PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỈM SƠN
TRƯỜNG MẦM NON HÀ LAN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NUÔI DƯỠNG CHO TRẺ
TRƯỜNG MẦM NON HÀ LAN
Người thực hiện : Nguyễn Thị Hoa
Chức vụ : Phụ trách trường
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Hà Lan
SKKN thuộc lĩnh vực: Quản lý
BỈM SƠN NĂM 2017
MỤC LỤC
1
STT
NỘI DUNG
TRANG
1
1. MỞ ĐẦU
3
7
2.1.Cơ sở lý luận:
3
8
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
4
9
a. Thuận lợi
4
10
b. Khó khăn
4
11
c. Kết quả thực trạng
2.3.5- Công tác phối kết hợp với trạm y tế
18
2.3.6- Công tác phối hợp với các bậc phụ huynh
9
19
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
10
20
3.KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
12
21
*Kết luận
12
22
* Kiến nghị
lượng, phát triển thể lực cho trẻ. Một đứa trẻ phát triển tốt về mọi mặt thì đồng
nghĩa với việc đầu tiên là trẻ được nuôi dưỡng tốt, trẻ được cung cấp đầy đủ các
chất dinh dưỡng đảm bảo theo định lượng kcal, khẩu phần ăn phù hợp với từng
lứa tuổi, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường nuôi dưỡng an toàn,
thân thiện hợp vệ sinh.
Bản thân tôi là một cán bộ quản lý mới về nhận nhiệm vụ tại trường mầm
non Hà Lan. Chính vì thế mà tôi luôn tìm hiểu, bám sát vào thực tế của nhà
trường, của địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng trẻ mầm non.
Sự phát triển toàn diện của trẻ và đặc biệt là phát triển thể chất giúp trẻ lớn lên
khỏe mạnh sẽ là tiền đề cho sự phát triển tương lai sau này, đặt nền móng vững
chắc cho sự phát triển của xã hội. Xuất phát từ những yêu cầu trên, tôi chọn đề
tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ” để
nghiên cứu trong năm học 2016 – 2017.
1.2. Mục đích nghiên cứu
- Nhằm nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trong nhà trường
- Phát triển thể lực tốt cho trẻ ở các độ tuổi giúp trẻ phát triển toàn diện.
- Nhằm nâng cao nghiệp vụ sư phạm về công tác nuôi dưỡng cho giáo
viên và tìm ra những biện pháp hiệu quả và tối ưu nhất để chăm sóc các cháu.
- Thông qua nghiên cứu, học hỏi của bản thân để tích lũy được nhiều kinh
nghiệm, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý và dần đưa chất lượng
nuôi dưỡng nói riêng, các hoạt động chăm sóc giaó dục trong nhà trường nói
chung ngày càng mang tính sát thực và đạt hiểu quả cao hơn.
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Trẻ nhà trẻ và mẫu giáo học tại Trường mầm non Hà Lan
1.4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.
- Phương pháp Quan sát
lệ suy dinh dưỡng cho trẻ trong nhà trường. Dựa vào tình hình thực tế của các
bậc phụ huynh trong nhà trường, điều kiện gia đình bố, mẹ các cháu chủ yếu là
làm nông nghiệp, một số gia đình làm công nhân ở các khu công nghiệp cho nên
thời gian chăm chút cho các cháu là không có, thường để mặc cho ông bà chăm
sóc và đưa đón trẻ đến trường. Vì thế mà đã có phần ảnh hưởng đến sự phát triển
về thể lực của các cháu. Mặt khác là điều kiện kinh tế của từng gia đình, nên nhà
trường xây dựng khẩu phần ăn theo thực đơn hàng ngày với mức giá cả thấp hơn
so với mặt bằng chung của các trường mầm non trong thị xã. Mức ăn của các
cháu nhà trẻ là 12.000đ/trẻ và các cháu mẫu giáo là 13.000đ/trẻ , gồm một bữa
chính và một bữa phụ. Với mức ăn này để mà cân đối đảm bảo chất dinh dưỡng,
4
đủ lượng đủ chất cho các cháu là có khó khăn. Đây cũng là những thách thức và
khó khăn bước đầu đối với bản thân tôi khi nhận nhiệm vụ Phụ trách nhà trường.
Nhưng không vì thế mà có thể làm cản trở và ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng
các cháu. Tôi đã dần dần từng bước, xác định rõ từng nhiệm vụ trọng tâm và cấp
bách cần phải làm ngay. Quyết tâm cùng vơi tập thể cán bộ, giáo viên, nhân
viên, xây dựng được một môi trường nuôi dưỡng tốt trong nhà trường, tạo được
lòng tin vớí Chính quyền địa phương, tạo được uy tín và sự tin tưởng tuyệt đối
để thu hút sự quan tâm ủng hộ của các bậc phụ huynh.
2.2. Thực trạng của vấn đề
Năm học 2016 - 2017, được sự chỉ đạo của UBND và của Phòng giáo
dục Thị xã Bỉm sơn, Phân công nhiệm vụ cho tôi Phụ trách trường mầm non Hà
Lan, từ ngày 1/11/2016. Đây là niềm vinh dự và cũng là trọng trách rất lớn đối
với bản thân tôi, năm đầu tiên đến một đơn vị mới với một chức vụ mới.Vì thế
bước đầu có những bỡ ngỡ, băn khoăn, trăn trở của công tác quản lý mới. Trong
quá trình công tác tôi đã gặp được rất nhiều thuận lợi và cũng gặp phải một số
khó khăn.
a. Thuận lợi
- Năm học 2016 – 2017 trường mầm non Hà Lan có 9 nhóm, lớp. trong đó
có 3 nhóm trẻ và 6 lớp mẫu giáo với tổng số trẻ 230 cháu (Trong đó nhà trẻ 50
cháu và mẫu giáo là 180 cháu)
- Tổng số CBGV: 21 đồng chí. Trong đó (CBQL là 2đ/c. Nhà trẻ là 3đ/c.
Mẫu giáo là 11 đ/c. Tổ cấp dưỡng có 4đ/c và 1 kế toán)
- Trình độ chuyên môn: Đại học 10 đ/c. Cao đẳng 1đ/c. Trung cấp 3đ/c.
Qua khảo sát đầu năm cho thấy kết quả phát triển thể lực của các cháu
được thể hiện cụ thể ở bảng đánh giá sau:
Theo dõi sức khỏe trẻ
Cân nặng
Chiều cao
Tổng số
trẻ được
Kênh BT
Kênh SDD
Kênh BT
Kênh SDD
cân đo
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Số trẻ
Số trẻ
Số trẻ
Số trẻ Tỷ lệ%
%
%
%
230
cho mọi hoạt động của trẻ. Với sự quan tâm đó tập thể cán bộ, giáo viên, nhân
viên trong nhà trường rất phấn khởi là động lực cho các cô giáo làm việc với
tinh thần trách nhiệm cao hơn nữa để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Ngoài việc tham mưu để hỗ trợ kinh phí, tôi còn tham mưu với Phòng
giáo dục và đã quan tâm, tạo điều kiện hỗ trợ về công tác chuyên môn cũng như
công tác nuôi dưỡng, giải quyết được những khó khăn của nhà trường như cung
cấp thêm tài liệu và bồi dưỡng, bổ sung thêm kiến thức về công tác nuôi dưỡng
cho đội ngũ giáo viên, nhân viên, giúp cho chúng tôi vững tin làm tốt công tác
nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục cho trẻ.
- Với chính quyền địa phương xã Hà Lan: Việc đảm bảo cơ sở vật chất là
nhiệm vụ của chính quyền. Tuy nhiên dù đã quan tâm nhưng do địa phương khó
khăn, không thể đáp ứng hết yêu cầu. Tôi đã có kế hoạch tham mưu từng bước
để dần tháo gỡ khó khăn. Bước đầu UBND xã đã tạo điều kiện bổ sung thêm đồ
6
dùng phục vụ cho công tác bán trú như giường ngủ, quạt, cải tạo lại hệ thống
đường nước…Giúp cho nhà trường chúng tôi đảm bảo điều kiện trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ. Sự quan tâm và động viên của chính quyền địa phương là
động lực cho chúng tôi phấn đấu hơn trong công tác.
- Bên cạnh đó tôi còn mạnh dạn liên hệ với Doanh nghiệp đã hỗ trợ thêm
nhiên liệu nấu như củi, giảm bớt được chi phí khâu chất đốt trong quá trình chế
biến thức ăn ( Như nấu cháo, đồ xôi, nấu nước..). Tận dụng được nguồn chất đốt
cho nên kinh phí dư ra và tôi đã chỉ đạo bổ sung thêm lượng thức ăn vào các bữa
ăn hàng ngày cho các cháu.
Như vậy bằng các giải pháp tôi đã sửa dụng để giải quyết vấn đề năng cao
chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ tại trường mầm non Hà Lan. Sau một thời gian
chỉ đạo kết quả đã đem lại rất khả quan. Sức khỏe các cháu được nâng lên rõ rệt
đội ngũ giáo viên phấn khởi, phụ huynh hài lòng và bản thân tôi cũng lấy đó làm
động lực để nâng cao chất lượng các hoạt động tiếp theo trong nhà trường.
7
(Khu nhà bếp một chiều của nhà trường)
2.3.3. Chỉ đạo Xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn:
Khi tôi mới tiếp nhận công tác tại trường, việc tôi quan tâm là chế độ ăn
của các cháu, sau một tuần tôi làm quen và kiểm tra thì thực trạng chung cho
thấy là các cháu không hào hứng trong bữa ăn, trẻ ăn chậm, ngồi uể oải, thời
gian ăn lâu, các cô phải thường xuyên nhắc nhở, thậm chí có nhiều chaú 5 tuổi
mà vẫn phải cô đút cho ăn. Tôi nhận thấy chất lượng bữa ăn chưa cao, các cháu
ăn không ngon miệng, chán ăn. Từ đó tôi tiến hành kiểm tra thực đơn trong
8
ngày, trong tuần. Một vấn đề cho thấy đó là thực phẩm và món ăn được lập lại
nhiều lần trong tuần ( Ví dụ như: Thịt lợn được sử dụng nhiều, món canh ngao
nấu nhiều bữa trong tuần, thực phẩm và cách chế biến chưa phong phú, đa dạng.
Bữa phụ chiều cũng chưa được cải thiện nhiều)
Từ thực trạng trên tôi đã chỉ đạo ngay việc thay đổi xây dựng thực đơn
trong ngày, trong tuần để có được khẩu phần ăn cân đối, các món ăn đa dạng,
hấp dẫn, chế biến phối hợp với nhiều loại thực phong phú, phù hợp với trẻ và
đảm bảo năng lượng theo lứa tuổi, đảm bảo đầy đủ 4 nhóm thực phẩm. Nhằm
cung cấp nhu cầu các chất dinh dưỡng cần thiết, giúp cơ thể trẻ khỏe mạnh ,
phòng tránh được bệnh tật.
Chỉ đạo xây dựng thực đơn và khẩu phần ăn, tôi dựa vào các yếu tố sau:
-Thực phẩm lựa chọn phải đảm bảo chất lượng và phù hợp với trẻ
- Đảm bảo cung cấp đầy đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng theo nhu
cầu cơ thể
- Các chất dinh dưỡng phải theo tỷ lệ cân đối và thích hợp (cân đối giữa các
bí
xanh
nấu
xương
Miến thịt
Quả
Cơm tẻ
Tôm
biển
rim thịt
Canh
tôm
rau
Xôi đậu(gấc)
Sữa
đậu
nành
Cơm tẻ
Thịt bò sốt cà
chua
Canh bí đỏ
nấu xương
Cháo lươn
Quả
Cơm tẻ
Trứng đúc
thịt
ăn, cách chăm sóc cho cháu ăn để có những chỉ đạo kịp thời.
- Chỉ đạo cho đội ngũ giáo viên luôn trau dồi, bồi dưỡng nghiệp vụ, nắm
vững kiến thức, hình thức tổ chức cho trẻ ăn, ngủ đúng giờ giấc, khoa học, phù
hợp với đặc điểm của từng lứa tuổi. Ân cần âu yếm trẻ, biết được đặc tính của
từng trẻ để có cách chăm sóc trẻ chu đáo. Động viên trẻ ăn hết xuất, thực hiện
đúng lịch sinh hoạt của trẻ một ngày ở trường mầm non. Nếu phát hiện thấy trẻ
có biểu hiện chán ăn, mệt mỏi giáo viên cần phải tìm hiểu nguyên nhân ngay và
có những hình thức chăm sóc cho cháu riêng. Song song việc quan tâm cho trẻ
ăn, ngủ thì việc vệ sinh cho trẻ cũng cần phải hết sức trú trọng. Một đứa trẻ
khỏe mạnh không chỉ được ăn, uống đầy đủ, ngủ đủ giấc mà phải được vệ sinh
tốt. Tôi thường xuyên sát sao chỉ đạo, nhắc nhở, góp ý cho đội ngũ giáo viên
làm tốt công tác này.
- Vệ sinh khu vực bếp ăn hàng ngày. Vệ sinh dụng cụ chế biến sau mỗi khi
thực hiện khâu chế biến thực phẩm, luôn luôn đảm bảo vệ sinh an toàn.
- Sử lý chất thải bỏ theo đúng quy cách, đúng nơi quy định.
2.3.5 Công tác phối kết hợp với trạm y tế
Hiện nay công tác y tế trong trường học theo quy định mới phải phối hợp
với trạm y tế. Đầu năm học Ban giám hiệu nhà trường đã lên kế họach phối hợp
thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trường mầm non.
- Phối hợp với trạm y tế để có kế hoạch khám sức khoẻ định kỳ một năm
2 lần cho 100% số trẻ trong nhà trường và 100% số cô đứng lớp và cô nuôi.
- Tổ chức cho trẻ uống thuốc giun theo định kỳ
- Tổ chức tập huấn vệ sinh ATTP cho cô nuôi và cán bộ giáo viên trong
nhà trường.
- Ngoài ra còn kết hợp để tập huấn, phát hiện các biểu hiện khi trẻ mắc
các dịch bệnh. Dùng biện pháp tiêu độc khử trùng vệ sinh môi trường khi có các
bệnh dịch sảy ra
Ví dụ như: Dịch bệnh Chân tay miệng, Đau mắt, nhà trường đã mời trạm y tế
đến hướng dẫn cho giáo viên cách dùng thuốc tiêu độc, khử trùng môi trường.
Phát hiện sớm các trẻ bị bệnh dịch để có biện pháp cách ly trẻ.
dưỡng các cháu. Từ đó phụ huynh ủng hộ, kết hợp với nhà trường, cô giáo cùng
nhau chung tay chăm lo cho các cháu ngày càng được tốt hơn. Đăc biệt là phụ
huynh có con em đang học tại trường còn tuyên truyền cho các gia đình có con
em đủ độ tuổi đến trường mà đang ở nhà đến trường để học . Cụ thể là chúng
tôi đã tiếp nhận thêm 18 cháu vào lớp học. Ngoài ra chúng tôi còn vận động
được phụ huynh cung cấp nguồn rau sạch, trứng sạch ủng hộ cho các cháu. Phụ
huynh còn ủng hộ 1 bếp ga công nghiệp phục vụ cho công tác bán trú.
- Hàng tuần, hàng tháng tôi mời các bậc phụ huynh đại diện của các nhóm
lớp đến trực tiếp giám sát thực phẩm, quy trình chế biến, công tác vệ sinh và
theo dõi giờ ăn của các cháu để có sự trao đổi và kết hợp chặt chẽ giữa phụ
huynh và nhà trường. Tạo được sự tin tưởng tuyệt đối của các bậc phụ huynh.
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
- Qua một quá trình nhiên cứu và mạnh dạn đưa ra những biện pháp đổi
mới, nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trong nhà trường. Tuy thời gian chưa phải
là dài nhưng kết quả đem lại là rất khả quan. Công tác nuôi dưỡng, từ nguồn
cung cấp thực phẩm, cách chế biến thay đổi các món ăn thường xuyên, đa dạng,
phong phú, khẩu vị hợp với trẻ đã đi vào hoạt động thường ngày một cách linh
hoạt, khoa học. Tạo được động lực phấn khởi chăm sóc trẻ của đội ngũ giáo
viên.
Hiệu quả của việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, được thể hiện qua
khảo sát chất lượng nuôi dưỡng như sau:
Theo dõi sức khỏe trẻ
Tổng số
11
230
* Đối với bản thân: Là một các bộ quản lý mới, chưa có nhiều kinh
nghiệm trong công tác. Nhưng sau khi thực hiện đề tài này tôi đã rút ra được rất
nhiều kinh nghiệm từ thực tế. Đó là phải nâng cao trách nhiệm, gương mẫu đứng
đầu trong mọi công việc, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước tập
thể, mạnh dạn đưa ra những ý tưởng của mình để tìm ra những cách thức đổi
mới trong công tác chỉ đạo nhà trường, nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc giaó
dục các cháu. Qua việc nâng cao chất lượng nuôi dưỡng trong nhà trường.
Khẳng định một lần nữa là trẻ em sinh ra và lớn lên rất cần sự quan tâm, chăm
sóc, nuôi dưỡng chu đáo của người lớn. Đây là giai đoạn đầu đời quan trọng
quyết định trực tiếp đến sự phát triển toàn diện, bền vững của trẻ sau này.
* Đối với giáo viên: Nhấn mạnh nhiệm vụ trọng tâm của mỗi cán bộ, giáo
viên, nhân viên trong nhà trường, thấy được tầm quan trọng của việc nâng cao
chất lượng nuôi dưỡng cho trẻ. Đây là những bài học trải nghiệm từ kết quả thực
tế để nhận thấy vai trò quan trọng của những cô giáo mầm non đối với sự phát
triển của trẻ.
* Đối với nhà trường: Khẳng định được tầm quan trọng của bậc học mầm
non trong việc chăm sóc giáo dục trẻ. Đem lại kết quả nuôi dưỡng đạt chất
lượng cao trong nhà trường. Nâng cao được uy tín với phụ huynh và địa phương,
là cơ sở, động lực tập hợp sức mạnh đoàn kết cùng nhau phấn đấu của tập thể
cán bộ giáo viên, nhân viên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để trường mầm non
Hà Lan ngày càng phát triển.
3. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ:
* Kết luận:
Để có một đề tài đạt hiệu quả cao, trước hết phải xuất phát từ thực tế của
nhà trường. Nắm bắt được nhà trường đang có những gì và cần những gì, vạch
ra những phương hướng nhiệm vụ để giải quyết vấn đề, biết chỉ đạo để khai
12
thác, phát huy những tiềm năng sẵn có, xác định những mặt hạn chế và khó khăn
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép của
người khác.
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Hoa
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG THI ĐUA CẤP TRÊN
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
STT
1
2
3
4
5
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Chương trình giáo dục mầm non – Nhà xuất Bản giáo dục
Tài liệu hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong
trường mầm non theo chủ đề .
Tạp chí Giáo dục mầm non và Tập san chuyên đề Giáo dục Mầm non .
Điều lệ trường Mầm non.
Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên CBQL và GVMN năm học 2016 –
2017.
A
dục Âm nhạc cho trẻ mẫu
2006- 2007
giáo 3 - 4 tuổi.
Sở GD&ĐT
C
3 Dạy trẻ mẫu giáo 3 – 4 tuổi
làm quen với Môi trường
PhòngGD&ĐT
C
2007 -2008
xung quanh.
4 Kinh nghiệm dạy trẻ 4 – 5
PhòngGD&ĐT
B
2008 -2009
tuổi môn Tạo hình.
5 Kinh nghiệm dạy môn giáo
dục Âm nhạc cho trẻ mẫu
PhòngGD&ĐT
C
2009 - 2010
giáo 5 - 6 tuổi
6 Kinh nghiệm dạy Khám phá
khoa học cho trẻ MG
PhòngGD&ĐT
B
2010 - 2011
5 -6 tuổi.
7 Kinh nghiệm dạy Tạo hình