MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG CHO TRẺ Ở TRƯỜNG MẦM NON NGA THANH - Pdf 41

I. MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết: Ngành học mầm non là ngành học nằm trong hệ thống
giáo dục quốc dân, “Ngành học có nhiệm vụ thực hiện nuôi dưỡng, chăm sóc,
giáo dục trẻ từ 3 tháng tuổi đến 6 tuổi”. Nếu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
tốt, trẻ sớm phát triển thể chất và trí tuệ một cách đúng hướng và mạnh mẽ. Nó là
giai đoạn cực kỳ quan trọng trong sự hình thành và phát triển tất cả các khả năng
của trẻ, hình thành cho trẻ những cơ sở ban đầu của nhân cách con người mới xã
hội chủ nghĩa Việt Nam.
Luật bảo vệ chăm sóc trẻ em cũng đã nêu rõ: “Sức khoẻ của trẻ em hôm
nay là sự phồn vinh cho xã hội mai sau”
Sức khoẻ là vốn quí của con người, chăm sóc sức khoẻ cho thế hệ trẻ hôm
nay là chăm sóc cho nguồn nhân lực của đất nước mai sau. Vì vậy, việc giáo dục
dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm là mục tiêu trong việc chăm sóc giáo
dục và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ trong trường Mầm Non.
Ở lứa tuổi này, việc chăm sóc giáo dục sức khoẻ cho trẻ là nhiệm vụ cần
thiết và không thể thiếu được. Trẻ rất cần bàn tay chăm sóc của bố mẹ, người
thân và cô giáo. Thông qua hoạt động chăm sóc nhằm giúp trẻ phát triển toàn
diện của nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa, trẻ khoẻ mạnh, nhanh nhẹn,
cơ thể phát triển hài hoà, cân đối, giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn,
giúp đỡ mọi người xung quanh, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích
cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp, mong muốn được tạo ra cái đẹp, thích khám phá
tìm tòi, có một số kĩ năng cơ bản như: So sánh, quan sát, phân tích tổng hợp, suy
luận…,cần thiết làm tiền đề cho trẻ bước vào trường phổ thông.
Như vậy, có thể nói: Đảng và nhà nước ta đã và đang rất quan tâm đến việc
chăm sóc sức khoẻ trẻ em và xem việc nâng cao sức khoẻ cho trẻ em là vấn đề
quan trọng trong chiến lược phát triển con người. Trong những năm qua bậc học
mầm non đã tổ chức tập huấn rất nhiều lớp chuyên đề về vệ sinh an toàn thực
phẩm và kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non. Nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng bảo vệ sức khoẻ cho trẻ. Chính vì
vậy, đối với con người nói chung, trẻ mầm non nói riêng muốn tham gia các

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Tài liệu, sách báo, mạng Internet có
nội dung nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng cho trẻ.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thống kê.
II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Việc chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ trẻ là trách nhiệm của mọi
người, mọi nhà và toàn xã hội, mọi trẻ em đều có quyền được chăm sóc nuôi
dưỡng và được học tập một cách bình đẳng không phụ thuộc hoàn cảnh riêng về
gia đình, dân tộc, địa phương. Đó không những là mục tiêu của cách mạng mà
còn là ước mơ tha thiết của những người làm cha làm mẹ, vì trẻ em là niềm hạnh
phúc của mọi gia đình, là tương lai của mọi dân tộc.
Bác Hồ đã nói: “Trẻ em như búp trên cành
Biết ăn, ngủ, biết học hành là ngoan”
Song để cho trẻ ăn, ngủ, học hành như thế nào cho khoa học là cả một quá
trình chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục cả gia đình, nhà trường và của toàn xã
hội mà chiếc nôi đầu tiên của trẻ là gia đình, môi trường đầu tiên trẻ tiếp xúc là
trường mầm non. Vì vậy người giáo viên mầm non vừa là người mẹ thứ hai của
trẻ vừa là người nuôi trẻ, chăm sóc trẻ.Việc chăm sóc giáo dục trẻ là một vấn đề
rất quan trọng trong xã hội chúng ta. Sức khoẻ của trẻ có tác dụng rất lớn trong
việc phát triển trí tuệ, phát triển đầy đủ về các mặt giúp trẻ thông minh, nhanh

2


nhẹn trong hoạt động hàng ngày. Cơ thể con người có thể tồn tại hoạt động và
phát triển được là nhờ ta đưa vào cơ thể các chất dinh dưỡng vì thế mà cơ thể trẻ
đòi hỏi được cung cấp hàng ngày đầy đủ năng lượng và các chất cần thiết ở mỗi
thời kỳ khác nhau, trẻ có những đặc điểm tâm sinh lý khác nhau nên đòi hỏi nhu

hành vi đúng đắn của trẻ giúp trẻ hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
Nếu cho trẻ ăn thiếu chất hoặc thừa chất đều là những mầm mống gây bệnh
tật cho trẻ. Nếu thiếu chất trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng, có thể còi xương, dễ mắc
bệnh nhiễm khuẩn. Nếu trẻ ăn thừa chất trẻ sẽ bị béo phí và mắc một số bệnh về
tim mạch rất nguy hiểm cho trẻ. Vì vậy nuôi dưỡng trẻ theo khoa học là việc làm
hết sức cần thiết chiếm một vị trí vô cùng quan trọng đứng vị trí hàng đầu trong
trường mầm non. Do đó người phụ trách chỉ đạo chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại
trường mầm non cần phải nắm vững các đặc điểm tâm sinh lý và nhu cầu dinh
3


dưỡng cần thiết của trẻ trong một ngày để có biện pháp chỉ đạo thực hiện tốt
nhiệm vụ chăm sóc nuôi dưỡng nhằm giúp trẻ khoẻ mạnh nhanh nhẹn, cơ thể
phát triển hài hoà, cân đối góp phần giáo dục trẻ thành con người phát triển toàn
diện có ích cho xã hội.
2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Thực trạng chung
Nga Thanh là một xã Nghèo của huyện Nga Sơn, có tổng hộ nghèo là 273/
toàn xã, với tổng diện tích đất tự nhiên 1550 ha, ngành nghề chủ yếu là sản xuất
tiểu thủ công nghiệp và cây cói, toàn xã có 7 xóm với số khẩu là 6.269 nhân
khẩu.
Nhân dân Nga Thanh là những người nông dân chăm chỉ cần cù tự vươn
lên trong mọi khó khăn, các điều kiện đó cũng góp phần thuận lợi về sự phát
triển giáo dục của nhà trường. tuy nhiên do mức thu nhập của người dân chưa
cao, chưa đồng đều, dân trí còn nhiều hạn chế nên ảnh hưởng sâu sắc đến sự
phát triển giáo dục nói chung và phát triển Mầm Non nói riêng. Đời sống của
nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Việc tạo điều kiện cho con em đến trường
được ăn ngủ, nghỉ ngơi, học tập, vui chơi, vệ sinh cá nhân sạch sẽ, và được
chăm sóc một cách khoa học, đang còn là một vấn đề nan giải của rất nhiều phụ
huynh trong toàn xã.

ướp các hóa chất độc hại luôn ẩn chứa những nguy cơ nhiễm khuẩn làm ảnh
hưởng đến sức khỏe của trẻ, làm giảm chất lượng bữa ăn của trẻ tại trường mầm
non.
2.4. Kết quả của thực trạng:
* Kêt quả khảo sát đầu năm học 2015 - 2016: (Tháng 9/2015)
Nội dung khảo sát

Số trẻ được
khảo sát đầu
năm học

Tỷ lệ %

1. Chất lượng chăm sóc
Tổng số trẻ đến trường / trẻ điều tra

187/275

68

Tổng số trẻ ăn bán trú

180

96,2

Trẻ khám sức khỏe định kỳ

187



Trẻ thấp còi

27

14.4

Trẻ Suy dinh dưỡng

Kết quả trên ta thấy chất lượng chăm sóc và chất lượng nuôi dưỡng đầu
năm số cháu ăn bán trú tai trường rất thấp, tỷ lệ trẻ mắc bệnh, trẻ suy dinh
dưỡng, trẻ thấp còi, còn rất cao, còn lại đa phần là trẻ chưa có nề nếp thói quen
vệ sinh cá nhân.
* Về đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên: Trường mầm non Nga Thanh,
có tổng số 22 cán bộ, giáo viên, nhân viên; trong đó: có 03 cán bộ quản lý, 15
giáo viên, 5 nhân viên (01 nhân viên kế toán, 3 nhân viên nuôi dưỡng). Cán bộ
quản lý và giáo viên đều đạt chuẩn và trên chuẩn về nghiệp vụ nuôi dạy trẻ mầm
non, 15 giáo viên trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ trên lớp, 4 nhân viên nuôi
dưỡng đều mới có bằng sơ cấp chế biến thức ăn. Qua kiểm tra đánh giá chất
lượng chăm sóc, nuôi dưỡng của giáo viên tôi thấy chất lượng chăm sóc, nuôi

5


dưỡng và giáo dục trẻ đạt tỷ lệ chưa cao, nhân viên nuôi dưỡng chưa có kinh
nghiệm trong việc chế biến thức ăn cho trẻ.
3. CÁC GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
3.1. Tăng cường nâng cao nhận thức và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ cho cán bộ, giáo viên và nhân viên về vấn đề chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Đối với nhân viên nuôi dưỡng:

làm nội trợ”. Đó là những nội dung bồi dưỡng rất thiết thực với đội ngũ giáo
viên và nhân viên cấp dưỡng hàng năm.
Tổ chức học các lớp chuyên đề như: chuyên đề về dinh dưỡng, chuyên đề vệ
sinh an toàn thực phẩm, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ trong trường mầm
non…
6


Hình ảnh: Giáo viên tham gia học chuyên đề về CSSK cho trẻ.
Với chức năng là một phó hiệu trưởng quản lý công tác chăm sóc nuôi
dưỡng, trong nhà trường tôi tham mưu với ban giám hiệu mua một số sách báo
có nội dung về cách nuôi dưỡng - chăm sóc sức khỏe trẻ, các tài liệu về vệ sinh
dinh dưỡng. Bên cạnh đó tôi chỉ đạo giáo viên tích hợp nội dung giáo dục dinh
dưỡng vào chương trình giảng dạy theo các chủ đề.
Ví dụ: Ở chủ đề “Trường mầm non”, chỉ đạo giáo viên lồng ghép tích hợp
những nội dung sau: - Làm quen với các món ăn tại trường, tập ăn hết suất,
rèn luyện hành vi văn minh trong ăn uống: Biết mời cô và các bạn trước khi ăn;
ngồi ăn ngay ngắn, tự xúc ăn gọn gàng, tránh đổ vãi, ăn từ tốn, nhai kỹ, không
nói chuyện và đùa nghịch trong khi ăn.
- Tập cho trẻ tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn
đồ dùng ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ.
- Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, đi vệ sinh đúng nơi qui định,
rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Giữ gìn vệ sinh môi trường như không
khạc nhổ nơi công cộng, vứt rác đúng nơi qui định
Đặc biệt là tôi chỉ đạo 100% giáo viên vệ sinh nhóm lớp vệ sinh môi
trường trong và ngoài lớp học 1 tuấn 1 lần, vệ sinh đồ dùng đồ chơi của trẻ 2
lần một tuấn, Tổng vệ sinh khơi thông cống rãnh 1 tháng 1 lần..
Kết quả:
- 100% giáo viên nắm vững nội dung phương pháp chăm sóc nuôi dưỡng
trẻ, biết vận dụng nội dung vào giảng dạy một cách linh hoạt.

- Lipít cung cấp khoảng 20-30% năng lượng khẩu phần
- Gluxit cung cấp khoảng 55-68% năng lượng khẩu phần.
Qui định chế độ dinh dưỡng lứa tuổi 12-72 tháng tuổi: (nhu cầu dinh
dưỡng khuyến nghị dành cho người Việt Nam theo quyết định số2824/QĐBYT ngày 30 tháng 7 năm 2007)
Tôi đã chỉ đạo tới tất cả giáo viên và nhân viên trong việc tổ chức bữa ăn cho
trẻ trong việc nuôi dưỡng thì phải nắm vững đặc điểm tâm sinh lý của trẻ. Đặc
điểm tâm, sinh lý của trẻ lứa tuổi mầm non phát triển rất nhanh cả về thể lực và trí
tuệ, nhưng bộ máy tiêu hoá, chức năng tiêu hoá và hấp thụ của trẻ chưa hoàn chỉnh,
các chức năng hoạt động của các bộ phận khác trong cơ thể hoạt động còn yếu, khả
năng miễn dịch của trẻ đối với bệnh tật chưa cao. nên chúng ta phải chăm sóc trẻ
phù hợp theo lứa tuổi, thức ăn của trẻ phải ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, từ
8


loãng đến đặc, từ bột đến cháo, đến cơm nát, đến cơm thường phải cho trẻ ăn đúng
giờ, đủ chất, đủ lượng đảm bảo 50% thức ăn động vật và 50% thức ăn thực vật,
thức ăn phải nấu nhừ, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của từng độ tuổi, thức ăn của
trẻ mềm, sạch, an toàn, dễ tiêu hoá, để bữa ăn cho trẻ đủ chất cần chọn và phối hợp
nhiều loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm,
thức ăn của trẻ trong một bữa cần phôi hợp 4 nhóm thực phẩm chất đạm, chất béo,
chất bột đường, chất vi ta min và muôi khoáng.
* Chất lượng bữa ăn:
Để thực hiện tốt yêu cầu mà ngành học mầm non đề ra trong công tác nuôi
dưỡng và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ. Để cho trẻ được ăn đầy đủ các
chất dinh dưỡng trong từng bữa ăn thì đòi hỏi người quản lý phải thường xuyên
theo dõi, hướng dẫn chỉ đạo tổ nuôi dưỡng thực hiện tốt một số nội dung:
Xây dựng khẩu phần ăn:
Xây dựng được thực đơn và khẩu phần ăn hợp lý nhằm đảm bảo đầy đủ
nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết cho trẻ, xây dựng khẩu
phần ăn phải dựa trên một số nguyên tắc để vận dụng thay thế các loại thực

xây dựng thực đơn 1 tuần hợp lý đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ.
Thứ ngày
Thứ 2
Thứ 3

Thứ 4

Thứ 5

Thứ 6

Bữa chính
Thịt sốt cà chua
Canh rau ngót nấu cua
Tôm rim thịt
Muối lạc
Canh bí hầm xương
Cơm
Ruốc thịt nạc
Canh mồng tơi nấu ngao
Cơm
Cá rim
Canh rau cải nấu cua
Cơm
Thịt đậu phụ sốt cà chua
Muối vừng

Bữa phụ
Cháo khoai bí ngô
Cháo lươn

giai đoạn thức ăn sống được nấu chín và đưa đến trẻ sử dụng.
Cách chế biến: Các cô nuôi phải biết cách chế biến các thực phẩm sao cho
thực phẩm phải ngon mắt, ngon mũi, ngon miệng, hấp dẫn, gây được sự thèm ăn
của trẻ, cụ thể như sau:
Cách nấu cơm: Vo gạo để loại bớt các tạp chất, cát, sạn là cần thiết, tuy
nhiên vo gạo cũng làm thoát các chất dinh dưỡng B1 hao hụt từ 20-30%, chất
đạm 25%. Chất béo 42,6%, chất bột đường 2%, muối khoáng có thể mất tới
70%.
Nấu cơm hạn chế tối đa mất B1: Vo gạo bằng rá trong chậu nước, nhặt
thóc, sạn, nước nấu sôi mới bỏ gạo vào, cho nước vừa đủ, không chắt nước cơm.
Cách chế biến rau: Nhặt sạch rau, rửa nhẹ nhàng, rửa dưới vòi nước sạch,
khi nào nấu mới cắt rau và nấu liền, để lâu sẽ bị mất vitamin, khi nấu cho rau
vào nước đã sôi nêm muối, hao hụt sẽ ít hơn, tránh nấu lâu, nấu xong cho trẻ
dùng ngay, nên cho trẻ ăn cả rau lẫn nước.
Cách chế biến thịt, cá: Thịt, cá rửa sạch, bỏ xương, xay nhỏ, ướp mắm,
muối sau đó phi hành mỡ thơm cho thịt, cá vào đảo đều vừa chín mềm, có mùi
thơm ngọt cho trẻ ăn ngay.
Cô cấp dưỡng phải được tập huấn các lớp chế biến các món ăn cho trẻ, nắm
vững cách chế biến các món ăn của trẻ và thực hiện đúng 10 nguyên tắc vàng để
đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ví dụ chế biến bữa phụ : Cháo thập cẩm:
Nguyên liệu cho 10 suất ăn
11


Gạo nếp, gạo tẻ: 500g, tôm: 100g, cua: 200g
Thịt lợn nạc vai: 100g, hành, mùi: 50g, cà rốt: 100g
Khoai tây: 200g, dầu thực vật: 100g
Mắm, muối; vừa đủ, nước sạch: 400ml
Cách làm:

phản xạ kích thích trẻ thèm ăn, hứng thú ăn ngon miệng, ăn hết xuất, sắp xếp chỗ
ngồi ăn của trẻ phải thoải mái, tránh ngồi quá chật trẻ bị gò bó, ăn mất ngon hoặc gây
vướng sẽ bị đổ cơm, bố trí cho trẻ có chỗ ra vào, cô chia ăn phải rửa tay bằng xà
phòng, đeo khẩu trang, đi găng tay, mặc tạp dề chia thức ăn, chia cơm chia xong cho
trẻ ăn ngay, trẻ rửa tay bằng xà phòng mới vào bàn ăn.
12


Chăm sóc trẻ trong bữa ăn: Cho trẻ ăn phải thực hiện đúng gìơ, đúng qui
định vệ sinh, cô rửa tay bằng xã phòng trước khi chia thức ăn và cho trẻ ăn, khi
trẻ ăn cô đến gần trẻ nhẹ nhàng, ân cần, khéo léo giới thiệu món ăn là biện pháp
tâm lý gây cảm giác thèm ăn, giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết suất.

Hình ảnh: Cô giáo chăm sóc và hướng dẫn cho trẻ ăn tại lớp
Đối với trẻ mẫu giáo trẻ ăn xong đem bát thìa bỏ vào xô, sau đó dọn ghế
của mình xếp vào nơi qui định, cô nhắc trẻ rửa tay, lau miệng, uống nước.
Vệ sinh sau khi ăn: Trẻ ăn xong cô thu dọn bàn ghế ngay, lau bàn bằng
khăn ướt, giặt khăn phơi ngoài nằng cho khô, lau sàn nhà sau mỗi bữa ăn, rửa
bát thìa bằng nước rửa bát tráng lại nước sạch sau đó tráng nước sôi hoặc phơi
nắng cho khô rồi xếp vào nơi qui định.
Ban giám hiệu thường xuyên dự giờ chăm sóc và giáo dục dinh dưỡng chặt
chẽ để kịp thời khen thưởng giáo viên và học sinh hàng tháng, học kỳ, nhằm
nâng cao tinh thần ý thức trách nhiệm chăm sóc và giáo dục dinh dưỡng của
giáo viên và trẻ.
Tóm lại: Việc tổ chức ăn uống và hình thành tốt nề nếp thói quen ăn uống
cho trẻ góp phần quan trọng bảo vệ, nâng cao thể lực và giáo dục đạo đức, hành
vi văn minh cho trẻ, ban giám hiệu nhà trường lập kế hoạch chỉ đạo sát sao,
kiểm tra đôn đốc việc thực hiện của giáo viên theo nội qui nhà trường đề ra phối
hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh học sinh trong công tác chăm sóc và giáo
dục trẻ, giáo dục những thói quen văn minh trong ăn uống, chỉ có thể đạt kết quả

như chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cho trẻ đạt hiệu quả cao.

Hình ảnh: Cô giáo chăm sóc giấc ngủ trưa cho trẻ tại lớp
14


3.6. Tổ chức khám sức khoẻ và vệ sinh phòng bệnh:
Bảo vệ sức khoẻ luôn đặt lên vị trí hàng đầu trong hệ thống các nhiệm vụ
chăm sóc giáo dục trẻ ở trường mầm non. Sức khoẻ ảnh hưởng mạnh mẽ đến
điều kiện sống, đặc biệt ở trường mầm non là nơi tập trung đông trẻ nên công
tác vệ sinh phòng bệnh cần được quan tâm đúng mức, việc thực hiện chế độ vệ
sinh chăm sóc trẻ, vệ sinh phòng bệnh, vệ sinh đồ dùng, đồ chơi, vệ sinh môi
trường. Giáo viên phải thực hiện nghiêm túc, ban giám hiệu phải kiểm tra
thường xuyên để đảm bảo cho trẻ luôn sống trong môi trường sạch sẽ, ngăn
ngừa những tác động bất lợi cho sức khoẻ của trẻ.
Để đảm bảo chế độ cân đo, khám sức khoẻ định lỳ cho trẻ, nhằm theo dõi
sát tình hình sức khoẻ của trẻ, phát hiện sớm bệnh tật, phối hợp nhà trường và
gia đình tham mưu với cấp uỷ, chính quyền sở tại bố trí cán bộ y tế xã thường
xuyên theo dõi sức khoẻ cho trẻ ở trường mầm non

Hình ảnh trẻ được cân đo khám sức khỏe định kỳ tại trường
Khám sức khoẻ cho trẻ 2 lần/năm, tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin
phòng bệnh cho trẻ. Cân đo theo dõi biểu đồ tăng trưởng 1 quí/lần.
Vệ sinh phòng bệnh: Mỗi trẻ điều phải có đồ dùng riêng có ký hiệu như
(quần áo, cốc, bát thìa, khăn mặt) chăn, gối, chiếu thường xuyên giặt, phơi nắng
hàng tuần, phòng ăn, phòng ngủ hàng ngày lau chùi, mở cửa thông thoáng, đồ
dùng đồ chơi của trẻ được lau chùi cọ rửa thường xuyên.
Vệ sinh môi trường: Đảm bảo môi trường xanh sạch đẹp. Giữ nguồn nước
sạch, xử lý rác, chất thải, khơi thông cống rãnh, quét dọn sân vườn sạch sẽ,
thoàng mát. Phun thuốc diệt ruồi muỗi vào buổi chiều sau khi trẻ về với gia

học sinh hiểu thêm được tầm quan trọng của ngành học mầm non.

Hình ảnh trẻ tham gia “ Hội khỏe bé khỏe mầm” non cấp trường
16


*Phối hợp nhà trường và gia đình thống nhất phương pháp chăm sóc
giáo dục trẻ, góp phần nâng cao chất lượng CSGD trẻ tại trường mầm non.
Tuyên truyền phổ biến kiến thức cho các bậc phụ huynh đóng vai trò quan
trọng trong việc huy động trẻ ăn bán trú và nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo
dục trẻ ở trường mầm non. Tôi đã thực hiện nhiều hình thức đa dạng, phong phú
như: Họp phụ huynh, bảng thực đơn, trên thông tin đại chúng mỗi tháng 2 lần
vào tối chủ nhật tuần 2 và tuân 4 hàng tháng về tầm quan trọng và sự cần thiêt
của việc tổ chức cho trẻ ăn ngủ tại trường mầm non. Để các bậc phụ huynh nắm
bắt được kiến thức cơ bản về dinh dưỡng và sức khoẻ của trẻ như phổ biến kiến
thức nuôi con theo khoa học, nuôi con khoẻ dạy con ngoan, cách lựa chọn thực
phẩm và kỹ thuật chế biến món ăn cho trẻ.
Ví dụ: Bữa ăn hợp lý thì phải ăn đúng giờ, ăn đủ các chất, hợp vệ sinh, cân
đối 50% đạm động vật, 50% đạm thực vật, đảm bảo 4 nhóm thực phẩm như chất
đạm, chất béo, chất bột đường, vitamin và muối khoáng, định lượng calo cần
cho cơ thể trẻ trong ngày trẻ từ 1-36 tháng tuổi năng lượng cả ngày là 1.180
kcal/trẻ/ngày nhu cầu năng lượng tại trường mầm non là 708-826 kcal/trẻ/ngày,
trẻ từ 36-72 tháng tuổi năng lượng cả ngay là 1.470 kcal/trẻ/ngày, nhu cầu năng
lượng tại trường mầm non là 735-882 kcal/trẻ/ngày.
Hướng dẫn giáo viên thông tin bảng tuyên truyền tại lớp, thông qua giờ đón
trẻ, trả trẻ trao đổi với phụ huynh về tinh hình sức khoẻ, chế độ ăn uống, chăm
sóc để thống nhất phương pháp chăm sóc giáo dục, đề phòng một số bệnh theo
mùa, bệnh thông thường, trao đổi kinh nghiệm chăm sóc sức khoẻ trẻ và hinh
thành nề nếp thói quen cho trẻ trong ăn, ngủ, nề nếp sinh hoạt, chế độ luyện tập.
Mời phụ huynh đến trường xem tổ nuôi dưỡng chế biến các món ăn, tổ

ngộ độc thực phẩm trong nhà trường.
Thực hiện tốt công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, qua biểu đồ tăng trưởng,
tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm rõ rệt so với đầu năm, còn lại trẻ mắc các loại
bệnh là 6,5 % chủ yếu là bệnh sâu răng.
* Kêt quả khảo sát cuối năm so với đầu năm được thể hiện như sau:
Nội dung khảo sát

Số trẻ
đầu năm

Tỷ lệ %

Số trẻ
cuối năm

Tỷ lệ %

187/275

68

275

100

Tổng số trẻ ăn bán trú

180

96


42.7

15

0.5

Trẻ cân nặng bình thường

154

82

261

95

Trẻ Suy dinh dưỡng

33

17

14

0.5

Trẻ chiều cao bình thường

160


100% cô nuôi có kiến thức về vệ sinh an toàn thự phẩm, biết cách lựa chọn
và chế biến món ăn cho trẻ đảm bảo dinh dưỡng.
9/9 nhóm lớp xây dựng được góc tuyên truyền về chất lượng chăm sóc và
nuôi dưỡng trẻ ở trường.
Trong năm học nhà trường đảm bảo an toàn tuyệt đối về vệ sinh an toàn
thực phẩm bếp ăn của nhà trường đã được trung tâm y tế dự phòng tỉnh kiểm tra
và công nhận bếp ăn đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Đối với đội ngũ giáo viên đã hiểu rõ nhận thức đúng được tầm quan trọng
của công tác nuôi dưỡng chăm sóc sức khoẻ cho trẻ. Từ đó các cô đã nêu cao
tinh thần trách nhiệm của mình trong việc nuôi dưỡng các cháu và hưởng ứng
các phong trào thi đua rất sôi nổi nhiệt tình và có ý thức tự học hỏi lẫn nhau.
4.3. Đối với các bậc cha mẹ học sinh
Qua công tác tuyên truyền của giáo viên phụ huynh đã hiểu được việc
chăm sóc nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non là rất quan trọng, phụ huynh đã
đầu tư cho trẻ đến trường và ăn ngủ tại trường đạt 100%.
95% đã nhận thức đầy đủ về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, đồng tình ủng
hộ về cách giữ vệ sinh và phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn xãy ra trong nhà
trường. Đã góp phần thực hiện tốt chương trình của Bộ giáo Dục đã đề ra cũng
như chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ đạt hiệu quả.
III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. KẾT LUẬN
Chúng ta biết rằng việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là một công việc khó
khăn, vất vả. Ảnh hưởng đến việc giáo dục phát triển toàn diện nhân cách cho
trẻ, đến lợi ích trước mắt và sau này cho thể hệ mầm non. Đó là đường lối của
Đảng, là nguyện vọng chính đáng của các bậc phụ huynh. Vì vậy trong quá trình
quản lý và chỉ đạo, Bản thân phối hợp với ban giám hiệu nhà trường phải xác
định được tầm quan trọng của công tác nuôi dạy và chăm sóc trẻ ở trường Mầm
non nơi tôi cong tác, để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của nhà trường.
Xây dựng kế hoạch chỉ đạo rõ ràng, cụ thể, luôn bám sát hoạt động bán trú, tăng


20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Chiến lược phát triển giáo dục: 1998-2020
2. Tài liệu bồi duỡng CBQLMN năm học 2013-2014
3. Chương trình chăm sóc- nuôi dưỡng trẻ ở các độ tuổi.
4. Một số vấn đề quản lý trường mầm non
5. Sách chăm sóc sức khỏe trong trường mầm non
6. Sách hướng dẫn vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục mầm
non (NXB giáo dục)
7. Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người việt nam của bộ y tếViện dinh dưỡng (NXB Y học Hà nội năm 2004).
8. 10 lời khuyên ăn uống hợp lý của thạc sỹ Cù Thị Thủy- Cục nhà giáo và
cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giai đoạn 2006-2010.
9. Sổ tính khẩu phần ăn dùng trong các trường mầm non do sở giáo dục
thanh hóa cấp.
10.Nghị quyết trung ương II ( Khóa VIII) NXB CTQG Hà Nội/1997

21


MỤC LỤC
Trang
I . MỜ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài

1

2. Mục đích nghiên cứu


6

3.2. Lấy chất lượng để huy động số lượng

8

3.3. Chỉ đạo giáo viên nuôi dưỡng chế biến thực phẩm:

10

3.4. Tổ chức tốt bữa ăn hình thành nề nếp thói quen trong giờ
ăn cho trẻ:

12

3.5. Giáo viên tổ chức giấc ngủ cho trẻ:

14

3.6. Tổ chức khám sức khoẻ và vệ sinh phòng bệnh:

15

3.7. Tổ chức, tham gia các hội thi tay nghề, Phối hợp các lực
lượng hỗ trợ kết hợp đề phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ.

16

4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status