Một số biện pháp chỉ đạo thực hiện giáo dục phát triển vận động cho trẻ mầm non tại trường mầm non Nga Giáp - Pdf 41

MỤC LỤC
Tên đề mục
1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3.Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
nghiệm
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
- Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện
giáo dục phát triển vận động một cách khoa học, chặt
chẽ, làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ tới toàn bộ giáo viên.
- Giải pháp 2: Xây dựng chỉ đạo điểm và tổ chức cho
các lớp tham quan học tập.
- Giải pháp 3: Làm đồ dùng, đồ chơi để giáo dục vận
động và tạo môi trường vận động cho trẻ hoạt động
tốt.
- Giải pháp 4: Hướng dẫn giáo viên tổ chức tốt các
hoạt động giáo dục vận động cho trẻ.
- Giải pháp 5: Chỉ đạo giáo viên giáo dục phát triển
vận động thông qua các hoạt động học khác và ở mọi
lúc, mọi nơi.
- Giải pháp 6: Làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp
với cha mẹ trẻ và cộng đồng tham gia giáo dục phát
triển vận động cho trẻ.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt
động giáo dục, bản thân, đồng nghiệp và nhà trường



1. MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Như chúng ta đã biết: Sự phát triển của khoa học kỹ thuật với lối sống hiện
đại đã khiến thói quen đi lại, lao động chân tay, luyện tập vận động của con
người gần như biến mất. Tình trạng lười vận động đã đặt con người nói chung
và trẻ em nói riêng vào trạng thái nguy hiểm tới sức khỏe một cách trầm trọng
và đang trở thành mối đe dọa lớn trong tương lai. Nếu như cách đây 30 năm, có
khoảng 80% trẻ em từ 4- 9 tuổi sáng dậy tập thể dục vận động, đi bộ tới trường
thì hiện nay con số này chỉ còn chưa đầy 20%, rất ít trẻ em chịu tập thể dục, đi
bộ tới trường do bố mẹ đi làm sớm, trẻ được cha mẹ, ông bà, anh chị đưa đi học
bằng các phương tiện.
Trẻ lứa tuổi mầm non là thời kỳ quan trọng nhất để thực hiện các hoạt động
phát triển thể chất. Giáo dục phát triển vận động là một trong những nhiệm vụ
của giáo dục phát triển thể chất nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ.
Thông qua giáo dục phát triển vận động với các bài tập vừa sức sẽ giúp cơ thể
trẻ thoải mái, kích thích hoạt động của các hệ cơ quan bên trong như hệ tuần
hoàn, hệ thần kinh, hệ hô hấp, tiêu hóa, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.
Việc giáo dục phát triển vận động góp phần tích cực vào giáo dục phát
triển nhận thức như tăng cường hiểu biết; làm phong phú thêm biểu tượng về bài
tập, các bộ phận trên cơ thể và tác dụng của bài tập đến chúng, yêu cầu luyện
tập. Với giáo dục phát triển thẩm mỹ, giáo dục phát triển vận động giúp trẻ nhận
thức đúng về cái đẹp trong trang phục luyện tập, các động tác vận động, có
mong ước được tạo ra cái đẹp trong luyện tập. Bên cạnh đó, giáo dục phát triển
vận động còn giúp trẻ phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội vì vận động sẽ giúp trẻ
nâng cao nhận thức của bản thân, phẩm chất đạo đức như tinh thần tập thể, lòng
muốn giúp đỡ lẫn nhau, tính thẳng thắn, tính trung thực, đoàn kết…
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của giáo dục phát triển vận động,
nhà trường cũng đã chỉ đạo thực hiện giáo dục vận động đến các nhóm lớp, giáo

có sự tham gia của hệ xương, hệ cơ và sự điều khiển của hệ thần kinh. Khi trẻ
vận động gân, cơ, khớp cùng phối hợp vận động và phát triển. Do đó vận động
có ý nghĩa rất to lớn đối với hệ thần kinh và sự phát triển thể lực của trẻ.
Các nhà nghiên cứu đều cho rằng: Vận động có thể giúp con người loại bỏ
trạng thái tâm lý căng thẳng, làm cho con người quên đi âu sầu, phiền não, tâm
trạng vui vẻ lên. Trẻ em vốn có đặc điểm hiếu động, thích vận động. Vận động
cơ thể thích đáng có thể kích thích trung khu tình cảm của trẻ, làm cho trẻ vui
vẻ, tình cảm hưng phấn, vận động có thể chuyển dịch tâm lý, giảm thiểu việc tạo
ra các tình cảm không lành mạnh ở trẻ hoặc làm cho tình cảm không lành mạnh
của trẻ được loại bỏ vì vậy đối với trẻ mầm non, trẻ cần được phát triển các vận
động cơ bản( vận động thô) như: Đi, chạy nhảy, leo trèo, thăng bằng, bật…; các
vận động tinh như: vận động của bàn tay, sự khéo léo của các ngón tay, phối
hợp vận động mắt- tay, kỹ năng sử dụng các đồ dùng, dụng cụ; Phát triển nhóm
cơ, xương như: cơ tay, cơ chân,cơ lưng, cơ bụng… và trẻ thực hiện được các
vận động theo nhạc, nhịp điệu, hiệu lệnh bằng lời với các dụng cụ bóng, gậy,
vòng, quả…
Để nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục phát
triển vận động cho trẻ nói riêng có hiệu quả, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ra ban
hành kèm theo thông tư 17/2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo dục phát triển vận động là một nội dung
thuộc lĩnh vực phát triển thể chất, có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc
rèn luyện cho trẻ. Bên cạnh đó thực hiện quyết định số 641/QĐTTg ngày 28
tháng 4 năm 2011 của thủ tướng Chính phủ, Vụ giáo dục mầm non xây dựng
chuyên đề:” Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong
trường mầm non” và đã được Sở Giáo Dục và Đào tạo Thanh Hóa, phòng Giáo
Dục và Đào tạo Huyện Nga Sơn tổ chức triển khai thực hiện từ năm 2013 đến
năm 2016.
Để thực hiện nội dung chuyên đề thì chúng ta phải nhận thức được rằng:
Đối với trẻ ở độ tuổi mầm non thì trẻ học qua sử dụng tất cả các giác quan, trẻ
3

vào các hoạt động một cách say sưa, tích cực, trẻ chưa manhn dạn,tự tin đang
còn nhút nhát, sợ sệt trong vận động.
* Kết quả của thực trạng: Từ những thực trạng trên, đầu năm học tôi tiến
hành khảo sát: Khả năng nhận thức, phương pháp giáo dục trẻ của giáo viên, và
khảo sát chất lượng các nội dung giáo dục vận động trên trẻ.
- Khảo sát cán bộ, giáo viên, nhân viên:
Tổng số 20 đồng chí. Trong đó: Giáo viên: 12; Cán bộ quản lý: 3; Nhân viên: 5
Tổng Nắm vững lý thuyết
chuyên đề giáo dục
số
phát
triển vận động.
Giáo
Viên
12

Nội dung, hình
thức, PP giáo dục
phát triển vận động
cho trẻ.

Xây dựng môi
trường tạo góc
vận động, làm đồ
dùng đồchơi cho
trẻ hoạt động vận
động.

Công tác tuyên
truyền, Phối

Y

T

K

TB

Y

T

K

TB

Y

4

5

2

1

2

5



Tỉ lệ
%

33.3

41.7

16.7

8.3

16.7

41.7

33.
3

8.3

25

41.7

8.
3

25


190

2

190

3

190

Tốt
Nội dung

Số
trẻ

- Trẻ tập động tác phát triển
các nhóm cơ và hô hấp
55
- Trẻ tập luyện các kỹ năng
vận động cơ bản và phát
triển các tố chất trong vận 50
động.
- Trẻ tập cử động của bàn
tay, ngón tay, phối hợp tayMắt và sử dụng một số đồ 45
dùng, dụng cụ

Tỉ lệ
%



41.1

17

8.9

26.3

35

18.4

83

43.6

22

11.7

23.6

35

18.4

88

46.3


3

50

- Trẻ tập động tác phát triển
các nhóm cơ và hô hấp
18
- Trẻ tập luyện các vận động
cơ bản và phát triển các tố 17
chất trong vận động ban đầu.
- Trẻ tập cử động của bàn
tay, ngón tay, phối hợp tay- 16
Mắt.

Tỉ lệ Số
%
trẻ

Tỉ lệ Số
%
trẻ

Tỉ lệ Số
%
trẻ

Tỉ lệ
%


9

18

18

36

7

14

Qua bảng khảo sát cho thấy kết quả chung trên giáo viên và trên trẻ còn
thấp; tỷ lệ giáo viên, trẻ đạt tốt, khá: đạt chưa cao; Tỷ lệ trung bình, Chưa đạt :
còn nhiều.
Với thực trạng trên để nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động tôi
đã nghiên cứu tìm tòi sáng tạo và áp dụng các phương pháp mới nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục vận động đến từng giáo viên, học sinh trong nhà trường.
2. 3. Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề:

5


Từ việc nhận thức và đánh giá về việc giáo dục phát triển vận động, về vai
trò của người quản lý, giáo viên trong trường cũng như những thuận lợi, khó
khăn tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp chỉ đạo thực hiện như sau:
Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện giáo dục phát triển
vận động một cách khoa học, chặt chẽ, làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ tới toàn bộ giáo viên.
a, Xây dựng kế hoạch thực hiện.

tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ trẻ thực hiện hiệu quả các nội dung GDPTVĐ
cho trẻ mầm non.Tổ chức cuộc thi: “Tìm hiểu về phát triển thể chất cho trẻ trong
trường mầm non” qua mạng Internet. Tổ chức cho giáo viên tham quan, học hỏi
kinh nghiệm của một số trường điểm trong Huyện.

6


Với sự chỉ đạo của phòng giáo dục, tôi đã dự kiến thời gian thực hiện các
chủ đề trong năm từ đó xây dựng kế hoạch năm học cho từng độ tuổi, giao cho
các đồng chí giáo viên các khối mẫu giáo, nhà trẻ lên các mục tiêu, lựa chọn các
nội dung giáo dục vào chủ đề thực hiện dựa trên nguyên tắc từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp. Riêng với trẻ 5 tuổi, mục tiêu các chủ đề được bổ sung
các chỉ số trong bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi. Sau khi tôi đã kiểm tra và góp
ý bổ sung, tôi đã tổ chức họp giáo viên để thống nhất và đưa vào thực hiện.
Qua giải pháp xây dựng kế hoạch thực hiện, giáo viên đã nắm rõ mục tiêu
của kế hoạch, nhiệm vụ phải thực hiện của bản thân cũng như của nhóm lớp.
Trên cơ sở kế hoạch năm học của nhà trường, giáo viên dễ dàng lựa chọn các
nội dung vận động để đưa vào các chủ đề thực hiện hơn. Không còn lúng túng
trong việc xây dựng kế hoạch chủ đề.
b, Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ tới đội ngũ giáo viên.
Có thể nói rằng, việc nâng cáo chất lượng chuyên môn nghiệp vụ cho đội
ngũ giáo viên trong nhà trường là hết sức cần thiết đặc biệt là trong việc nâng
cao trong giáo dục phát triển vận động cho trẻ. Để cho giáo viên hiểu sâu và
nắm chắc các hình thức, nội dung, phương pháp tổ chức, tôi đãbồi dưỡng cho
toàn bộ giáo viên trong nhà trường như:
+ Bồi dưỡng lý thuyết: Bước vào đầu năm học, cùng với ban giám hiệu nhà
trường tôi đã tổ chức cho giáo viên dự lớp học bồi dưỡng chuyên môn do trường
tổ chức theo từng độ tuổi. Bồi dưỡng cho giáo viên nắm được đặc điểm phát
triển và khả năng vận động của trẻ ở các độ tuổi, mục tiêu, nội dung, các hoạt

- Thực hiện cuộc dạo chơi: Cô cho trẻ xếp thành hàng dài theo cô cùng đi
bộ đến địa điểm dạo chơi. Tại địa điểm chơi, cô tổ chức cho các nhóm trẻ rèn
luyện các vận động đã học hay các trò chơi với bóng, gậy,vòng...
Cuối buổi dạo chơi , cô giáo cho trẻ chơi vận động nhẹ nhàng ( như liệu
pháp trò chơi hồi sức khỏe cho trẻ). Hết thời gian chơi, cô nhận xét về ý thức kỷ
luật, mức độ tham gia luyện tập, tuyên dương trẻ. Sau đó trẻ xếp hàng đi bộ
cùng cô về lớp.
Hay như chỉ cho giáo viên nắm rõ hơn về các hoạt động giáo dục phát triển
vận động có thể tổ chức ở ngoài trời:
+ Thể dục sáng; giờ thể dục
+ Trò chơi vận động: nhóm lớn, nhóm nhỏ, cá nhân/ bài tập có đồ dùngthiết bị,
+ Vận động tự do/trò chơi mới, trò chơi dân gian;
+Thể dục sau ngủ trưa; phút thể dục
+ Ngày hội thể dục thể thao.

Hình ảnh: Bồi dưỡng chuyên môn tại văn phòng nhà trường.
Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, tôi đã tổ chức cho giáo viên ôn lại
các nội dung giáo dục vận động, trò chơi vận động, các trò chơi dân gian,
phương pháp thực hiện hoạt động phát triển vận động của các độ tuổi bằng cách
cho giáo viên nói lại lần lượt các bước thực hiện hoạt động vận động, trò chơi
đồng thời nói cách hướng dẫn vận động, trò chơi đó.
8


Ví dụ: Trò chơi vận động:” Đuổi bắt bóng”- Nhóm trẻ 25-36 tháng.
Yêu cầu giáo viên nhắc lại mục đích, chuẩn bị và cách chơi như:
+ Mục đích: Rèn luyện vận động đi và chạy.
Rèn phản xạ nhanh nhẹn khéo léo cho trẻ.
+ Chuẩn bị: Sân chơi rộng rãi, bóng thể dục.
+ Cách chơi: Giáo viên chia trẻ thành các nhóm, mỗi nhóm từ 6- 8 trẻ và tổ chức

vụ, có khả năng thiết kế các hoạt động mẫu hay, sinh động, hình thức phong phú
để cho giáo viên trong trường học tập.
Đầu tiên tôi hướng dẫn các giáo viên việc xây dựng kế hoạch nội dung giáo
dục phát triển vận động cho cả năm. Ở mỗi độ tuổi khác nhau, giáo viên bám
vào đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, điều kiện của nhóm lớp, của trường để xác
định mực tiêu, lựa chọn các nội dung giáo dục phát triển vận động cho phù hợp
với trẻ và đưa vào thực hiện ở các chủ đề, tuần, ngày.
9


Ví dụ: + Đối với nhóm trẻ 25- 36 tháng:
MỤC TIEU GD NĂM HỌC

NỘI DUNG GD NĂM HỌC

1. Thực hiện được các động tác
phát triển các nhóm cơ và hô hấp
Thực hiện được các động tác trong
bài tập thể dục: hít thở, tay, lưng/
bụng và chân.

1. Tập các động tác phát triển các nhóm cơ và
hô hấp
* Hô hấp: tập hít vào, thở ra.
* Tay: giơ cao, đưa ra phía trước, đưa sang
ngang, đưa ra sau kết hợp với lắc bàn tay.
* Lưng, bụng, lườn: cúi về phía trước, nghiêng
người sang 2 bên, vặn người sang 2 bên.
* Chân: ngồi xuống, đứng lên, co duỗi từng
chân..

ngón tay và phối hợp tay-mắt trong
các hoạt động: nhào đất nặn; vẽ tổ
chim; xâu vòng tay, chuỗi đeo cổ.

+ Bò thẳng hướng và có vật trên lưng.
+ Bò, trườn chui qua cổng.
+ Bò, trườn qua vật cản.
+ Ném xa bằng một tay tối thiểu 1,5m
- Tập nhún bật:
− Bật tại chỗ. Bật qua vạch kẻ.
3. Tập các cử động của bàn tay, ngón tay và
phối hợp tay- mắt
− Xoa tay, chạm các đầu ngón tay với nhau, nhặt

được các vật nhỏ bằng ngón cái, ngón trỏ, rót,
nhào, khuấy, đảo, vò xé.
− Đóng cọc bàn gỗ, Nhón nhặt đồ vật, Tập xâu,
luồn dây, cài, cởi cúc, buộc dây, Chắp ghép hình,
Chồng, xếp 6-8 khối, Tập cầm bút tô, vẽ. Lật mở

10


trang sách.

Tiếp theo đó tôi quan tâm tới việc bồi dưỡng thực tế ở các lớp điểm, khi
chọn lớp điểm, tôi chọn các cháu phải cùng đồng đều một độ tuổi, giáo viên
nhiệt tình, năng động hơn, tác phong mẫu mực. Sau khi chọn điểm, tôi đã cùng
với giáo viên lớp điểm xây dựng kế hoạch và lựa chọn những nội dung cho cả
năm, xây dựng môi trường trong lớp( tạo góc vận động); xây dựng góc tuyên

phát triển vận động. Nhà trường đã mua bổ sung thêm đồ dùng vận động như
bóng, vòng, gậy, thú nhún, cổng chui…theo danh mục đồ dùng- đồ chơi- thiết bị
dạy học tối thiểu của Bộ giáo dục và đào tạo quy định. Bên cạnh những đồ dùng
đồ chơi mua, tôi còn chỉ đạo giáo viên làm các đồ dùng phát triển vận động từ
những nguyên vật liệu phế thải, sẵn có tại địa phương.
11


Ví dụ: Làm ống chui, bập bênh bằng lốp xe ô tô, xe máy, gỗ; cổng chui
bằng vỏ chai C2, ống sữa; đường zích zắc bằng đũa ăn một lần; quả tạ bằng
bóng nhựa và ống nước…
Cách làm: Dùng các lốp xe máy đã bỏ đi sơn lại màu cho đẹp sau đó khoan
lỗ rồi nối từng cái lốp với nhau tạo ra một đoạn ống dài 1,6m. Dùng đoạn ống
dẫn nước bằng nhựa để trẻ cầm vừa tay, dùng 2 quả bóng nhựa xâu vào hai đầu
của ống tạo thành quả tạ cho trẻ cầm, dùng đũa ăn một lần dính trên bìa cát tông
và tạo thành đường zích zắc, 2 bên đường trang trí cỏ hoa cho đẹp…

Lớp 5
tuổi
A1

Hình ảnh: Làm đồ dùng, đồ chơi từ nguyên vật liệu của địa phương.
b, Xây dựng môi trường phát triển vận động.
+ Môi trường trong lớp: Tôi hướng dẫn giáo viên trong các nhóm lớp xây
dựng góc vận động, sắp xếp thiết bị, đồ chơi cho trẻ lớp mình phải chú ý đến các
hoạt động phát triển thể lực của trẻ theo hướng mở, được bố trí phù hợp, linh
hoạt, tạo điều kiện dễ dàng cho trẻ lựa chọn và sử dụng đồ vật, đồ chơi, tham gia
vào các góc chơi, đồng thời thuận tiện cho sự quan sát của giáo viên.
+ Với môi trường ngoài lớp, diện tích sân vườn được thiết kế phù hợp,
đảm bảo vệ sinh sạch sẽ, an toàn, khuôn viên xanh, thoáng đãng, tạo điều kiện

những trò chơi vận động, những vận động cơ bản, giáo viên kết hợp với những
hình ảnh trẻ đã vẽ ghi lại tên trò chơi, vận động, cách chơi và cách vận động để
phụ huynh cũng được biết và chơi cùng với trẻ tại gia đình nhà mình.
Kết quả các lớp có đủ đồ dùng để thực hiện tất cả các bài tập cũng như các
trò chơi, các lớp đều có góc vận động, trong góc có nhiều loại đồ dùng đồ chơi,
tất cả các loại đồ chơi đều thu hút sự chú ý và tham gia của trẻ.
Giải pháp 4: Hướng dẫn giáo viên tổ chức tốt các hoạt động giáo dục
vận động cho trẻ.
Khi tổ chức các hoạt động phát triển vận động đối với mẫu giáo: Giờ thể
dục, thể dục sáng, phút thể dục, trò chơi vận động, dạo chơi ngoài trời, tuần lễ
sức khỏe, ngày hội thể dục thể thao….; đối với nhà trẻ: Thể dục sáng, giờ chơitập phát triển vận động, phút thể dục, bài tập thể dục sau giấc ngủ trưa… cần có
thời gian để trẻ luyện tập và kiên trì theo đuổi một hoạt động nào đó mà trẻ
muốn trải nghiệm thành công. Trẻ ở giai đoạn này rất hiếu động nhưng chúng ta
không thể coi rằng trẻ đã phát triển tất cả các kỹ năng vận động một cách tự
nhiên.
Đối với giờ thể dục của mẫu giáo: Đây là hình thức cơ bản để tổ chức hoạt
động giáo dục phát triển vận động cho trẻ, thường được thực hiện 1- 2 lần/ tuần/
lớp. Trong giờ thể dục có 3 phần khởi động, trọng động và hồi tĩnh. Mỗi phần có
nhiệm vụ phù hợp với việc lực chọn, sắp xếp bài tập vận động và cách thức tiến
hành chúng vì vậy tôi đã hướng dẫn cho các giáo viên cần lựa chọn các động
tác, bài tập, trò chơi để rèn luyện cho trẻ những kỹ năng, kỹ xảo vận động có
mục đích, có tổ chức, có hệ thống và có kế hoạch đảm bảo hợp lý, khoa học.
Ví dụ: Với phần trọng động: giai đoạn đầu là tập bài tập phát triển chung,
tôi hướng dẫn giáo viên chọn các động tác phát triển các nhóm cơ chính của cơ
thể theo thứ tự thực hiện: tay- vai; bụng- lượn; chân- bật, trong đó có động tác
hỗ trợ cho vận động cơ bản với số lần tập tăng từ 1- 2 lần. Nội dung số lần tập
mỗi động tác của bài tập phát triển chung phụ thuộc vào mức độ yêu cầu của bài
tập vận động cơ bản và phụ thuộc vào từng đối tượng của trẻ. Giai đoạn 2 là
thực hiện bài tập vận động cơ bản: Nếu có một vận động cơ bản thì có thể là vận
động mới hoặc trẻ đã quen thuộc. Nếu có 2 vận động cơ bản thì hoặc có 1 vận

cho trẻ bật chụm tách theo sơ đồ. Ở trong ô chụm giáo viên viết các chữ cái a, ă,
â. Yêu cầu trẻ khi bật chụm vào thì phải phát âm to chữ cái của có ở trong ô và
khi bật phải đúng kỹ thuật, không phạm luật.
Sơ đồ như sau:

x x x x x x x

x x

a
x x x x x x x

ă

â

x x

Hay như khi cho trẻ hoạt động làm quen với biểu tượng toán sơ đẳng. Sau
khi cho trẻ học đếm đến 6, tạo nhóm có 6 đối tượng, Nhận biết chữ số 6. Giáo
viên đã cho trẻ đứng thành 3 đội chơi lần lượt bước qua vật cản lên xếp bông
hoa sao cho mỗi bông hoa có 6 cánh.
Với hoạt động làm quen văn học: Sau khi nghe cô kể xong chuyện tích chu,
giáo viên tổ chức cho trẻ bật qua suối để đi lấy nước cho bà Tích Chu….
Qua hoạt động khám phá khoa học, sau khi trẻ được khám phá về các nhóm
chất dinh dưỡng, tôi hưỡng dẫn cho giáo viên tổ chức cho trẻ bò chui qua
cổng, dê bóng bằng 2 chân qua 3 hộp zích zắc, chuyển chất theo yêu cầu về kho.
Việc tích hợp vận động vào các hoạt động học có chủ định đã giúp trẻ được
tiếp cận và ôn luyện các vận động nhiều hơn, trẻ sẽ không lãng quên các
vận động mà từ đó trẻ sẽ nhớ tốt hơn.

Huyện.
Trong các ngày hội, ngày lễ tôi chỉ đạo giáo viên nên dành nhiều thời gian
cho các cháu tham gia thi các vận động cơ bản, các trò chơi dân gian. Trong
cuộc thi, trẻ sẽ phải nhớ tên vận động, tên trò chơi, cách vận động, cách chơi,
16


luật chơi. Trong hội thi, trẻ có sự thi đua lẫn nhau như vậy những trẻ còn yếu sẽ
cố gắng hơn, những trẻ khá sẽ càng phát huy năng lực của mình…Và chất lượng
giáo dục vận động của trẻ từ đó cũng được nâng cao.
* Giáo dục phát triển vận động ở mọi lúc, mọi nơi.
Vào mỗi buổi sáng đón trẻ, ngoài việc nhắc trẻ chào ông, bà, bố, mẹ….giữ
vệ sinh tôi hướng dẫn các giáo viên nên trò chuyện với trẻ theo chủ đề của
chương trình học. Thông qua các giờ đón và trả trẻ, giáo viên cho trẻ xem một
số tranh ảnh đẹp có hình ảnh các bạn đang vận động sau đó hỏi trẻ tên các trò
chơi, các vận động, cách chơi….để giúp trẻ nhớ được tên vận động đó thông qua
tranh ảnh.
Ví dụ: Cho trẻ xem tranh ảnh các bạn đang chơi trò chơi:”Mèo đuổi chuột”.
Cô hỏi trẻ các bạn đang chơi trò chơi gì? ( Mèo đuổi chuột).Vì sao con biết đây
là trò chơi mèo đuổi chuột? ( vì con thấy các bạn đứng thành vòng rộng, giơ tay
lên cao và có một bạn đang đuổi bắt một bạn. và yêu cầu trẻ nói luật chơi.

Hình ảnh: Cô và trẻ cùng chơi trò chơi vận động:” Mèo đuổi chuột”
Hoặc khi thực hiện ở chủ đề: “Giao thông”. Hướng dẫn giáo viên tổ chức
cho trẻ hoạt động ngoài trời. Ở hoạt động có mục đích, cho trẻ quan sát về các
phương tiện giao thông đường bộ như xe đạp, xe máy….. Trong lúc trò chuyện
giáo viên đã cung cấp kiến thức cho trẻ về các phương tiện giao thông sau đó
cho trẻ làm vận động của các phương tiện như tàu chạy, lái xe ô tô, xe máy… .
Sau khi trò chuyện đến trò chơi vận động, tôi hướng dẫn giáo viên chọn các trò
chơi mà trẻ được quan sát tranh ảnh trong ngày như kéo co, đua ngựa, ném còn,

của nhà trường truyền tin những nội dung giáo dục phát triển vận động cho trẻ
để phụ huynh có nhận thức đúng và phối hợp với nhà trường về chăm sóc, giáo
dục con mình ở nhà.
- Ở dưới góc vận động của các nhóm lớp, tôi hướng dẫn giáo viên mỗi chủ đề
có danh sách các trò chơi, các vận động cơ bản, các nội dung của tuần lễ sức
khỏe… để phụ huynh nắm bắt được tại lớp và phối hợp với cô khi có những vấn
đề không hiểu về các vận động để cho trẻ có thể luyện tập ở nhà khi trẻ có hứng
thú.
- Thông qua hoạt động tập thể, hội, lễ của nhà trường: Cha mẹ có thể trực
tiếp tham gia tổ chức các hội khỏe, tuần lễ sức khỏe, hoạt động ngoại khóa về
giáo dục phát triển vận động do nhà trường hay cộng đồng tổ chức.
- Ban giám hiệu chỉ đạo cho giáo viên lên kế hoạch báo trước các bậc phụ huynh
về vấn đề gì mà nhà trường, cô giáo cần gia đình và nhà trường cần phối kết hợp
và hướng dẫn những việc mà phụ huynh cần biết về trẻ.
Ví dụ: Mời phụ huynh dự giờ các hoạt động dạy mẫu cũng như tổ chức “
Ngày hội thể dục thể thao” tại nhóm lớp … Đã được phụ huynh đồng tình ủng
hộ. Qua dự các hoạt động tuyên truyền kiến thức về phát triển vận động được
phụ huynh đóng góp ý kiến, phụ huynh thấy được công việc của cô giáo cũng
như công việc học hành của con em mình. Đặc biệt phụ huynh hiểu được
phương pháp giáo dục phát triển vận động từ đó hình thành cho trẻ kỹ năng và

18


thói quen trong vận động cho trẻ ở nhà góp phần hình thành nhân cách trẻ sau
này.
- Tổ chức cho phụ huynh thăm quan các nhóm lớp để phụ huynh nắm bắt
kịp thời về quá trình hoạt động của trẻ ở trên lớp, khi trẻ về nhà gia đình bớt
chút thời gian cùng vận động, chơi các trò chơi vận động, trò chơi dân gian với
trẻ.

* Kết quả khảo sát cuối năm học:
- Khảo sát cán bộ, giáo viên, nhân viên: Tổng số 20 đồng chí. Trong đó
Tổng Nắm vững lý thuyết
số
chuyên đề giáo dục
Giáo phát triển vận động.
Viên

Nội dung, hình
thức, PP giáo dục
phát triển vận động
cho trẻ.

Xây dựng môi
trường tạo góc
vận động, làm đồ
dùng đồchơi cho
trẻ HĐVĐ

Công tác tuyên
truyền, Phối
hợp với phụ
huynh GD PT
VĐ cho trẻ.

Kết quả
chung

19



Y

T

K

TB

Y

12

5

6

1

0

6

5

1

0

7

8.3

50

41.7

8.3

58
.3

41.7

50

50

50

41
.7

8.
3

- Bảng khảo sát Trẻ: Tổng số trẻ cuối năm học: 240 cháu.
Trong đó: Mẫu giáo: 190 cháu; nhóm trẻ: 50 cháu.
* Đối với mẫu giáo:
S
TT

87
nhóm cơ và hô hấp
- Trẻ tập luyện các kỹ năng vận
động cơ bản và phát triển các tố
90
chất trong vận động.
- Trẻ tập cử động của bàn tay,
ngón tay, phối hợp tay- Mắt và sử
89
dụng một số đồ dùng, dụng cụ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

45.7


6.3

2

Tỉ lệ
%

1.2

* Đối với nhà trẻ:
S
TT

Tổng
số
trẻ
50

2

50

3

50

Chưa

TB

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

Tỉ lệ
%

Số
trẻ

56

19

38

4

8

0

56

20

40


Tỉ lệ
%

2


của xã hội, trong quá trình hình thành nhân cách con người. Do vậy, trong công
tác giáo dục mầm non phải được tiến hành một cách khoa học có mục đích, có
hệ thống nhằm tạo dựng những nền tảng ban đầu vững chắc cho quá trình phát
triển sau này của mỗi cá nhân trẻ là chủ nhân tương lai của đất nước.
Nhận thức được điều đó, sau khi vận dụng sáng kiến kinh nghiệm vào
thực tế chỉ đạo thực hiện, bản thân tôi thấy mình cần phải không ngừng học hỏi
nghiên cứu tài liệu, vận dụng linh hoạt hơn nữa các phương pháp, biện pháp,
hình thức phù hợp để giúp giáo viên, học sinh tiếp nhận các nội dung của giáo
dục phát triển vận động một cách tốt nhất và đạt kết quả cao nhất.
Qua một năm áp dụng các giải pháp đểnghiên cứu đề tài này, tôi đã rút ra
được bài học kinh nghiệm sau:
Trước hết phải xây dựng kế hoạch chỉ đạo thực hiện giáo dục phát triển vận
động một cách khoa học, chặt chẽ, làm tốt công tác bồi dưỡng chuyên môn
nghiệp vụ tới toàn bộ giáo viên.
Thực hiện nghiêm túc chương trình, nắm vững mục đích, yêu cầu đặt ra để
cung cấp kiến thức cho trẻ.
Tăng cường chỉ đạo điểm và tổ chức cho các lớp tham quan học tập.
Động viên giáo viên tích cực làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho phát triển
vận động một cách phù hợp, không lạm phát. Tổ chức tốt các hoạt động giáo dục
vận động cho trẻ.
Làm tốt công tác tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ trẻ và cộng đồng tham
gia giáo dục phát triển vận động cho trẻ.
Người phụ trách chuyên môn phải nẵm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản của
hoạt động vận động và đặc biệt phải năng động sáng tạo, biết đổi mới phương

non, NXB Giáo dục.
3. Nguyễn Sinh Thảo, Nguyễn Thị Tuất, Các hoạt động phát triển vận động của
trẻ mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam.
4. Trần Lan Hương, Trần Thị Nga, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thư,
Hướng dẫn các hoạt động phát triển thể chất cho trẻ mầm non, NXB Giáo dục.
5. Trần Thu Hòa, Đặng Lan Phương, Nguyễn Thanh Huyền, Trò chơi và bài tập
phát triển vận động cho trẻ mẫu giáo( theo chương trình giáo dục mầm non),
NXB Giáo dục Việt Nam.
6. Nguyễn Bá Minh, Nguyễn Thị Mỹ Trinh, Bùi Thị Việt, Nguyễn Thị Thu Hà,
Hoàng Thị Dinh, Hướng dẫn tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận
động cho trẻ trong trường mầm non, NXB Giáo dục Việt Nam.
7. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, Hướng dẫn thực
hiện chương trình giáo dục mầm non Mẫu giáo lớn( 5- 6 tuổi), NXB Giáo dục
Việt Nam.
8. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, Hướng dẫn thực
hiện chương trình giáo dục mầm non Mẫu giáo nhỡ( 4- 5 tuổi), NXB Giáo dục
Việt Nam.
9. Trần Thị Ngọc Trâm, Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, Hướng dẫn thực
hiện chương trình giáo dục mầm non Mẫu giáo Bé( 3- 4 tuổi), NXB Giáo dục
Việt Nam.
10. Lê Thu Hương, Lê Thị Ánh Tuyết, Hướng dẫn thực hiện chương trình giáo
dục mầm non Nhà trẻ ( 3- 36 tháng tuổi), NXB Giáo dục Việt Nam.
11. Các văn bản hướng dẫn: Quyết định số 641/ QĐTTg ngày 28 tháng 4 năm
2011 của Thủ tướng Chính phủ, Vụ giáo dục mầm non xây dựng chuyên đề:”
Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm
non”.
12. Công văn số 918/ KH/ SGDĐT- GDMN ngày 22/05/2014 của Sở Giáo dục
và Đào tạo về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch và thực hiện chuyên đề “Nâng
cao chất lượng giáo dục phát triển vận động cho trẻ trong trường mầm non,
giai đoạn 2013- 2016”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status