Bảo tồn và phát huy giá trị khu di tích đền An Sinh, xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh - Pdf 41

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 3
2. Mục đích nghiên cứu ................................................................................... 4
3. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................. 4
4. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 4
6. Bố cục tiểu luận ........................................................................................... 5
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ XÃ AN SINH VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
ĐỀN AN SINH .................................................................................................. 6
1.1. Khái quát về xã An Sinh ........................................................................ 6
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ..................................................... 6
1.1.2. Dân cư ............................................................................................ 7
1.1.3. Kinh tế ............................................................................................. 8
1.1.4. Văn hóa, xã hội ............................................................................... 9
1.2. Lịch sử hình thành đền An Sinh........................................................... 10
Chương 2: NHỮNG GIÁ TRI VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ
CỦA ĐỀN AN SINH....................................................................................... 13
2.1. Những giá trị văn hóa vật thể ................................................................ 13
2.1.1. Không gian cảnh quan .................................................................... 13
2.2.2. Kiến trúc ......................................................................................... 14
2.2.3. Di vật trong di tích .......................................................................... 15
2.2. Những giá trị văn hóa phi vật thể ........................................................... 16
2.2.1. Sinh hoạt văn hóa thường nhật ........................................................ 16
2.2.2. Lễ hội .............................................................................................. 17
2.3. Đền An Sinh trong đời sống văn hóa cộng đồng .................................... 19
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐỀN
AN SINH ......................................................................................................... 21
3.1. Thực trạng công tác bảo tồn di tích đền An Sinh ................................... 21
1


dân tộc, các công trình kiến trúc cổ có khả năng biểu đạt những nét chung nhất
về các mặt khoa học kĩ thuật và văn hóa nghệ thuật của từng thời đại. Khi xây
dựng các công trình kiến trúc, con người luôn có khát vọng biểu hiện cụ thể và
chân thực những tư tưởng của thời đại trong công trình xây dựng thông qua
hình tượng nghệ thuật và những phương pháp đặc thù của tri thức dân gian.
Chính vì vậy, các công trình kiến trúc không chỉ chứa đựng những giá trị về
mặt kiến trúc và nghệ thuật mà nó còn là một bức thông điệp về văn hóa, tư
tưởng của người xưa truyền lại cho các thế hệ sau.
Kiến trúc cổ Việt Nam phong phú và đa dạng về loại hình, trong đó ngôi
đền là một trong những địa điểm tâm linh có sức ảnh hưởng mạnh mẽ trong
đời sống văn hóa cộng đồng. Nhiều vị thần tối linh được phụng thờ trong các
di tích, nhiều nhân vật lịch sử được thần thánh hóa thành các vị thần bảo vệ
cho cả cộng đồng cư dân trong đó có nhiều nhân vật lịch sử tiêu biểu thời kì
nhà Trần. Đây là vương triều được xây dựng và tồn tại trong thời gian dài của
lịch sử dân tộc với sự phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực cùng với những
3


chiến công dạng rỡ trong công cuộc kháng chiến chống quân xâm lược. Tương
truyền nhà Trần khởi phát từ khu vực Đông Triều của Quảng Ninh sau mới
chuyển về vùng nước non Tức Mặc (Nam Định). Khi xây dựng vương triều
hùng mạnh, nhà Trần vẫn hướng về quê cũ nên nhiều vị vua sau khi qua đời đã
được an táng tại khu vực An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) và được phụng
thờ trải qua nhiều thế hệ. Ngôi đền nằm trên đất xã An Sinh hiện nay mà nhân
dân quen gọi là đền An Sinh chính là nơi phụng thờ các vị vua nhà Trần, là nơi
mà nhân dân khắp cả nước cùng hướng về với lòng thành kính và ngưỡng mộ.
Đây là nơi còn lưu giữ được nhiều giá trị độc đáo về mặt lịch sử, văn hóa, khoa
học… có vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của cư dân địa phương.
Chính vì vậy, em quyết định chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giá trị khu di
tích đền An Sinh, xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh” làm đề

liệu hiện vật có trong di tích.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu
6.

Bố cục tiểu luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, bài tiểu luận
được chia làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về xã An Sinh và lịch sử hình thành đền An Sinh
Chương 2: Những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của đền An
Sinh
Chương 3: Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị đền An Sinh

5


Chương 1
KHÁI QUÁT VỀ XÃ AN SINH VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
ĐỀN AN SINH
1.1. Khái quát về xã An Sinh
1.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.1.1.1. Vị trí địa lý
Huyện Đông Triều hiện nay bao gồm 21 đơn vị hành chính, (19 xã và 2
thị trấn).
Xã An Sinh nằm ở khu vực trung tâm huyện Đông Triều. Với số dân gần
6.000 người, xã An Sinh có diện tích 83,12 km2, là đầu mối mọi quan hệ chính
trị, kinh tế văn hoá xã hội, quân sự của toàn huyện. Xã An Sinh cách thị trấn
Đông Triều 8 km về phía đông và cùng nằm trên quốc lộ 18 A.
Năm 1964, khi Đặc Khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh được sát nhập lại
để thành tỉnh Quảng Ninh, Đông Triều chính thức trở thành một đơn vị hành

người/km2, gồm 28% dân số sống trong vùng trung tâm xã và 72% dân số sống
ở các thôn xóm.
An Sinh cũng là một xã có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Bên cạnh dân
tộc Kinh chiếm 97% dân số, còn có tới 7 dân tộc anh em, trong đó đáng kể là:
Sán Dìu, Dao, Tày, Hoa, Nùng, Chỉ,...
Cũng như ở nhiều nơi khác, nhân dân An Sinh theo hai tôn giáo chính:
Phật giáo và Thiên chúa giáo. Số người theo đạo Thiên chúa ở An Sinh chiếm
khoảng trên dưới 5%. Toàn xã có hai xóm đạo với giáo dân gồm 1123 người.
Đông nhất vẫn là tín đồ Phật giáo. Nếu tính cả số chùa đã bị hư hỏng thì toàn
xã có tới hơn 12 chùa cùng nhiều đền, miếu, đình làng nằm rải rác khắp xã.
Hiện nay, An Sinh có trên 29 dòng họ cùng nhau chung sống hòa thuận,
xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Người dân An Sinh vốn có truyền
thống hiếu học từ lâu đời. Từ xưa, nơi đây đã có nhiều người thi cử đỗ đạt làm
7


quan như … Tiếp nối truyền thống đó, con em An Sinh ngày nay đã không
ngừng phát huy truyền thống hiếu học của quê hương, cùng nhau hăng say thi
đua học tập, rèn luyện trong từng trường học, từng cấp học... Bên cạnh đó
phong trào hiếu học của địa phương cũng có sự phát triển mạnh mẽ với sự
tham gia của nhiều hội khuyến học được thành lập ở các dòng họ nhằm khích
lệ, động viên con cháu cố gắng phấn đấu học hành, thi cử đỗ đạt làm rạng danh
cho dòng họ, quê hương, để tiếp nối mạch nguồn hiếu học từ xa xưa cha ông
đã để lại.
Ngày nay, mọi người dân An Sinh đều hăng say thi đua học tập, lao động,
sản xuất để cùng nhau chung tay xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn
minh, tiếp nối mạch nguồn vẻ vang của cha ông đã để lại với những truyền
thống tốt đẹp cùng những tinh hoa được tích tụ và lưu truyền qua từng thế hệ
con người nơi đây.
1.1.3. Kinh tế

khoáng sản. Tiềm năng đó đã được phát hiện và bước đầu khai thác, Song vì
những hạn chế về khoa học kỹ thuật và những điều kiện kinh tế khác, tiềm
năng đó chưa được khai thác tốt để nâng cao hơn nữa đời sống kinh tế của
nhân dân.
Trải qua quá trình phấn đấu gian khổ, đến nay cuộc sống của nhân dân
An Sinh đã được cải thiện rõ rệt, 93% số hộ nông dân đủ ăn trong các kỳ giáp
hạt. Một bộ phận nông dân khá đã có dư thừa, tích luỹ vốn kinh doanh. 98%
nóc nhà đã được ngói hoá. 86% đồ dùng tiện nghi trong các gia đình đã được
nâng rõ rệt, kể cả những đồ dùng cao cấp như xe máy, vô tuyến truyền hình, tủ
lạnh,...
1.1.4. Văn hóa, xã hội
Hiện nay xã An Sinh có 63,5% số người đi học. Đặc biệt xã An Sinh đã
được công nhận là xã hoàn thành phổ cập cấp I từ năm 1990 và xoá xong nạn
9


mù chữ trong độ tuổi năm 1991. Hiện nay An Sinh có trên 1000 người là công
nhân kỹ thuật và trung học chuyên nghiệp; nhiều người có trình độ đại học và
cao đẳng.
Tính đến năm 1992, nhân dân An Sinh đã tự xây dựng trung tâm văn hoá.
Đặc biệt An Sinh có đài truyền thanh phát sóng ngắn với trên 12 đài trạm cơ
sở, đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu thông tin đại chúng. Toàn xã có 2 trạm y
tếvới gần 30 giường bệnh, có 2 phòng khám khu vực, 2 trung tâm dịch vụ kế
hoạch hoá gia đình. Như vậy ngành y tế đã thoả mãn tương đối nhu cầu bảo vệ
sức khoẻ và chữa bệnh cho nhân dân.
1.2. Lịch sử hình thành đền An Sinh
Nằm trong hệ thống di tích nhà Trần tại Đông Triều, cách không xa thị
trấn Đông Triều có một ngôi đền được coi là một trong số những công trình tín
ngưỡng tâm linh thiêng. Đền An Sinh, ngôi đền lớn thờ tự các vị vua Trần, xưa
Đền còn được gọi là Điện An Sinh. Đền toạ lạc trên một đồi đất thoai thoải

có thành bao bọc rộng. Phía trước cửa có bia nhỏ đề "Hạ mã" và "Tiêu diệc".
Trải qua thời gian sự hủy hoại của thiên nhiên cũng như chiến tranh tàn
phá điện An Sinh chỉ còn lại phế tích, theo tư liệu khảo sát thực địa về điện An
Sinh của Viện Mỹ thuật Mỹ nghệ trung ương tháng 6 năm 1968 thì điện An
Sinh có một thời gian được sử dụng làm trường học cho học sinh miền Nam.
Khu này vốn là một vùng bãi rộng, sau ngày hòa bình, Bộ Giáo dục cho dựng
nhiều nhà gạch để lập trường học cho những học sinh từ miền Nam ra tập kết.
Giai đoạn năm 1997-2000, với nghĩa cử uống nước nhớ nguồn, tri ân tiên tổ,
huyện Đông Triều được sự ủng hộ của tỉnh và hảo tâm công đức của nhân dân
trong vùng đã đứng ra khôi phục lại ngôi đền, đền được khởi công xây dựng lại
trên mặt bằng của nền đền cũ. Ngày 20 -11 - 1997 đền được xây dựng lại và
đến ngày 17 -09 - 2000 thì đền được hoàn thành.

12


Chương 2
NHỮNG GIÁ TRI VĂN HÓA VẬT THỂ VÀ PHI VẬT THỂ CỦA
ĐỀN AN SINH
2.1. Những giá trị văn hóa vật thể
2.1.1. Không gian cảnh quan
Khi chọn đất dựng nhà hay chọn đất để đặt phần mộ người ta thường mời
các thầy địa lý về xem đất, chọn hướng...với quan niệm cho rằng mảnh đất
được chọn tốt hay xấu sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới những người đang sống.
Đặc biệt, với các công trình kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng như: đình, chùa,
đền, miếu...thì đây đều là các công trình kiến trúc chung của cả một cộng đồng
có thể là của một làng, đôi khi là của một xã vì vậy việc chọn đất để dựng đình,
dựng chùa...lại càng được quan tâm. Mảnh đất được chọn phải có vị trí “địa
linh”, nằm trên những thế đất được coi là đẹp theo quan niệm phong thủy: Xây
dựng chùa chiền thì phải chú ý tới việc chọn lựa đất tốt, ngày tốt, giờ tốt. Đất

trong diện tớch khoảng 20km2 từ núi Đạm Thuỷ đến Ngoạ Vân thuộc xã An
Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, là nơi để thờ "Bát Vị Hoàng Đế"
thời Trần. Đây là khu di tích có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá nghệ thuật
nên ngày 28 tháng 04 năm 1962, Bộ Văn hoá đó ra quyết định số 313 xếp hạng
khu di tích Đền thờ và lăng mộ các vua Trần là di tích lịch sử cấp quốc gia.
2.2.2. Kiến trúc
Hệ thống đền mới gồm hai khu vực: Khu nội tự: có diện tích khoảng
1000m2 là khu vực hiện được bao bọc bởi hệ thống tường rào xây gạch. Khu
này hiện có các công trình kiến trúc: Cổng chính điện, tả - hữu vu, nhà bia
công đức, sân vườn và một số công trình phụ trợ khác.
Cổng đền được xây dựng theo kiểu chống diêm hai tầng tám mái theo lối
kiến trúc cổ. Chính giữa là cổng lớn được trang trí cầu kì bằng nhiều đề tài
khác nhau như rồng, mây… và đây là cổng thường chỉ mở trong dịp lễ hội của
di tích hàng năm. Hai bên cổng chính có hai cổng phụ nhỏ là nơi khách tham
quan có thể đi lại thường xuyên tại đền An Sinh.
14


Tòa chính điện có bố cục mặt bằng hình chữ công, hậu cung là nơi đặt
tượng thờ tám vị vua Trần gồm: Thái Tông, Thánh Tông, Anh Tông, Minh
Tông, Hiến Tông, Dụ Tông, Nghệ Tông và Giản Định; tòa trung cung đặt
tượng thờ Trần Hưng Đạo; tiền đường đặt bát hương công đồng và một số đồ
tế khí.
Đền An Sinh đã có lịch sử ra đời và tồn tại từ lâu đời, trải qua thời gian
cùng với sự tác động của ngoại cảnh cùng với các yếu tố tự nhiên, con người
đã làm cho cảnh quan cũng như kiến trúc đền bị hủy hoại nghiêm trọng giống
như nhiều di tích khác nằm trong quần thể di tích nhà Trần tại khu Đông Triều.
Ngôi đền An Sinh hiện nay được trùng tu lại vào năm 2000 nhưng vẫn được
tuân thủ theo nguyên trạng nền móng cũ tạ di tích khi được các nhà khảo cổ
học cùng các nhà chuyên môn tiến hành khảo sát qua nhiều năm. Các hạng

Trúc Lâm Yên Tử.
Hai chữ lớn trên câu đối là Vạn Kiếp (chỉ chiến thắng Vạn Kiếp thời Trần)
2.2. Những giá trị văn hóa phi vật thể
2.2.1. Sinh hoạt văn hóa thường nhật
Hội bô lão thôn Trại Lốc cùng với các cụ cao niên địa phương đã được
thành lập chi hội thường xuyên chăm nom đền An Sinh thu hút sự tham gia
đông đảo của người dân địa phương. Bên cạnh việc quây quần cùng con cháu
thì các cụ cũng thường xuyên duy trì và tham dự vào các hoạt động của hội.
Hàng ngày các cụ vẫn thường xuyên tới đền để thắp hương duy trì đèn nhang
chốn cửa đền. Hàng tuần, hàng tháng các cụ cũng tổ chức các buổi họp mặt tại
đền Độc Cước để sinh hoạt hội đồng thời là cơ hội để các cụ chau dồi thêm
kinh sách, tìm hiểu về các triết lý nhân sinh…
Hàng ngày, các cụ cắt cử người lên đền cùng với đội ngũ thủ nhang
thường xuyên chom nom, quét dọn làm cho cảnh quan đền ngày càng sách đẹp.
Vào những ngày rằm, mùng một hay những ngày lễ lớn… người dân địa
phương cũng như đông đảo du khách thập phương lại tới đền thắp hương để tỏ
16


lòng thành kính với vị thần tối linh để cầu mong nhận được sự che chở và bảo
vệ của thần, mang lại hành phúc bình an cho mọi nhà.
2.2.2. Lễ hội
Lễ hội đền Sinh hàng năm được UBND huyện Đông Triều tổ chức ngày
20 tháng 8 (âm lịch) đúng vào ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Quốc
Tuấn để nhân dân địa phương và khách thập phương dâng hương tưởng nhớ
các Vua Trần, tưởng nhớ Hưng Đạo Vương Quốc Tuấn vị tướng tài khi mất
được tặng: "Thái sư thượng phụ thượng quốc công Nhân Vũ Hưng Đạo đại
vương"
Như thường lệ lễ hội đền An Sinh được chuẩn bị và tiến hành theo quy
trình chugn bao gồm:

hoa, đèn, nến, hoa quả và thức ăn chay. Lúc cúng có hai tăng ni mặc áo cà sa
mang đồ lễ chay đàn rồi mới tiến dùng đồ lễ lên bàn thờ.. Từ ngày mở hội cho
đến hết hội, chỉ thỉnh thoảng mới có sư ở các đền trên đến gõ mõ tụng kinh
chừng nửa giờ tại các đền, miếu, đền. Còn hương khói thì không bao giờ dứt.
Về phần lễ có nghiêng về "thiền". Nhưng ở đền ngoài lại thờ các vị sơn thần
thượng đẳng với đủ màu sắc của đạo giáo. Như vậy, phần lễ là toàn thể hệ
thống tín ngưỡng gần như là cả một tổng thể tôn giáo ở Việt Nam; có sự sùng
bái tự nhiên, có Đạo, có Phật và có cả Nho. Những tính chất tôn giáo có phần
bị tình yêu thiên nhiên, tinh yêu nam nữ, tình cảm cộng đồng… tràn đầy chất
thẩm mỹ vừa thanh cao, rất trần tục lấn đi. Trong suốt những ngày hội là sự
nồng nhiệt của tuổi trẻ, là sự thành kính của các bậc cao niên, là sự hoan hỷ mà
nam phụ lão ai ai cũng có phần riêng của mình.
Lễ hội đền An Sinh còn là dịp tôn vinh các bậc tiền nhân có công xây
dựng đất nước, chống giặc ngoại xâm... Với đạo lý uống nước nhớ nguồn, lễ
hội được cộng đồng tổ chức mang tính chất như cầu nối giữa quá khứ với hiện
tại, giúp thế hệ trẻ bồi đắp thêm lòng tự hào về truyền thống quê hương, đất

18


nước. Đặc biệt, lễ hội đã gắn bó với làng xã, địa danh, vùng đất như một thành
tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng.
Ngoài phần nghi lễ truyền thống còn có nhiều hoạt động văn hóa văn
nghệ, thể dục thể thao phong phú như “Liên hoan tiếng hát làng – khu phố
Đông Triều”, tổ chức thi đấu một số môn thể thao và các trò chơi dân gian
truyền thống….
Lễ hội đền An Sinh là hoạt động truyền thống mang đầy giá trị nhân văn
sâu sắc, với ý nghĩa hướng về cội nguồn, là dịp để nhân dân và du khách thập
phương dâng hương, thưởng ngoạn, bày tỏ lòng thành kính tri ân các đức vua
Trần và các bậc tiền nhân thời Trần đã có công gây dựng đất nước. Đây cũng

như du khách thập phương xa gần. Đây là dịp để nhân dân địa phương tỏ lòng
thành kính và chi ân của mình tới vị thần tối linh, những người có công đối với
dân tộc cũng như đối với cả cộng đồng cư dân địa phương. Đồng thời, lễ hội
cũng là dịp để tăng cường tình đoàn kết.

20


Chương 3
MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
ĐỀN AN SINH
3.1. Thực trạng công tác bảo tồn di tích đền An Sinh
3.1.1. Cơ sở bảo tồn
Cùng với các văn bản pháp lý của quốc tế về vấn đề giữ gìn và phát huy
tác dụng của di tích. Nhà nước ta ngay sau khi giành độc lập, ngày 23/11/1945
chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 65 SL/CTP về bảo tồn cổ tích. Sắc
lệnh coi toàn bộ di tích di sản văn hóa là tài sản của nhân dân nghiêm cấm phá
hủy đình, đền, chùa, miếu và những nơi thờ tự khác, cấm phá hủy bia ký, văn
bằng có ích cho lịch sử.
Ngày 29/10/1957 Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra nghị định 519/TTg về
bảo tồn di tích lịch sử văn hóa đây là văn bản pháp luật cao nhất của chính phủ
có hiệu lực thực hiện trọng việc bảo vệ giữ gìn các di tích lịch sử văn hóa.
Pháp lệnh số 14/HĐNN ban hành ngày 31/08/1984 do chủ tịch hội đồng
Nhà nước ký: “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng
cảnh”.
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày
29/06/2001 và được Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam ra lệnh công bố
09/2001/L – CNT ngày 12/07/2001, có hiệu lực thi hành kể từ ngày
01/01/2002. Luật ra đời đã cụ thể hóa đường lối, chính sách thể hiện tầm tư
duy đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho

tích, theo dõi chặt chẽ, có các hình thức sủ phạt đối với những cá nhân tổ chức
xây dựng các công trình làm ảnh hưởng đến cảnh quan của di tích đề An Sinh.
Chính quyền địa phương và các cơ quan liên quan đã đề ra quy hoạch
tổng thể bảo vệ di tích được xây dựng trên cơ sở của các quy hoạch sử dụng
đất, quy hoạch khoanh vùng di tích từng khu vực, từ đó kết nối thành hệ thống
và mở rộng hệ thống với các khu vực Ngọa Vân, Hồ Thiên, Quỳnh Lâm, Lăng
mộ vua Trần với hệ thống Di tích tại Yên Tử tạo thành một không gian văn
hóa Trần rộng lớn ở khu vực Đông Bắc tổ quốc, củng từ đây kết nối với Chí
Linh (Hải Dương), Yên Hưng, Hạ Long( Quảng Ninh)tạo thành một tuyến du
22


lịch liên hoàn.
Để tránh các bất cập xảy ra, các cơ quan quản lý cùng với việc lập quy
hoạch thì đã tiến hành việc nghiên cứu nhằm xác định phạm vi của di tích phải
được tiến hành song song. Đây là cơ sở khoa học và là điều kiện cần cho việc
xác lập một quy hoạch chính xác về địa giới của di tích.
Toàn bộ tài nguyên du lịch của cụm di tích được khai thác cho các
chương trình thăm quan, nghiên cứu, lễ hội, tâm linh...
Ngành du lịch đã xây dựng các chương trình du lịch chi tiết có sự phối
hợp giữa địa phương và doanh nghiệp lữ hành trong cả nước, nhất là doanh
nghiệp ở Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương...hướng vào các tài nguyên du lịch
của huyện Đông Triều trong đó có điểm tham quan đền An Sinh.
Thành lập Ban quản lý di tích đền An Sinh để điều hành các hoạt động có
liên quan tới việc quản lý và bảo vệ di tích, cắt cử lực lượng bảo vệ thường
xuyên túc trực bảo vệ di tích trước sự xâm phạm của những đối tượng xấu đặc
biệt là nạn trộm cắp cổ vật xảy ra khá nhiều tại các di tích hiện nay.
3.2. Một số giải pháp phát huy giá trị di tích
Phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa là 1 trong 2 chức năng cơ bản của
hoạt động bảo tồn di tích. Nếu những hoạt động kiểm kê, xếp hạng, bảo quản,

phục vụ khác du lịch.
- Đầu tư xây dựng bổ sung và hoàn thiện các khu dịch vụ:
Mở rộng các khu bán hàng lưu niệm, đặc sản địa phương, đa dạng hóa các
sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách tham quan khu di tích.Bên
cạnh đó cần bổ sung các quầy ăn nhanh, các cửa hàng thực phẩm nằm gần di
tích để tạo sự tiện lợi cho khách tham quan.
Bổ sung thêm các cửa hiệu chụp ảnh lưu niệm, chụp ảnh nhanh lấy ngay,
đồng thời đội ngũ thợ ảnh cũng phải được đào tạo lành nghề, chuyên nghiệp,
đặt dưới sự quản lý điều hành, có thẻ nhân viên dịch vụ ..
Điểm lưu ý chung khi xây dựng , quy hoạch các công trình là phải lựa
chọn địa điểm, địa hình hợp lý cho từng hạng mục công trình, không làm ảnh
hưởng đến môi trường sinh thái và môi trường văn hóa, đảm bảo an toàn, an
ninh và yếu tố thẩm mỹ cho khu di tích.
24


Các khu vườn hoa cần luôn phải được chăm sóc, bón tỉa, làm mới thường
xuyên để cho khu vườn hoa luôn rạng rỡ, tươi tắn.
- Các cơ quan quản lý liên quan cần phải phối hợp với người dân địa
phương để phục hồi nguyên gốc và bảo tồn các giá trị văn hóa lịch sử của đền
An Sinh.
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý
Công tác quản lý là một vấn đề quan trọng trong hoạt động bảo tồn di
tích. Nếu quản lý không tốt sẽ dẫn đến việc khu du lịch phát triển một cách tự
do, tràn lan để lại những hậu quả xấu về cảnh quan môi trường và các chất
lượng dịch vụ.
Sau đây là một số giải pháp để công tác quản lý tại khu di tích đền An
Sinh trở nên hiệu quả hơn:
- Tăng cường đội ngũ nhân sự trong ban quản lý khu di tích đền An Sinh,
các nhân viên thuộc ban quản lý phải có mặt ở mọi điểm thăm quan để tránh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status