự
kiến các phương pháp, phương tiện dạy học sẽ sử dụng), biết phân bố thời gian
hợp lý trong tiết dạy và trình bày giáo án khoa học. Khi lên lớp phải biết ổn định
tổ chức lớp . . . và trong quá trình dạy phải giữ vai trò chủ động quản lý lớp học,
hướng dẫn kịp thời các học sinh cần được quan tâm hơn. Giáo viên giảng giải rõ
ràng, mạch lạc. . . biết đặt câu hỏi và duy trì không khí hứng thú, tích cực học
tập của học sinh. Sử dụng các phương pháp dạy học, đồ dùng dạy học hợp lý.
Biết kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Biết lập hồ sơ giảng dạy và
tích luỹ tư liệu giảng dạy. Biết xây dựng hồ sơ theo dõi học tập của học sinh. . .
Có khả năng quản lý lớp học và tổ chức các hoạt động của học sinh trong và
ngoài nhà trường. Biết các giao tiếp của học sinh, phụ huynh học sinh và đồng
nghiệp. Thể hiện khả năng duy trì và phát triển mối quan hệ giữa giáo viên với
học sinh và giữa học sinh với học sinh.

động cơ đúng đắn trong việc bồi dưỡng để họ tự bồi dưỡng, không chạy theo
thành tích. Người quản lý phải thể hiện mình là chỗ dựa cho giáo viên theo
hướng tích cực, động viên dọ sẵn sàng bày tỏ những khó khăn, vướng mắc của
mình trong chuyên môn, trong công tác bồi dưỡng và trong cuộc sống.
Giúp họ nhận thức rõ việc học là suốt đời, kiến thức là mênh mông,việc
học là vô tận. Lênin đã nói “ Học, học nữa, học mãi ” có như vậy mới đáp ứng
được yêu cầu phát triển ngày càng cao của giáo dục.
Trong giảng dạy, yêu cầu mỗi giáo viên phải xác định đúng mục đích, yêu
cầu của từng bài học, cân nhắc lựa chọn các phương pháp dạy học cho phù hợp,
thông qua mỗi tiết dạy, mỗi bài học, mỗi buổi sinh hoạt chuyên môn để nâng cao
trình độ của mình.
Trong công tác tự bồi dưỡng, ngay từ đầu năm học, khi phân công nhiệm
vụ, Ban giám hiệu cần có sự cân nhắc để phân công một cách hợp lý, để giáo
viên có thể hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong giảng dạy cũng như trong công tác bồi
dưỡng.
Xây dựng chế độ khen thưởng, động viên kịp thời với những giáo viên có
thành tích xuất sắc trong công tác bồi dưỡng đồng thời dựa vào đánh giá, xếp
loại thi đua với những giáo viên chưa hoàn thành công tác bồi dưỡng.

17


18


b. Vai trò của tổ khối chuyên môn:
Có thể nói nếu người cán bộ quản lý là người bạn song hành thì tổ, khối
chuyên môn chính là ngôi nhà nhỏ mà tất cả các thành viên trong ngôi nhà đó là
những anh chị em, không những cùng nhau chia ngọt sẻ bùi mà còn là nơi có
điều kiện nhất để giúp nhau cùng tiến bộ, cùng nâng cao tay nghề. Chính vì vậy

a. Tăng cường đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội ngũ:

22


Thực hiện tốt chỉ thị số 26/2003/CT – UB ngày 31/7/2003 của UBND
Thành phố về thực hiện đầu tư cho giáo dục Thủ đô.
Chú trọng đầu tư cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bồi dưỡng như: tài
liệu tham khảo, xây dựng phòng học bộ môn, trang bị các phương tiện dạy học
hiện đại như máy tính, máy prochecter, máy chiếu vật thể. Đầu tư kinh phí mua
sắm thêm thiết bị cho các phòng chức năng như: phòng thư viện, phòng tin học,
phòng đồ dùng dạy học, phòng hát nhạc, phòng ngoại ngữ.
Tăng cường đầu tư phát triển công nghệ thông tin, nối mạng cho các
phòng tin, phòng bộ môn, phòng thư viện, từng bước hiện đại hoá nhà trường,
tạo điều kiện để giáo viên có thể tiếp cận một cách nhanh nhất các thông tin để
học hỏi kinh nghiệm trong thời gian ngắn nhất.
b. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên:
Tổ chức thực hiện tốt chỉ thị số 40/CT- TW ngày 15/6/2005 của Ban bí
thư TW Đảng và chỉ thị 35 của Thành uỷ về nâng cao chất lượng đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý giáo dục, đổi mới công tác quản lý.
Tiếp tục triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên cho 100% số giáo
viên trong nhà trường. Tăng cường công tác bồi dưỡng giáo viên, đảm bảo tốt
chế độ chính sách đối với giáo viên.

23


24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status