MỤC LỤC
STT
I
1
2
3
4
II
1
2
2.1
2.2
2.3
3
3.1
NỘI DUNG
TRANG
MỞ ĐẦU
1 -2
Lý do chọn đề tài
1-2
Mục đích nghiên cứu
2
Đối tượng nghiên cứu
2
Phương pháp nghiên cứu
2
NỘI DUNG
2 - 19
3.5. Chỉ đạo giáo viên giáo thường xuyên giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết 11
kiệm hiệu quả thông qua các hoạt động và mọi lúc, mọi nơi.
3.5.1 Giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả thông qua các hoạt động 11 - 13
.
3.5.2 Giáo dục trẻ qua các chủ đề và ở mọi lúc, mọi nơi
13 - 15
.
3.6.
Chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường hoạt động và coi trọng công tác 15 - 17
cho trẻ thực hành trải nghiệm:
3.7. Tăng cường công tác tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc cha mẹ và cộng 17 - 18
đồng để không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề
4
Hiệu quả
18 - 19
III
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
19 - 20
1
Kết luận
19 - 20
2
Kiến nghị
20
Chính vì vậy, việc lựa chọn tích hợp nội dung giáo dục SDNLTK,HQ vào các nhà
trường là đúng đối tượng và là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, giáo viên luôn là tấm
gương sáng trong việc đào tạo thế hệ trẻ ở các trường học, tạo ra một hiệu ứng rộng rãi.
Trẻ mầm non thích học hỏi, hiếu động, khám phá những gì mới lạ, trẻ có thể hiểu và
thực hiện những yêu cầu của cô. Vì thế, cần giáo dục trẻ ngay từ lúc này để trẻ phát triển toàn
diện về các mặt đạo đức, thói quen, có hành vi đúng đắn về việc SDNLTK,HQ, góp phần
vào công cuộc xây dựng một cộng đồng, hành tinh xanh và lành mạnh. Giáo dục
SDNLTK,HQ cho trẻ mầm non là cung cấp những kiến thức sơ đẳng, những hành động đơn
giản, thiết thực trong cuộc sống hàng ngày ở nhà, ở lớp như: hãy tắt quạt, ti vi và các thiết bị
điện khi không dùng; khóa vòi nước lại khi không dùng; có những hiểu biết đơn giản về NL.
Đó là những hành động phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ nhằm tạo ra thái độ, hành vi
đúng đối với việc SDTK nguồn NL. Để nâng cao sự hiểu biết của con người về năng lượng
1
và giáo dục SDNLTK,HQ cao, đòi hỏi phải được thực hiện một cách thường xuyên, có sự
cộng hưởng của cả cộng đồng và phải được thực hiện ngay từ lứa tuổi mầm non. Coi đây là
một nhiệm vụ cấp bách, có tính chiến lược toàn cầu.
Là một cán bộ quản lý bậc học mầm non tôi luôn trăn trở tìm ra giải pháp để nâng cao
nhận thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên trong trường về các nội dung yêu cầu của
chuyên đề và giáo dục các cháu học sinh có ý thức SDNLTK,HQ. Vì vậy tôi đã mạnh dạn
chọn đề tài “ Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề giáo dục sử
dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường mầm non Nga Lĩnh”. Làm đề tài
nghiên cứu trong một năm qua nhằm tìm ra giải pháp tốt góp phần vào công cuộc TKNL
của toàn thế giới. Giúp cho đồng nghiệp có nhiều kinh nghiệm để không ngừng nâng cao
chất lượng thực hiện chuyên đề, giúp phụ huynh, nhân dân ở địa phương hiểu và SDTK
nguồn NL, làm gương cho trẻ học tập tại gia đình, hình thành ở trẻ có thói quen tiết kiệm từ
lúc nhỏ để trở thành người có ích cho xã hội.
2. Mục đích nghiên cứu
102/2003/NĐ - CP ngày 3 tháng 9 năm 2003 của Chính phủ về “Sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả”. Sau khi thi hành Nghị định, việc SDNLTK,HQ đã đạt được một số kết
quả bước đầu, như hình thành phương thức quản lý nhà nước về SDNLTK,HQ, nâng cao
nhận thức của cộng đồng, hành vi TKNL đã được khuyến khích thực hiện trong một số hoạt
động của đời sống xã hội.
Năm 2006, Việt Nam có Chương trình mục tiêu quốc gia SDNLTK,HQ .
Năm 2007, Thủ tướng chính Phủ phê duyệt Chiến lược phát triển NL quốc gia đến năm
2020, tầm nhìn 2050.
Tháng 11/2009, tại kì họp thứ 6, quốc hội khóa XII đã thảo luận “Luật sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả”. Khi Luật được ban hành và đi vào cuộc sống thì ý thức và
trách nhiệm về TKNL sẽ được điều chỉnh mạnh mẽ hơn, hạn chế tối đa tình trạng lãng phí
NL, đáp ứng tốt hơn nhu cầu NL cho phát triển kinh tế xã hội của Đất nước. Đồng thời, góp
phần vào sự nghiệp bảo vệ môi trường toàn nhân loại. Đó là những chính sách mang tính
chất chiến lược của Quốc gia để SDNLTK,HQ về mặt lâu dài. Để thực hiện “Luật sử dụng
năng lượng tiết kiệm và hiệu quả”. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã ban hành các văn bản
nhằm cụ thể hóa các chủ trương xây dựng tăng cường công tác “Sử dụng năng lượng tiết
kiệm, hiệu quả” trong hệ thống Giáo dục quốc dân. Năm học 2009 - 2010 là năm học đầu
tiên bậc học mầm non triển khai đưa nội dung “Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu
quả”qua chương trình giáo dục mầm non mới. Phòng giáo dục huyện Nga Sơn đã triển khai
mở lớp chuyên đề cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán của các trường mầm non.
2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
2.1. Thuận lợi
Nhà trường đã thực việc lồng ghép việc thực hiện chuyên đề vào trong quá trình chăm
sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ từ các năm học trước. Cơ sở vật chất thường xuyên được địa
phương đầu tư tu sửa, mua sắm các trang thiết bị ngày một khang trang. Trường đạt chuẩn
quốc gia mức độ 1, nằm ở trung tâm xã, với tổng số 9 nhóm/ lớp, các phòng nhóm lớp được
trang bị đầy đủ hệ thống quạt, đèn chiếu sáng, ti vi... Đây là những điều kiện thuận lợi góp
phần nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề.
2.3. Kết quả thực trạng ban đầu qua khảo sát:
* Bảng 1: Kết quả chất lượng trên trẻ:
Kết quả trên trẻ
T
Số
Nội dung khảo sát
Đạt
CĐ
T
trẻ
T % K % TB % Y %
1 Trẻ có hiểu biết về năng lượng.
271 52 19 71 26 80 29 68 25
Trẻ có ý thức, thói quen sử dụng năng 271
2
48 18 66 24 83 31 74 27
lượng điện, nước tiết kiệm hiệu quả.
Tích cực tham gia các hoạt động, gần 271
3 gũi về sử dụng tiết kiệm năng lượng
47 17 62 23 86 32 76 28
điện, nước ở trường/ lớp.
Biết chia sẻ và hợp tác với bạn bè và 271
4 những người xung quanh để sử dụng
43 16 60 22 86 32 82 30
tiết kiệm năng lượng điện, nước
Có phản ứng với những người có hành 271
5 vi không sử dụng năng lượng tiết kiệm,
43 16 60 22 86 32 82 30
hiệu quả.
* Bảng 2: Kết quả đánh giá xếp loại giáo viên
50 0
0
18
3
17
6
33
8
44 1
6
18
3
17
6
33
hiệu tổ chức cho toàn trường họp bàn, rà soát, đánh giá, kiểm tra lại thực trạng chuyên đề, kết
quả thực hiện chuyên đề của nhà trường vào tháng 8, để cán bộ giáo viên trong toàn trường
thấy được những điểm nào làm được, chưa làm được. Từ đó, tôi định hướng nội dung, bồi
dưỡng nâng cao cho từng cán bộ giáo viên, từng nhóm lớp và công việc làm của mỗi người.
Ví dụ: Lớp mẫu giáo 3 – 4 Tuổi do cô Đặng Quyết phụ trách chưa cung cấp kiến thức
về tên gọi và hình thành cho trẻ có thói quen tiết kiệm điện, nước; chưa hướng dẫn trẻ cách
vặn vòi, lấy nước vừa đủ để uống và khoá vòi nước lại khi không dùng.
Hay ở lớp mẫu giáo 4 – 5 tuổi do cô Nguyễn Chung phụ trách chưa hướng dẫn trẻ khoá
vòi nước lại sau khi đi vệ sinh...; Lớp MG 5 – 6 tuổi do cô Phạm Luận phụ trách trẻ chưa có
thói quen tắt các thiết bị điện khi không sử dụng như: khi chuyển hoạt động ra ngoài hoạt
động ngoài trời không tắt quạt, khi rửa tay bằng xà phòng, không vặn chặt khoá nước còn để
vòi nước chảy... Ngoài ra khi tích hợp các nội dung giáo dục SDNLTK,HQ trong các hoạt
động chưa hợp lý, quá lạm dụng.
Nhìn chung hầu hết các lớp chưa chú trọng đến việc rèn luyện cho trẻ có thói quen
SDNL điện, nước hoặc đã rèn nhưng chưa được thực hiện thường xuyên. Đặc biệt là một số
giáo viên chưa biết cách lồng tích hợp khéo léo, nhẹ nhàng, linh hoạt, tạo cơ hội cho trẻ được
thực hành trải nghiệm và lĩnh hội kiến thức qua hình thức học mà chơi, chơi bằng học.
Về phía ban giám hiệu nhà trường xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề các năm
trước còn chung chung, rập khuôn, máy móc chưa linh hoạt, chưa tổ chức thảo luận nhóm
thường xuyên. Do vậy chưa nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề.
3.2. Xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề một cách chặt
chẽ, khoa học phù hợp với nội dung và hoạt động của trẻ.
Ngay từ đầu năm học tôi đã bám sát kết quả đánh giá thực trạng thực hiện chuyên đề
năm học trước( 2014 - 2015). Đúc rút được những nội dung đã làm được, chưa làm được,
làm nhưng chưa có hiệu quả. Từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng nâng cao nội dung chuyên
đề cho phù hợp với từng nhóm lớp, từng cán bộ giáo viên. Khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng
và nâng cao, tôi căn cứ vào hướng dẫn chỉ đạo của lãnh đạo phòng giáo dục. Căn cứ vào các
nội dung đã thống nhất, những điểm mới, những nội dung trọng tâm cần chỉ đạo, những
điểm đang còn yếu, hiệu quả chưa cao. Đồng thời, căn cứ vào kế hoạch thực hiện năm học
của nhà trường và điều kiện thực tế ở địa phương, để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng phù hợp,
vi, máy tính, bóng điện). Không mở cửa tủ lạnh nhiều lần, đóng kín cửa tủ lạnh, không mở
cửa khi bật điều hoà.... Phụ huynh và những người lớn xung quanh trẻ phải là tấm gương cho
trẻ học tập. Sau những lần trẻ thực hiện tốt phụ huynh chụp hình ảnh lại và trao đổi với giáo
viên. Để trẻ được nêu gương sao của ngày, sao của tuần và sao của tháng. Như vậy, sẽ là
nguồn khích lệ động viên rất lớn đối với trẻ, là tấm gương cho các bạn khác học tập.
3.3. Không ngừng nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên và nhân viên
trong trường:
3.3.1. Thường xuyên bồi dưỡng về lý thuyết:
Từ kết quả đánh giá thực trạng của nhà trường trong các năm và kế hoạch đã xây dựng.
Nhà trường đã mở lớp chuyên đề để giúp 100% cán bộ giáo viên nắm vững mục đích yêu
cầu, nội dung chuyên đề, các nội dung mới cần bổ sung, giúp đội ngũ giáo viên cập nhật kiến
thức xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề một cách phù hợp và đạt hiệu quả cao. Đây là
một biện pháp then chốt, bởi vì đội ngũ giáo viên là những người trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục trẻ, là tấm gương cho trẻ học tập và noi theo. Đồng thời là lực lượng quyết
định chất lượng giáo dục toàn diện trong trường mầm non.
Sau khi học xong lý thuyết chúng tôi tổ chức cho đội ngũ giáo viên trao đổi viết thu
hoạch, đề xuất, kiến nghị những khó khăn khi triển khai thực hiện nội dung chuyên đề.
Chúng tôi còn sưu tầm, mua thêm những tài tiệu, tập san, sách báo, tranh ảnh, có nội dung
của chuyên đề, hoặc sưu tầm các thông tin trên các chuyên mục: “Ngày đi bộ”, “Giờ trái
đất” được phát sóng trên đài truyền hình Việt Nam để chị em tham khảo vận dụng.
3.3.2. Bồi dưỡng chuyên đề qua hội thảo.
Ngoài kế hoạch cho đi học tập trung các lớp trên chuẩn để cập nhật thông tin, không
ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ giáo viên, tôi còn xây
dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng tại chỗ thông qua các hội thảo chuyên môn, chuyên đề thường kỳ.
- Lồng ghép nội dung của chuyên đề vào các hoạt động như thế nào cho phù hợp và
có hiệu quả nhất.
- Làm thế nào để phát huy tác dụng của góc truyên truyền.
- Cách vào bài tổ chức các hoạt động như thế nào để kích thích sự hứng thú của trẻ lôi
cuốn trẻ vào các hoạt động tiết kiệm điện, nước.
- Cách làm đồ dùng, đồ chơi, trang trí lớp như thế nào để cuốn hút sự quan tâm chú ý
Trong hội thảo, sinh hoạt chuyên đề, mời giáo viên có nhiều sáng kiến tổ chức giáo dục
nội dung chuyên đề đạt hiệu quả cao ở trẻ qua các năm giới thiệu cách làm mới, cách hướng
dẫn trẻ thao tác thực hành, trải nghiệm, trong các hoạt động, để mọi người học tập và triển
khai nhân ra đại trà. Ban giám hiệu, tổ chuyên môn thường xuyên dự các hoạt động của giáo
viên biết lắng nghe ý kiến góp ý, đề xuất của giáo viên để có hướng giải quyết, điều chỉnh sơ
bộ, đánh giá từng giai đoạn kịp thời. Nhiều sáng kiến đã được phát huy sau hội thảo. Kết quả
là phụ huynh từng lớp đã hỗ trợ cung cấp tư liệu, tranh ảnh, sáng tác thơ ca, để phục vụ cho
chuyên đề.
3.3.3. Bồi dưỡng qua thực hành:
Cùng với việc bồi dưỡng nội dung chuyên đề qua hội thảo. Tôi tiến hành chỉ đạo thực
hành qua xây dựng các lớp điểm và quan tâm đến việc bồi dưỡng thực tế ở các lớp điểm. Tôi
cùng giáo viên xây dựng được môi trường phù hợp và cho giáo viên quan sát, rồi cùng nhau
thảo luận đúc rút kinh nghiệm trong việc xây dựng môi trường bên trong, bên ngoài lớp học
có các hình ảnh minh hoạ về các hành vi đúng khi sử dụng năng lượng điện nước, các hành
vi sai khi không sử dụng tiết kiệm. Từ những hình ảnh trên được thiết kế trang trí sao cho
đảm bảo cả môi trường kín và môi trường mở cho trẻ hoạt động.
Ví dụ:
- Việc xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề.
8
- Cung cấp các kiến thức đơn giản về tên gọi lợi ích tác dụng của các nguồn năng lượng
điện, nước, gió, ánh nắng mặt trời,....Ngoài ra cung cấp cho trẻ biết một số thao tác đơn giản
để sử dụng điện, nước tiết kiệm. Nhận biết, phân biệt và có phản ứng với những hành vi
không đúng khi sử dụng điện nước lãng phí.
- Các hình ảnh được sắp xếp có mục đích giáo dục, phù hợp với từng độ tuổi và nhận thức
của trẻ, Tạo hứng thú cho trẻ tham gia hoạt động tích cực.
Ngoài ra, tôi còn tạo điều kiện cho giáo viên thăm quan các trường điểm của huyện.Việc
làm trên đã đáp ứng cải thiện môi trường giáo dục vừa có hiệu quả trong đổi mới phương
“ Giọt nước tí xíu ” ngoài việc dạy trẻ hiểu nội dung câu chuyện, tôi yêu cầu giáo viên phải
cung cấp kiến thức để trẻ biết nước có từ đâu, lợi ích tác dụng của nước rất cần thiết đối với
đời sống con người, cây cối, con vật. Sau đó nhẹ nhàng giáo dục trẻ phải biết tiết kiệm nước,
không dùng nước lãng phí, lấy vừa đủ nước để uống hết, không được để thừa hay khi rửa tay,
giáo dục dục trẻ vặn vòi nước vừa phải, khi không dùng nữa thì phải khóa vòi lại. Hoặc trong
9
hoạt động Âm nhạc lớp MG 5 – 6 tuổi với bài hát “ Cho tôi đi làm mưa với”. Tôi chỉ đạo
giáo viên tạo hứng thú bằng cách trình chiếu cho trẻ xem các hình ảnh về hạn hán, thiếu nước
khi không có mưa, không có nước thì sự sống sẽ không còn.
Hình ảnh về hạn hán, thiếu nước khi không có mưa
Từ đó giúp trẻ hiểu về nội dung bài hát. Qua đó, khéo léo giáo dục trẻ biết ích lợi của
mưa, nhờ có mưa mà chúng ta có nước làm cho cây cối tốt tươi, còn giúp vạn vật xung quanh
phát triển, mưa đem lại nguồn nước phục vụ cho vật nuôi, cây trồng và phục vụ đời sống con
người…, nguồn nước do thiên nhiên ban tặng nhưng nước sẽ bị cạn kiệt, hạn hán kéo dài, khi
chúng ta sử dụng bừa bãi; không tiết kiệm thì trong tương lai không xa cây cối và vạn vật
trong đó có chúng ta sẽ không còn đủ nước để sống, cây cối héo khô, con người và động vật
sẽ bị chết khát...
Đồng thời, giáo dục trẻ dùng nước phải biết tiết kiệm như khi tắm, vệ sinh rửa tay chân
phải biết khóa vòi nước khi không sử dụng… để nguồn nước của chúng ta không bị cạn kiệt,
khô hạn.
Hoặc khi giáo viên thiết kế hoạt động hướng dẫn trẻ khám phá khoa học lớp MG 5 – 6
tuổi. Trong bài “ Một số con vật sống dưới nước” ngoài việc chỉ đạo giáo viên cung cấp
cho trẻ nhận biết tên gọi, đặc điểm, ích lợi của một số con vật sống dưới nước tôi còn yêu cầu
giáo viên phải chú ý đến hệ thống câu hỏi mở để đàm thoại với trẻ như: Điều gì xảy ra khi vớt
cá lên khỏi nước? Vì sao? Để kích thích trẻ đưa ra các cách giải quyết vấn đề. Nước có tầm
quan trọng như thế nào với động vật? Nếu không có nước thì những động vật này sẽ ra sao?
Muốn bảo tồn được những động vật này chúng ta phải làm gì?.... Nhờ đó, trẻ hiểu biết hơn
Giáo viên phải thường xuyên trò chuyện và cho trẻ kể về những đồ dùng trong gia đình, ở
trường, lớp liên quan đến năng lượng như quạt điện, đầu đĩa, ti vi, tủ lạnh, máy giặt, nước,
ánh nắng mặt trời, gió, than, củi, rơm, rạ... Từ đó, giáo viên lồng ghép dạy trẻ cách sử dụng
một số thao tác đối với quạt, công tác điện; vặn vòi nước, biết tắt điện; khóa van nước khi
không sử dụng. Hướng dẫn trẻ những công tắc, những nơi trẻ có thể tắt được. Và dặn trẻ nếu
không làm được các con hãy nhờ sự giúp đỡ của người lớn. Sử dụng hệ thống câu hỏi, hỏi trẻ
hôm nay trời nắng hay mưa? Nếu trời nắng thì chúng ta cần phải làm gì?( Phơi quần áo, tắm
nắng vào buổi sáng, sử dụng nóng lạnh bằng năng lượng mặt trời...)
Ngoài ra, giáo viên cũng cần cho trẻ xem tư liệu, các video, các hình ảnh mang tính thời
sự như: “Giờ trái đất tắt điện” hay “ngày đi bộ”. Qua đó giáo dục cho trẻ biết việc tiết kiệm
là thông điệp chung của cả trái đất. Vì thế các con tuổi nhỏ hãy biết làm những việc nhỏ để
cùng tiết kiệm điện.
11
* Đối với hoạt động ngoài trời.
Sau mỗi hoạt động học căng thẳng trẻ lại được cùng cô giáo khám phá môi trường xung
quanh, bằng hoạt động dạo chơi ngoài trời. Vì thế, trước khi ra ngoài, giáo viên thường xuyên
nhắc nhở trẻ: các con phải làm gì khi chúng ta ra khỏi phòng? ( Trẻ trả lời tắt công tắc điện và
quạt để tiết kiệm điện). Hoặc giáo viên tạo cơ hội, khích lệ để trẻ xung phong thực hành.
Song song với việc giáo dục trẻ có ý thức tiết kiệm điện, giáo viên còn dạy trẻ khi bật, tắt,
ổ điện các con phải cẩn thận, quan sát thật kỹ. Tuyệt đối không tự ý cắm và rút phích điện khi
chưa được sự cho phép và giúp đỡ của người lớn, không sờ, cầm dây điện bị hở, bị đứt, bị
chuột cắn. Bật, mở công tắc điện khi đi chân đất, tay, chân ướt và có nước dưới chân. Nếu khi
các con sử dụng điện mà không an toàn sẽ gây tai nạn, bị điện giật rất nguy hiểm đến tính
mạng. Để thu hút sự chú ý của trẻ giáo viên sưu tầm các hình ảnh minh họa và trình chiếu
cho trẻ quan sát, thảo luận. Thông qua các hình ảnh sử dụng điện không an toàn sẽ giúp trẻ
khắc sâu ghi nhớ và không tự ý sử dụng điện.
Hình ảnh không an toàn khi bé sử dụng điện
mặt; rửa tay phải biết tiết kiệm nước; biết sắp xếp đồ dùng; đồ chơi gọn gàng, ngăn nắp để
lớp được thoáng mát. Ngoài ra, giáo viên cho trẻ xem phim, hình ảnh về các hành vi TKNL.
Con sẽ làm gì để giúp cô và mẹ tiết kiệm điện hơn.
* Với hoạt động nêu gương: Đây là hoạt động vô cùng ý nghĩa nên giáo viên phải thường
xuyên chủ động đưa nội dung SDNLTK,HQ vào tiêu chuẩn bình cờ trong ngày và tiêu
chuẩn nhận phiếu bé ngoan trong tuần. Hoặc có thể phối kết hợp cùng phụ huynh mang
những hình ảnh chụp trẻ thực hành các thao tác đúng về tiết kiệm điện, nước ở nhà để cô
khen trước lớp. Qua hoạt động này, trẻ tự nhận xét mình, nhận xét bạn đã sử dụng TKNL
chưa, học tập gương của những bạn làm tốt được cô giáo khen. Dần dần, giúp trẻ có ý thức tự
rèn luyện để có kỹ năng
SDNLTK,HQ.
3.5.2. Giáo dục trẻ qua các chủ đề và ở mọi lúc, mọi nơi
Đây là hoạt động được giáo viên tiến hành rất nhẹ nhàng, qua việc khám phá tìm hiểu và
trải nghiệm ở mọi lúc mọi nơi và qua các chủ đề để giáo dục trẻ biết tiết kiệm điện, nước và
SDNLTK,HQ. Ví dụ: Khi khám phá chủ đề “Trường mầm non”, nhánh “Lớp học của
bé” giáo viên cần giáo dục trẻ hãy mở cửa chính, cửa sổ lớp để thông thoáng lớp học, hứng
gió và ánh sáng thay vì bật quạt và mở điện. Trong chủ đề “Bản thân” khi trẻ được khám
phá những “Đồ dùng của bé” như: quần, áo, mũ…cần giáo dục trẻ nên biết tận dụng ánh
13
nắng tự nhiên để phơi quần áo thay cho việc dùng bàn là hay máy giặt vắt. Như thế sẽ tiết
kiệm điện, mang lại hiệu quả kinh tế cho gia đình, lại làm cho quần áo thêm thơm tho. Ở gia
đình các con bố mẹ có phơi quần áo dưới ánh nắng mặt trời không? Cho trẻ xem hình ảnh
phơi quần áo dưới ánh nắng mặt trời.
Hoặc khi trò chuyện về “Nhu cầu của gia đình” nên hỏi trẻ: các con có biết gia đình có
những nhu cầu gì? (trẻ nói: gia đình cần được nghỉ ngơi, ăn uống, giải trí); năng lượng điện
có lợi ích như thế nào?. Để giải trí và nghỉ ngơi thì cần những đồ dùng nào? (trẻ kể: quạt điện,
tivi, bàn ghế, giường chiếu…). Sau đó giáo viên củng cố lại kiến thức: đó là những đồ dùng
cho lúa và cói nhanh khô.
Hình ảnh bác nông dân phơi lúa, phơi cói bằng năng lượng tự nhiên ánh nắng mặt trời
3.6. Chỉ đạo giáo viên xây dựng môi trường hoạt động và coi trọng công tác cho trẻ
thực hành trải nghiệm:
Để giúp trẻ có những kiến thức, kỹ năng thực hành “SDNLTK, HQ”. Điều quan trọng
giáo viên luôn làm mẫu cho trẻ noi theo, luôn hướng dẫn và nhắc nhở trẻ kiên trì thực hiện
việc làm có ý nghĩa tiết kiệm điện, nước. Trên cơ sở giáo dục trẻ biết SDTK điện, nước lúc ở
nhà và khi đến trường. Biết đánh giá các hành vi tốt, xấu của con người trong việc sử dụng
điện, nước và có phản ứng với những hành vi sử dụng lãng phí điện, nước. Tôi đã chỉ đạo lớp
MG 5 – 6 tuổi do cô Phạm Thị Luận phụ trách bằng việc đưa ra các tình huống mở để trẻ
thực hành. Sau đó mời ban đại diện HCMHS và giáo viên trong trường cùng dự để đánh giá
rút kinh nghiệm. Tôi thống nhất với giáo viên đưa ra các tình huống và tạo môi trường cho trẻ
được hoạt động thực hành, trải nghiệm và khám phá. Đây là việc làm cần thiết mà hơn ai hết
cô giáo phải là tấm gương trong việc SDNLTK, HQ. Để tiết kiệm điện cô tận dụng ánh sáng
tự nhiên dạy trẻ một số hoạt động học, hoạt động vui chơi bằng cách: Vào mùa hè kéo hết
rèm cửa, mở cửa sổ, cửa chính để tận dụng ánh sáng tự nhiên, không cần bật điện.
Hay giáo viên tạo tình huống sau hoạt động học, chuyển sang hoạt động ngoài trời nên
cho trẻ chơi trò chơi có hành vi đúng, sai về TKNL để trẻ có thể thực hành, trải nghiệm phân
biệt được các hành vi đúng, sai, bằng cách: Cho cả lớp ra ngoài khi chưa tắt điện, tắt quạt.
Sau đó, kiểm tra xem trẻ có phản ứng gì trong việc tiết kiệm điện và hỏi trẻ: “Các con quan
sát xem điều gì sẽ sảy ra khi chúng ta ra khỏi lớp” Lúc đó có cháu sẽ chạy nhanh vào lớp để
tắt bóng điện, tắt quạt, có cháu nói luôn “ Thưa cô lớp chưa tắt quạt, tắt điện”... Nếu không tắt
thì sẽ như thế nào? (Tốn điện, chưa TKNL). Như vậy, trẻ đã phát hiện và có những hành
động trên, có nghĩa trẻ đã biết TKNL. Mặt khác, để giúp trẻ biết được năng lượng mặt
trời có tác dụng như thế nào, tôi cũng yêu cầu giáo viên hướng dẫn trẻ làm thí
nghiệm sau: Lấy 2 chậu nước, một chậu nước phơi ngoài nắng khoảng 30 phút
đến 1 tiếng, một chậu để trong nhà. Sau đó mời lần lượt trẻ sờ tay vào 2 chậu
nước để kiểm tra và hỏi trẻ: “Các con có nhận xét gì về 2 chậu nước? Tại sao
chậu nước đó nóng hơn?”
3.7. Tăng cường công tác tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc cha mẹ và cộng đồng
để không ngừng nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề:
Xác định được chuyên đề giáo dục “sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả” cho trẻ
mầm non là một chuyên đề trọng tâm trong năm học 2015 - 2016, không tốn kém về đầu tư
kinh phí mà ở đây chủ yếu là ý thức tự giác, suy nghĩ đúng của mỗi người góp phần làm nên
thành công của chuyên đề. Ngay từ đầu năm học tôi tổ chức họp phụ huynh toàn trường,
tuyên truyền nội dung, những kiến thức, kĩ năng SDNLTK,HQ như: Dạy trẻ biết tên gọi và
cách sử dụng một số đồ dùng: Tắt, mở quạt, ti vi, điều hòa, đèn điện, vòi nước...sao cho an
toàn và tiết kiệm. Ngoài ra, tôi còn chỉ đạo giáo viên thường xuyên gặp gỡ, trao đổi với phụ
huynh dạy trẻ về nề nếp, thói quen sử dụng tiết kiệm điện, nước... hay tuyên truyền nâng cao
kiến thức cho các bậc phụ huynh về các cách sử dụng tiết kiệm điện, nước và các nguồn năng
lượng khác. Tôi đã trực tiếp định hướng cho giáo viên trang trí nhóm/ lớp, xây dựng góc
tuyên truyền với phụ huynh làm nổi bật chuyên đề về nội dung, biện pháp và một số hình
ảnh cụ thể như: Trẻ khóa vòi nước, tắt quạt, tắt điện khi không dùng, ngủ bằng gió tự nhiên,
phơi quần áo bằng ánh nắng mặt trời… thông qua các sản phẩm của trẻ để phụ huynh biết,
hiểu và phối hợp thực hiện. Đặc biệt tôi còn thiết kế những bài tập nhận biết về hành vi đúng,
sai khi sử dụng năng lượng và yêu cầu giáo viên phô tô các bài tập, các bài thơ, truyện, bài hát
về giáo dục “SDNLTK,HQ” để phụ huynh cùng giáo dục các cháu khi ở nhà. Các nội dung
tuyên truyền với phụ huynh cụ thể như sau:
*. Cùng hướng dẫn trẻ làm bài tập thực hành.
Để phối hợp tốt hơn nữa trong việc giáo dục trẻ biết SDTKNL tôi chỉ đạo giáo viên in
tranh mầu có các hình ảnh chưa tiết kiệm điện, nước để tuyên truyền. Vào sáng thứ 2 và
chiều thứ 6, phô tô các bài tập tạo hình tô mầu những những hành vi đúng (hình ảnh trẻ biết
tắt quạt, tắt đèn khi không sử dụng hoặc tô màu bé rửa tay dưới vòi nước vừa phải); gạch
chéo những hành vi sai, việc làm không đúng như: bật điện sáng, quạt quay khi không
dùng, không tắt ti vi khi ngủ, nước chảy tràn khi không có người... Thấy rõ việc làm thiết
thực đó phụ huynh đã nhiệt tình phối hợp dạy trẻ hiểu thế nào là hành vi đúng, hành sai khi
SDNLTK,HQ. Tạo được niềm tin đối với phụ huynh ở từng nhóm /lớp.
*. Điều chỉnh thói quen sử dụng đồ điện ở gia đình để làm gương cho trẻ học tập.
Sau một năm nghiên cứu và cải tiến, nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề kết quả
đạt được trên cô, trên trẻ rất cao. 100% cán bộ quản lý, giáo viên nắm vững kiến thức, tổ
chức linh hoạt các phương pháp.Trẻ tự tin hơn, hoạt động tích cực, có ý thức nền nếp thói
quen trong SDNLTKHQ đạt trên 93%. Các bậc phụ huynh rất phấn khởi và hài lòng với
cách giáo dục của nhà trường. Kết quả khảo sát lần 2 như sau:
* Bảng 1: Kết quả chất lượng trên trẻ:
Kết quả trên trẻ
T
Số
Nội dung khảo sát
Đạt
CĐ
T
trẻ
T % K % TB % Y %
1 Trẻ có hiểu biết về năng lượng.
271 92 34 109 40 56 21 15 5
Trẻ có ý thức, thói quen sử dụng năng 271
2
90 33 105 39 56 21 20 7
lượng điện, nước tiết kiệm hiệu quả.
Tích cực tham gia các hoạt động, gần
3 gũi về sử dụng tiết kiệm năng lượng 271 90 33 105 39 56 21 20 7
điện, nước ở trường/ lớp.
Biết chia sẻ và hợp tác với bạn bè và
4 những người xung quanh để sử dụng 271 90 33 105 39 56 21 20 7
tiết kiệm năng lượng điện, nước
18
24 22
8
%
K % TB % Y %
39
34
7
8
39
44
4
4
22 0
22 0
0
0
34
8
Tóm lại đề tài này đã trang bị cho các cháu những hành trang kiến thức phục vụ cho cuộc
sống hiện tại và là hành trang trẻ mang theo suốt cuộc đời. Trong suốt quá trình nghiên cứu,
tìm hiểu và tiến hành thực hiện đề tài này bản thân tôi đã rút ra được bài học kinh nghiệm
trong quá trình chỉ đạo đó là:
* Coi trọng sinh hoạt chuyên môn, hội thảo chuyên đề, bởi đây là nền tảng vững chắc
cho việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Trong sinh hoạt tổ chuyên môn chú trọng
sinh hoạt theo chuyên đề với nhiều hình thức như: bồi dưỡng về lý thuyết, thực hành... và
được thực hiện một cách thường xuyên.
* Bồi dưỡng nâng cao chất lượng thực hiện chuyên đề cho giáo viên phải chú ý tới việc
kiểm tra, đánh giá, khen thưởng kịp thời, tạo tâm lý khích lệ hoạt động chuyên đề tốt. Cán bộ
quản lý không ngừng học tập nâng cao năng lực quản lý về chuyên môn, năng động, sáng
tạo, có khả năng điều hành, kiểm tra và đánh giá chính các hoạt động chuyên môn. Chú ý tới
công tác bồi dưỡng và xây dựng lớp điểm chỉ đạo chuyên đề.
* Tăng cường chỉ đạo giáo viên thường xuyên giáo dục trẻ thông qua các hoạt động học
có chủ định, các thời điểm trong ngày và ở mọi lúc, mọi nơi, qua các chủ đề. Đặc biệt là tích
cực tạo môi trường cho trẻ được khám phá, thực hành trải nghiệm, sự phối hợp chặt chẽ với
phụ huynh trong việc giáo dục trẻ SDNLTK,HQ. Nhờ đó, đã giáo dục trẻ có ý thức, thói
quen TKNL một cách thường xuyên.
19
* Cô giáo luôn là người mẫu mực, chịu khó, kiên trì, tìm tòi học hỏi, luôn có biện pháp
sáng tạo mới trong giảng dạy và chăm sóc giáo dục trẻ.Tìm tòi, học hỏi ứng dụng thêm các
thí nghiệm đơn giản để giúp trẻ hiểu biết thêm về năng lượng và các loại năng lượng thay thế.
* Luôn coi trẻ là trung tâm của giáo dục và coi trọng khả năng thực hành trải nghiệm
của trẻ. Chú ý sử dụng phương pháp giải quyết các tình huống có vấn đề, phương pháp trò
chuyện, dùng lời, phương pháp trực quan hình ảnh minh họa, phương pháp dùng tình cảm
khích lệ.
* Làm tốt công tác tuyên truyền, phối kết hợp với các bậc cha mẹ và cộng đồng để thực
hiện tốt nội dung chuyên đề
Hoả Thị Thuý
Yên Thị Tương
20
21
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ giáo dục và đào tạo, chương trình giáo dục mầm non (Thông tư
17/2009/ TT – BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và
Đào tạo) - NXB Giáo dục Việt Nam;
2. Hướng dẫn sử dụng mô hình giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, an toàn, hiệu
quả - NXB Giáo dục Việt Nam;
3. Bộ giáo dục và đào tạo - Vụ giáo dục mầm non. Giáo dục trẻ Mẫu giáo sử
dụng năng lượng tiết kiệm hiệu quả - NXB Giáo dục Việt Nam;
4. Giáo dục trẻ sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong gia đình ( tài liệu dành
cho cha mẹ) - NXB Giáo dục Việt Nam;
5. Bộ giáo dục và đào tạo - Vụ giáo dục mầm non. Tổ chức thực hiện nội
dung giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả trong trường mầm
non, nhân viên - NXB Giáo dục Việt Nam;
6. Tài liệu chuyên đề tập huấn chuyên đề giáo dục sử dụng năng lượng tiết
kiệm hiệu quả trong trường mầm non.
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo tài liệu tập huấn cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non cốt
cán của 63 tỉnh, thành phố. Để triển khai đại trà nội dung giáo dục dụng năng
lượng tiết kiệm, hiệu quả trong các trường mầm non giai đoạn 2010 – 2015;
8. Tranh ảnh, lô lô hướng dẫn trẻ mẫu giáo sử dụng năng lượng tiết kiệm, an
toàn, hiệu quả - NXB Giáo dục Việt Nam;
Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả
Sử dụng tiết kiệm năng lượng
Sử dụng tiết kiệm
“sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả”
Mẫu giáo
Hội cha mẹ học sinh
Cán bộ quản lý
Cán bộ giáo viên - nhân viên
VIẾT TẮT
NL
SDNL
TKNL
SDNLTK,HQ
SDTKNL
SDTK
“SDNLTK,HQ”
MG
HCMHS
CBQL
CBGV- NV