Header Page 1 of 113.
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
----------***----------
BẠCH VĂN SỸ
Đề tài: “Nghiên cứu biện pháp móng Top – Base xử lý nền đất yếu dưới móng
tường chắn đất thuộc dự án đường Bờ Kè sông Cái – thành phố Nha Trang –
Khánh Hòa”.
CHUYÊN NGÀNH: Xây dựng đường ô tô và đường thành phố
Mã số : 60.58.30
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VŨ THẾ SƠN
Năm 2013
Footer Page 1 of 113.
--1--
Header Page 2 of 113.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Footer Page 2 of 113.
Header Page 3 of 113.
--2--
1. 3. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn:
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn là các kết quả nghiên cứu của luận văn hoàn toàn
có thể áp dụng để thiết kế xử lý nền đất yếu dưới đáy móng công trình bằng biện pháp
móng Top – Base nhằm mang lại hiệu quả về xử lý nền cũng như hiệu quả về kinh tế.
2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nền đất yếu bão hòa nước thuộc địa chất khu
vực ven sông Cái và biện pháp cải tạo đất yếu bằng phương pháp móng Top – Base dựa
trên các tiêu chuẩn xây dựng hiện hành.
3. Phạm vi nghiên cứu:
Biện pháp móng Top – Base là một biện pháp cải tạo đất yếu mới đưa vào áp dụng
tại Việt Nam từ những năm 2008 và chủ yếu là xử lý nền đất yếu dưới móng của các
công trình nhà dân dụng và công nghiệp. Tuy nhiên, ở đây luận văn nghiên cứu biện pháp
cải tạo này áp dụng cho kết cấu tường chắn đất ven sông thuộc dự án đường Bờ Kè sông
Cái – thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh hòa.
4. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
Mục đích của luận án nhằm giới thiệu một cách tổng quát các phương pháp xử lý
nền đất yếu khi tiến hành xây dựng công trình trên nền đất yếu. Trong đó biện pháp cải
tạo đất yếu bằng móng Top – Base sẽ được xem xét, phân tích và tính toán một cách kỹ
lưỡng, chi tiết hơn. Qua đó giúp cho người kỹ sư thiết kế cũng như nhà quản lý có cơ sở
để lựa chọn và tìm ra giải pháp thiết kế một cách hiệu quả nhất.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết kết hợp với phương pháp
Trình bày một cách tổng quát về các biện pháp xử lý nền đất yếu hiện nay, ưu
nhược điểm và phương pháp tính toán của chúng. Đồng thời chọn nội dung nghiên cứu
của luận văn.
Chương 2: Cơ sở tính toán biện pháp xử lý nền đất yếu bằng móng Top –
Base.
Trong chương này mục đích trình bày chi tiết về cơ sở tính toán và biện pháp thi
công móng Top – Base hiện nay.
Chương 3: Thiết kế biện pháp xử lý nền đất yếu dưới móng tường chắn đất
thuộc dự án đường Bờ Kè sông Cái.
Trong chương này tác giả trình bày nội dung tính toán xử lý nền đất yếu bằng
móng Top – Base khi áp dụng vào bài toán cụ thể là xử lý nền đất yếu dưới móng tường
chắn đất, phục vụ cho việc chắn đất nền đường giúp đảm bảo ổn định của nền đường ven
sông, đồng thời so sánh với giải pháp thiết kế hiện hữu là sử dụng cọc bê tông cốt thép.
Chương 4: Kết luận và kiến nghị. Trình bày những kết luận và kiến nghị của tác
giả khi nghiên cứu về biện pháp xử lý nền đất yếu bằng móng Top – Base.
Footer Page 4 of 113.
Header Page 5 of 113.
--4-CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ NỀN ĐẤT YẾU
1.1. Khái niệm về đất yếu:
Đất yếu là những loại đất có khả năng chịu lực thấp (0.5 – 1 kG/cm2), hầu như
hoàn toàn bão hòa nước, có hệ số rỗng lớn (thường e >1), hệ số nén lún lớn, modul biến
dạng bé (E0 < 50kG/cm2)[18]. Giá trị sức chống cắt không đáng kể. Công trình xây dựng
trên nền đất yếu phải có biện pháp xử lý, nếu không thì sau khi xây dựng công trình khó
có khả năng đứng vững trong suốt thời kỳ khai thác.
Công trình xây dựng khi tiến hành xây dựng trên nền địa chất yếu sẽ phát sinh
biến dạng lún gây nên sự hoạt động không bình thường của kết cấu bên trên, nguyên
nhân là do nền đất yếu không đủ khả năng chịu lực, phát sinh biến dạng lún lớn. Chính vì
vậy khi xây dựng công trình lên nền đất yếu người ta thường phải có các biện pháp xử lý
dựa vào các yêu cầu sau[8]:
Đảm bảo yêu cầu về mặt cường độ: Nền đất yếu sau khi được áp dụng các
biện pháp xử lý thì cần phải đủ cường độ hay nói cách khác là cần phải đủ sức chịu tải,
không phát sinh hiện tượng phá hoại cắt hoặc trượt khi tiến hành xây dựng bên trên trong
suốt quá trình thi công cũng như khai thác.
Đảm bảo yêu cầu về độ lún: phải tính toán được độ lún của nền cũng như
của công trình để từ đó có biện pháp xử lý thích hợp.
1.2.2. Các phương pháp gia cố nền đất yếu:
1.2.2.1.
Phương pháp thay đất đệm cát:
a. Phạm vi áp dụng.
Thay đất là biện pháp thay nền đất yếu bằng các loại vật liệu có cường độ chống
cắt lớn như cát, cát sỏi, đất tốt… lớp đệm cát sử dụng hiệu quả nhất khi lớp đất yếu là đất
sét bão hòa nước và có chiều dày nhỏ hơn 3m. Việc thay đất bằng đệm cát thường có tấc
dụng chính sau đây:
Giảm độ lún của nền công trình và độ lún không đều, đồng thời làm tăng
nhanh quá trình cố kết của đất nền (vì cát có hệ số thấm lớn).
d
Hình 1.1: Sơ đồ thiết kế đệm cát
Xác định kích thước đệm cát:
Việc xác định kích thước đệm cát là một bài toán rất phức tạp vì lớp đệm cát và
lớp đất yếu dưới lớp đệm cát có tính chất hoàn toàn khác nhau, lớp đệm cát có kích thước
giới hạn còn lớp đệm cát có kích thước vô hạn nên trạng thái ứng suất phân bố là hoàn
toàn khác nhau. Ở Việt Nam hiện nay thường sử dụng phương pháp gần đúng để xác định
kích thước của đệm cát.
Kích thước đệm cát được thiết kế theo điều kiện biến dạng của đất nền phải thõa
mãn biểu thức sau:
1 2 Rtc
Trong đó: σ1 - ứng suất thường xuyên do trọng lượng bản thân đất nền và đệm cát
tác dụng trên mặt đất yếu dưới đáy lớp đệm.
Footer Page 7 of 113.
--7--
Header Page 8 of 113.
σ2 - ứng suất do tải trọng công trình gây ra trên mặt lớp đất yếu dưới
đáy lớp đệm cát.
Rtc – áp lực tiêu chuẩn ở trên mặt lớp đất yếu dưới đáy lớp đệm cát,
được xác định theo công thức của quy phạm.
Trong đó: e – hệ số rỗng của cát trước khi đầm nén.
Δ – tỷ trọng hạt của cát.
Theo kinh nghiệm thi công thì độ ẩm tốt nhất có thể được lấy như sau:
Với cát hạt nhỏ: W = 21.7 – 22.5%
Với cát hạt trung: W = 15.5 – 17%
Khi thi công xong đệm cát cần tiến hành kiểm tra độ chặt bằng các phương pháp
quy định trong quy phạm.
Footer Page 8 of 113.
--8--
Header Page 9 of 113.
1.2.2.2.
Phương pháp lèn chặt đất bằng cọc cát:
a. Phạm vi áp dụng:
Cọc cát là một giải pháp xử lý nền đất yếu áp dụng phổ biến đối với các trường
hợp công trình có tải trọng không lớn với chiều dày lớp đất yếu tương đối lớn. Nó có các
tác dụng sau:
Làm tăng nhanh quá trình thoát nước lỗ rỗng, dẫn đến quá trình cố kết của
nền đất yếu được nhanh hơn, làm cho độ lún của nền đất nhanh đạt tới trạng
thái ổn định.
Đất được nén chặt thêm, độ rỗng của đất giảm và cường độ của nền phức
hợp (gồm cọc cát và đất giữa cọc cát) được tăng lên.
Thi công đơn giản bằng các vật liệu rẻ tiền như cát thô, sỏi sạn nên chi phí
A – chỉ số dẻo của đất
Diện tích nền được lèn chặt:
Diện tích nền được lèn chặt tính theo công thức:
Footer Page 9 of 113.
Fn = (b +2c)(l+2c)
--9--
Header Page 10 of 113.
Trong đó:
b, l – bề rộng và chiều dai móng
c = 0.1b nhưng không nhỏ hơn 0.5m
Diện tích tiết diện cọc cát trong 1m2 diện tích nền:
Fc e0 etk
, với Fc – tổng diện tích các tiết diện cọc cát, Fn – diện tích
Fn 1 e0
đệm dày tối thiều 50cm, lớp đệm này có tác dụng tạo phẳng mặt thi công và thoát nước
trong các cọc cát ra ngoài.
Hiện nay công nghệ thi công cọc cát thường dùng bằng máy tạo lỗ cọc chuyên
dụng. Máy ấn ống thép (đường kính 40 – 50cm) vào đất đến độ sâu thiết kế. Khi ấn, đầu
ống thép đóng lại, sau đó nhấc bộ phận chấn động ra, nhồi cát vào và đổ cao chừng 1m.
Rồi đặt máy chấn động và rung khoảng 15 – 20s, tiếp theo bỏ máy chấn động ra và rút
ống lên khoảng 0.5m, rồi lại đặt máy chấn động vào rung khoảng 10 – 15s để cho đầu cọc
của ống mở ra và cát tụt xuống. Sau đó rút ống lên dần dần với vận tốc đều, vừa rút vừa
rung cho cát được làm chặt.
Sau khi thi công xong cọc cát cần kiểm tra lại bằng phương pháp xuyên tiêu
chuẩn, thử bàn nén tĩnh hoặc khoan lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu cơ lý của đất sau khi
lèn chặt bằng cọc cát.
Footer Page 10 of 113.
--10--
Header Page 11 of 113.
1.2.2.3.
Phương pháp gia tải nén trước:
Khi tiến hành xây dựng công trình trên nền đất yếu bão hòa nước như bùn, than
bùn, sét, á sét dẻo vv… thì áp dụng biện pháp cọc cát đơn thuần ít có tác dụng vì đất dính
bão hòa nước là loại đất có đặc điểm là cố kết kéo dài theo thời gian. Vì vậy, muốn quá
trình cố kết diễn ra nhanh chóng, nền đất nhanh đạt sức chịu tải thiết kế thì cần phải có hệ
thống nén trước để đẩy nhanh quá trình cố kết nói trên.
Phương pháp gia tải nén trước được sử dụng nhằm mục đích:
Làm tăng sức chịu tải của đất nền.
Hình 1.2: Các điều kiện địa chất công trình để dùng phương pháp gia tải nén trước
không dùng giếng thoát nước
Phương pháp nén trước dùng giếng cát thoát nước:
Việc sử dụng giếng cát là để thoát nước nhanh cho tầng đất yếu phía dưới. Vì vậy,
quá trình cố kết của nền đất diễn ra nhanh chóng đồng thời thời gian đạt tới độ lún ổn
định của nền đất được rút ngắn.
1.2.2.4.
Phương pháp cọc đất gia cố xi măng/ vôi:
a. Đặc điểm và phạm vi sử dụng:
Gia cố bằng cọc đất xi măng/vôi là phương pháp cải tạo sâu làm tăng độ ổn định
của nền đất yếu bằng phương pháp trộn khô hoặc trộn ướt các chất kết dính với đất tạo
thành một trụ đất xi măng hoặc vôi. Phương pháp này có thể cải tạo một phần hoặc toàn
bộ chiều dày của nền đất yếu tùy thuộc vào tải trọng của công trình.
Phương pháp cọc đất xi măng/vôi được sử dụng nhằm mục đích sau:
Tăng độ bền của kết cấu đất cần được cải tạo nhằm để tăng độ ổn định của
khối đất đắp, tăng khả năng chịu tải trọng, ngăn chặn hiện tượng hóa lỏng
của nền đất.
Cải tạo tính chất biến dạng của đất yếu thông qua việc giảm độ lún của nền,
giảm thời gian chờ lún cố kết của nền đất, từ đó giảm thời gian thi công của
công trình.
b. Nguyên lý thiết kế:
Đất xử lý trộn sâu được thiết kế sao cho công trình xây dựng đạt các yêu cầu về
tính khả thi, tính kinh tế và ổn định lâu dài, chịu được các tác động cũng như các ảnh
hưởng trong quá trình thi công và sử dụng, tức là thõa mãn các điều kiện về trạng thái
giới hạn cường độ và trạng thái giới hạn sử dụng.
khô, phương pháp phun trộn ướt.
Phương pháp phun trộn khô: phương pháp này, bột xi măng hoặc vôi bột
sống được phụt sâu vào lòng đất thông qua ống khí nén, sau đó các bột này
được trộn một cách cơ học nhờ thiết bị cánh quay. Với phương pháp trộn
khô, không cho thêm nước vào trong đất nền hiệu quả sẽ cao hơn phương
pháp phun vữa. Khi dùng vôi sống, quá trình thủy phân sẽ tạo ra lượng nhiệt
làm khô đất xung quanh, do đó công tác cải tạo sẽ có kết quả hơn. Hiện nay,
bằng thiết bị máy móc hiện đại cọc đất xi măng có thể trộn với chiều sâu
40m.
Footer Page 13 of 113.
--13--
Header Page 14 of 113.
Phương pháp phun trộn ướt: với phương pháp này vữa sẽ được phun vào
nền đất sét với áp lực 20kPa bằng một vòi phun xoay. Ưu điểm của phương
pháp này là thiết bị thi công nhẹ nên có thể di chuyển dễ dàng trong công
trường. Nhược điểm của phương pháp là đường kính của cọc đất thay đổi
theo độ sâu tùy theo độ bền cắt của đất nền.
1.2.2.5.
Phương pháp bơm hút chân không.
Nguyên lý của giải pháp bơm hút chân không là dùng bơm hút để tạo một khoảng
chân không giữa một màng kín phủ phía trên với khu vực đất yếu cần xử lý ở phía dưới.
Nhờ lực hút chân không mà nước cố kết theo các phương tiện thoát nước thẳng
đứng và băng thoát nước ngang ra ngoài hào thu nước được bố trí 2 bên. Thông thường
80 của thế kỷ XX. Trong thời gian đầu thì giải pháp này không được quan tâm nghiên
cứu và phát triển. Sau trận động đất lớn ở Chiba Nhật Bản vào năm 1987, người Nhật
nhận thấy sự bền vững của những công trình được sử dụng phương pháp Top - Base. Từ
đó họ bắt đầu tập trung nghiên cứu và phát triển chúng.
Top - Base đã trở thành một thuật ngữ quốc tế dưới tên gọi Phương pháp móng
cọc đài phễu (Top - Base Method). Với việc chế tạo hàng loạt những Top-Block bằng bê
tông trong nhà máy, Phương pháp Top - Base dễ dàng được sử dụng trong nhiều công
trình tại Nhật Bản. Tuy nhiên, mỗi Top-Block nặng khoảng 75kg, việc vận chuyển chúng
đến công trường rất phức tạp và đòi hỏi thi công bằng các thiết bị lớn.
Nhận thấy tính ưu việt của Phương pháp Top - Base, các kỹ sư Hàn Quốc nhanh
chóng nghiên cứu, ứng dụng và cải tiến mạnh mẽ công nghệ này. Thay cho việc đúc sẵn
trong nhà máy, Top-Block được đổ ngay tại hiện trường với những khuôn nhựa được làm
từ rác thải tái chế. Những cải tiến này góp phần giảm giá thành cũng như rút ngắn thời
gian thi công và xử lý được một phần chất thải rắn khó phân huỷ.
Năm 1995, Bộ giao thông xây dựng Hàn Quốc đã kiểm định và cho phép áp dụng
rộng rãi Phương pháp Top - Base trên toàn lãnh thổ Hàn Quốc.
Móng Top-Base được cấu tạo từ các khối bê tông hình phễu xen giữa là lớp vật
liệu rời giúp cho các khối bê tông hình phễu đó thêm vững chắc đồng thời tham gia một
phần vào quá trình tiếp nhận tải trọng của công trình bên trên thông qua việc hạn chế biến
dạng ngang.
Hình 1.3: Cấu tạo nền Top –Base[1]
Tính ưu việt của phương pháp Top-Base:
Đảm bảo an toàn cho tải trọng đặt trên nền đất yếu.
Footer Page 15 of 113.
Header Page 16 of 113.
và thi công rõ ràng. Do đó để có được đánh giá cụ thể về phương pháp chúng ta cần phải
giải quyết một số nội dung sau:
Kiểm tra tính ứng dụng của phương pháp trong điều kiện địa chất ở nước
ta.
Đánh giá mức độ hợp lý của phương pháp khi áp dụng vào một công trình
cụ thể có tính chất trải dài theo tuyến.
Footer Page 16 of 113.
Header Page 17 of 113.
--16--
Tiến tới ban hành những hướng dẫn cụ thể về thiết kế và thi công móng
Top – Base.
1.4.2.
Lựa chọn nội dung nghiên cứu:
Phương pháp này đã được chuyển giao cho công ty Tadits tại Việt Nam vào năm
2008. Tuy nhiên những tài liệu cụ thể về tính toán thiết kế và thi công lưu hành còn rất ít.
Vì vậy, để nghiên cứu và áp dụng phương pháp này một cách có hiệu quả về kỹ thuật lẫn
kinh tế thì cần phải có nhiều thời gian và cần phải kết hợp với tính toán trong phòng và
kiểm tra thông qua kết quả thí nghiệm hiện trường, đồng thời cần có những tập hợp, đánh
giá qua những công trình đã hoàn thiện thi công.
Trong khuôn khổ của luận án này tôi chỉ nghiên cứu các vấn đề về nguyên lý thiết
kế và biện pháp thi công móng Top – Base, đồng thời áp dụng phương pháp vào tính toán
cụ thể một công trình được xây dựng trên nền địa chất yếu.
Footer Page 18 of 113.
--18--
Header Page 19 of 113.
2.2.1. Tình hình áp dụng trên thế giới:
Công nghệ Top-Base vốn được coi là một bước đột phá về công nghệ xây dựng ,
đã được hoàn thiện và áp dụng thành công trên nền đất yếu hơn 30 năm ở Nhật Bản, Hàn
Quốc. Công nghệ Top-Base được phát minh tại Nhật Bản vào những năm 1980, trong
thời gian này công nghệ mới Top –Base đã dành được sự tín nhiệm rất cao của các kỹ sư
xây dựng và được ứng dụng rộng rãi tại Nhật Bản với hơn 6000 công trình được xây
dựng trên nền đất Top-Base. Các công trình xây dựng trên nền Top- Base đã qua được các
trận động đất khủng khiếp tại Chiba năm 1987 và Kobe năm 1995 mà hầu như không bị hư
hại gì. Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã được tiến hành để lý giải hiệu quả của
phương pháp và đã được công bố trên các tạp chí Địa kỹ thuật của Nhật bản cũng như tại các
hội thảo quốc tế về xử lý nền.
Đầu những năm 1990 công nghệ được nghiên cứu ứng dụng tại Hàn Quốc và đã
có nhiều phát minh quan trọng kể từ đó, đặc biệt trong lĩnh vực thi công. Các cải tiến của
Hàn Quốc đã làm cho Top-Base trở nên đơn giản và nhanh chóng hơn trong thi công,
thân thiện với môi trường và đặc biệt giá thành hạ một cách thuyết phục . Với hơn 2000
công trình ở Hàn Quốc được xây dựng trên nền Top- Base vào những năm 1990, riêng
năm 2007 đã có hơn 8 triệu khối bê tông Top-Block được sử dụng tương đương với 2
triệu m2 đất nền được gia cố. Nền Top-Base được sử dụng cho nền đất yếu để tăng cường
khả năng chịu tải của nền đất và giảm kết cấu móng. Nhờ những ưu việt của phương pháp
mới mang lại mà sau này được công ty Banseok Top-Base Co., Ltd tiếp tục nghiên cứu
và phát triển với trung tâm nghiên cứu chính đặt tại
trường đại học Dankook.
tác dụng ngăn sự biến dạng ngang.
Công nghệ mới móng Top-Base có tính đột phá nhờ chi phí rất thấp bởi thời gian
thi công ngắn cũng như sử dụng những vật liệu thi công rẻ tiền, dễ vận chuyển đến công
trường và phương pháp thi công đơn giản đồng thời giảm thiểu sự ô nhiễm môi trường
thông qua việc sử dụng tái chế các vật liệu nhựa phế thải để làm khuôn.
Cơ chế cải tạo đất bằng Top-Base : Phân bố đều ứng suất trong nền , tập trung ứng
suất gần đáy móng, hạn chế biến dạng ngang-khắc phục cơ chế phá hoại do trượt cục bộ
thành phá hoại do trượt sâu.
Một số công trình điển hình ở Nhật Bản và Hàn Quốc áp dụng phương pháp móng
Top-Base:
Hình 2.2: Bãi chứa container ở Kwangyang[1]
Hình 2.3: Cống hộp tại đại lộ Iksan[1]
Hình 2.4: Tường chắn đất ở Busan[1]
Footer Page 20 of 113.
--20--
Header Page 21 of 113.
2.2.2.
Tình hình áp dụng tại Việt Nam:
Công nghệ móng Top-Base được giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam trong buổi trao
đổi giữa Giáo sư Kim Hak-Moon của Trường Đại học Dankook, Seoul cùng Công ty
Header Page 22 of 113.
Móng Top-Base được cấu tạo từ các khối bê tông hình phễu xen giữa là lớp vật
liệu rời giúp cho các khối bê tông hình phễu đó thêm vững chắc đồng thời tham gia một
phần vào quá trình tiếp nhận tải trọng của công trình bên trên thông qua việc hạn chế biến
dạng ngang.
Hình 2.7: Cấu tạo nền Top –Base[1]
2.3.2.
Cấu tạo khối Top – Block:
Phương pháp Top-Base với đặc điểm khác biệt so với các phương pháp khác trong
cải tạo nền đất yếu ở chổ tận dụng được quá trình truyền ứng suất trong bê tông thông
qua các khối Top-Block. Hiện nay công nghệ Top –Base đưa ra 3 loại Top-Block với các
kích thước tương ứng là 330mm, 500mm và 2000mm có cấu tạo như hình sau[1]:
Hình 2.8: Cấu Tạo Top-Block 330,500[1].
2.3.3.
Nguyên lý chịu lực của móng Top – Base:
Hình 2.9a. Đặc tính của Top-Base [7
Footer Page 22 of 113.
Hình 2.9: Cấu Tạo Top-Block 2000[1].
Hình 2.9b. Bánh xích dạng Top-shape
của máy ủi[1]
Top-Base không chỉ có tác dụng phân phối đều tải trọng tác dụng và độ lún, nó còn làm
giảm cường độ tải trọng truyền qua lớp Top-Base do sự phân phối lại ứng suất, vì vậy tải
trọng tác dụng sẽ không gây ảnh hưởng đến lớp đất ở dưới sâu.
Hình 2.10. Phân phối ứng suất của các loại móng khác nhau sau khi lún dài hạn[1]:
Footer Page 23 of 113.
--23--
Header Page 24 of 113.
Hình 2.11. Phân bố ứng suất dưới nền không gia cố và nền gia cố bằng Top - Base[1]
2.3.3.1.
Tác dụng giảm lún:
Tác dụng giảm lún của móng Top – Base đã được chứng minh thông qua quá trình
thử nghiệm ở ngoài hiện trường và ở trong phòng thí nghiệm được biểu thị bằng quan hệ độ
lún theo thời gian. Quan hệ độ lún theo thời gian được xác định thông qua quá trình thử
nghiệm móng nông kích thước 1x1x0.1m trên 5 loại nền khác nhau (hình 2.12).
Hình 2.12: Các loại móng dùng kiểm tra
lún theo thời gian[1].
a) Nền tự nhiên không gia cố.
b) Nền gia cố bằng đá dăm dày 20cm.
c) Nền gia cố bằng cọc gỗ 12cm.
d) Nền gia cố bằng 1 lớp Top – Base.
e) Nền gia cố bằng 2 lớp Top – Base.