skkn một số biện pháp chỉ đạo phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ trong trường mầm non bé ngoan bỉm sơn - Pdf 44

1.MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Trong công tác chăm sóc giáo dục toàn diện cho trẻ thì công tác chăm sóc
sức khỏe cho trẻ được xem là một trong những mục tiêu vô cùng quan trọng,
trong đó công tác phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ mầm non được quan
tâm hàng đầu. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý trẻ, với bản chất tò mò, hiếu kỳ
và luôn muốn khám phá những điều mới lạ, trẻ hay phải đối mặt với nhiều tình
huống nguy hiểm trong cuộc sống, mà không phải lúc nào cũng có người lớn ở
bên để giúp đỡ.
Ngày 15 tháng 4 năm 2010, Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành thông tư số:
13/2010/TT – BGD&ĐT. Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng,
chống, tai nạn thương tích trong các cơ sở giáo dục mầm non. Nội dung nêu rõ:
“Để đảm bảo an toàn cho trẻ, khi trẻ được chăm sóc, nuôi dạy tại cơ sở giáo dục
mầm non”. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả “ Chính sách quốc gia, phòng
tránh tai nạn thương tích”. Song nhìn vào thực tế số tai nạn thương tích ở trẻ em
đang gia tăng mà những tai nạn thương tích đau lòng của trẻ thường bắt nguồn
từ sự bất cẩn, kém hiểu biết của người lớn, sự quản lý hoạt động còn chưa thực
sự sát sao, là thứ “Họa bất kỳ” mà không ai mong muốn.
Nhằm góp phần hạn chế tai nạn thương tích, đảm bảo an toàn tính mạng
cho trẻ. Cần loại bỏ đồ dùng, đồ chơi gây nguy hiểm, những đồ dùng, đồ chơi
trong lớp cũng như ở sân trường phải đảm bảo thẩm mĩ và an toàn cho trẻ. Tạo
được môi trường thật sự an toàn, thân thiện, lành mạnh cho mọi hoạt động của
trẻ là điều thiết yếu, là điều kiện tốt để phát triển về thể chất và tinh thần cho trẻ,
góp phần triển một cách toàn diện. Là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
quyết định đến chất lượng, uy tín của nhà trường. Đồng thời trang bị cho giáo
viên, phụ huynh những kiến thức chính xác và cách phòng tránh tai nạn thương
tích để có những biện pháp phòng tránh có hiệu quả.
Bên cạnh đó trang bị những kỹ năng cho giáo viên, phụ huynh và trẻ, giáo
dục trẻ biết cách phòng tránh là một việc làm rất quan trọng nhưng không dễ
dàng vì hàng ngày trẻ tham gia nhiều hoạt động nhưng chỉ biết rằng mình học,
ăn hoặc chơi theo ý thích của bản thân, tò mò khám phá. Vì vậy một trong

về thể chất hay tâm hồn của nạn nhân. Tai nạn không chủ định thường có
nguyên nhân rõ ràng, khó có thể đoán trước được như ngã, bỏng, ngộ độc, chết
đuối…Tai nạn có chủ định như bạo lực, bạo hành…Thương tích thì không phải
là tai nạn mà là sự tổn thương của cơ thể ở mức độ khác nhau gây nên, bởi tiếp
xúc đột ngột với các nguồn năng lượng như cơ học, nhiệt, hóa chất, chất phóng
xạ…Ngoài ra tổn thương của cơ thể do có sự va đập mạnh hoặc cọ sát hay bị các
vật sắc nhọn đâm gây hậu quả.
Vì vậy phòng chống tai nạn thương tích là phòng chống tối thiểu những
nguy cơ, nguyên nhân dẫn tới tai nạn thương tích làm tổn thương đến thể xác và
tinh thần của con người. Do đó phòng chống tai nạn thương tích ở trường mầm
non là nhà trường, giáo viên, phụ huynh phối hợp với nhau trong công tác chăm
sóc trẻ, để bảo vệ bản thân trẻ, tạo môi trường an toàn cho trẻ được tham gia
hoạt động vui chơi, học tập. Phòng chống tai nạn thương tích có vai trò quan
trọng đến sự phát triển nhân cách trẻ. Còn là một trong những kỹ năng sống vô
cùng quan trọng và cần thiết với trẻ ở mọi lứa tuổi. Giúp trẻ nhận ra những mối
nguy hiểm trong tình huống cụ thể, đồng thời nhận thức được việc nên làm và
không nên làm phù hợp với hoàn cảnh để giúp bản thân mình an toàn. Có kỹ
năng phòng tránh tai nạn thương tích tốt, tự tin, sẵn sàng đối diện và vượt qua
các mối nguy hiểm trong cuộc sống. Để truyền tải cho trẻ những kỹ năng ngay
từ khi còn nhỏ đòi hỏi người giáo viên phải thực sự hiểu trẻ, phải có những
phương pháp dạy sao cho trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu. Có như vậy mới giúp trẻ khắc
sâu trong tâm trí, định hình cho mình những phản ứng phù hợp với mọi tình
huống xảy ra hàng ngày. Đồng thời cơ thể trẻ được khỏe mạnh, không bị tổn
thương về da thịt, trẻ được vận động nhanh nhẹn, bình thường. Không những
phát triển về thể chất mà còn giúp trẻ về mặt nhận thức. Nếu trẻ không bị tổn
thương về mặt thể xác hay về mặt tinh thần thì trẻ được tìm hiểu, khám phá về
thế giới xung quanh tốt hơn. Tích lũy được vốn kiến thức, kỹ năng để có thêm
kinh nghiệm, làm hành trang để trải nghiệm cuộc sống.
2


Chưa có các phòng đa chức năng.
- Có những cháu quá hiếu động nên trong quá trình tham gia các hoạt động và rèn
kỹ năng gây khó khăn.
- Các cháu chưa được tiếp xúc nhiều với thực tế nên kỹ năng phòng tránh tai nạn
thương tích còn kém.
- Nhận thức của mỗi độ tuổi khác nhau, trẻ đầu năm và cuối năm cũng có sự nhận
thức khác.
- Nhiều phụ huynh do tính chất công việc chưa thực sự chú trọng đến sự an toàn
của con khi ở nhà, để con chơi tự do và ít có thời gian trò chuyện với con về việc
tự bảo về mình và cách nhận biết những nguy hiểm xung quanh.
- Một số giáo viên nắm kiến thức về cách phòng, tránh tai nạn thương tích cho trẻ
còn hạn chế. Kỹ năng để dạy trẻ cách phòng tránh còn chưa sâu, chưa được chính
xác.
*Kết quả khảo sát thực trạng:
3


Đầu năm học để nắm bắt được những kỹ năng về phòng, tránh tai thương
tích của trẻ tôi đã tiến hành khảo sát thực tế từ các lớp để nghiên cứu và tìm ra
những biện pháp phù hợp với thực tế nhà trường.
Stt

Kỹ năng của trẻ

1

Đồ vật, địa điểm gây nguy
hiểm
Biết tránh xa các mối nguy
hiểm

60%

50 =
28%
60 =
29%
70 =
23%

Ghi chú

Nhìn vào kết quả khảo sát, việc phòng tránh tai nạn thương tích, việc dạy
kỹ năng cho trẻ biết cách phòng tránh tai nạn thương tích hiệu quả chưa cao. Do
đó tôi đã nghiên cứu các biện pháp sau:
2.3. Các biện pháp để giải quyết vấn đề:
* Biện pháp 1: Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ năng phòng, tránh
tai nạn thương tích cho trẻ.
* Biện pháp 2: Hướng dẫn giáo viên dạy cho trẻ kỹ năng sử dụng đồ dùng nguy
hiểm và thường xuyên loại bỏ đồ dùng, đồ chơi gây nguy hiểm.
*Biện pháp 3: Giáo viên xây dựng kế hoạch giám sát trẻ trong mọi hoạt động ở
trường và chương trình tổ chức tham quan dã ngoại.
* Biện pháp 4: Phối hợp với phụ huynh trong việc hình thành kỹ năng phòng
tránh tai nạn thương tích cho trẻ.
2.3.1 Biện pháp 1:Bồi dưỡng nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ năng phòng
tránh tai nạn thương tích cho trẻ.
Để bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho giáo viên và tập huấn các kỹ năng
trước hết phải tạo một môi trường an toàn trong và ngoài lớp. Nên tôi đã tham
mưu với Chủ đầu tư, đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phòng, tránh
tai nạn, thương tích ( băng, nẹp cứu thương…); củng cố và phát triển phòng Y tế
để đáp ứng được nhiệm vụ phòng, tránh tai nạn, thương tích; phát hiện và xử lý


.
5


BS: Trần Anh Tuấn- Bệnh viện Đa khoa Thị xã Bỉm Sơn Hướng dẫn thực
hành băng bó khi bị gãy xương hở.
Tất cả giáo viên đều được thực hành để nâng cao kiến thức, kỹ năng thì
phải bình tĩnh xử trí, sơ cứu ban đầu, tại chỗ nếu trẻ không may gặp phải như
sặc, bỏng, điện giật, đuối nước, gãy xương…đồng thời báo cho cha mẹ và y tế
nơi gần nhất để cấp cứu kịp thời cho trẻ
Kết quả: Từ những trao đổi, thảo luận, thi trắc nghiệm,qua buổi tập huấn
thực hành sơ cứu phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ thực sự rất hữu ích và
những tài liệu mà nhà trường cung cấp. Giáo viên đã tự nâng cao được kiến
thức, kỹ năng về phòng tránh tai nạn thương tích và biết cách xử lý kịp thời các
tai nạn không may xảy đến với trẻ.
2.3.2. Biện pháp 2: Hướng dẫn giáo viên dạy cho trẻ kỹ năng sử dụng đồ
dùng nguy hiểm và thường xuyên loại bỏ đồ dùng, đồ chơi gây nguy hiểm.
Những loại đồ dùng nguy hiểm như dao, kéo, hột hạt…Nếu chúng ta
không cho trẻ sử dụng thì trẻ không có kỹ năng, không có kỹ năng không được
trải nghiệm và không tạo ra được sản phẩm,
Nên ngay từ nhà trẻ từ 24-36 tháng trở đi chúng ta vẫn cho trẻ sử dụng
được như kéo, các hột hạt. Đặc biệt phải dạy kỹ năng, trẻ tuân thủ theo kỹ năng
và yêu cầu, đảm bảo an toàn mới cho trẻ sử dụng. Như cách sử dụng kéo giáo
viên dạy cho trẻ kỹ năng khi chưa sử dụng, kéo trong hộp để quay đầu cắt xuống
dưới và để trong hộp. Khi phát cho trẻ hoặc trẻ mẫu giáo phát đồ dùng cho bạn
dạy trẻ cách cầm hay đưa cho bạn tay phải nắm đầu kéo và khi có yêu cầu của
cô mới được sử dụng.

Cô giáo hướng dẫn trẻ cách sử dụng kéo, bút an toàn.

Với những đồ chơi hiện nay đa phần là đồ chơi xuất xứ từ Trung Quốc,
với nhiều chất liệu nhựa độc hại như chì, các chất gấy rối loạn nội tiết, gây ung
thư… một số là loại nhựa giòn dễ vỡ gây hiểm vì vậy khi chọn lựa đồ chơi cho
7


trẻ giáo viên cần lưu ý chọn cho trẻ đồ chơi có xuất xứ rõ ràng, các thông số về
kỹ thuật cũng như chất liệu tạo thành được nhà sản xuất ghi đầy đủ, rõ ràng trên
bao bì sản phẩm đảm bảo an toàn cho trẻ khi chơi.
Song song với việc loại bỏ đồ dùng, đồ chơi nguy hiểm thì giáo viên phải
luôn cẩn trọng với đồ dùng của cô như: dao, kéo, thước kẻ, súng bắn nến…khi
dùng song phải cất gọn đúng nơi quy định, cất cao khỏi tầm tay với của trẻ. Báo
ngay với BGH nếu trong lớp có đồ dùng, đồ chơi bị hỏng để thay đồ dùng đồ
chơi mới ngay đảm bảo an toàn và có đồ chơi cho trẻ kịp thời.
Kết quả: Việc thường xuyên loại bỏ đồ dùng, đồ chơi nguy hiểm hàng
ngày là việc dễ làm và đơn giản giúp phòng tránh tai nạn thương tích và dị vật
đường thở cho trẻ rất hiệu quả, Kỹ năng trẻ sử dụng đồ dùng dễ gây nguy hiểm
để tạo ra sản phẩm rất tự tin. Đồ dùng đồ chơi các lớp luôn đảm bảo được an
toàn cho trẻ.
2.3.3 Biện pháp 3: Giáo viên xây dựng kế hoạch giám sát trẻ trong mọi hoạt
động ở trường và chương trình tổ chức tham quan dã ngoại.
Giáo viên luôn luôn để mắt đến trẻ mọi lúc, mọi nơi vì ở tuổi mầm non trẻ
hiếu động và luôn muốn khám phá mọi đồ vật xung quanh bằng tất cả khả năng
của mình, bằng các giác quan: Mắt nhìn, tay sờ và…ngậm vào miệng để nếm
thử. Vì thế mà trẻ thường mắc phải các tai nạn về đường hô hấp do hít và nuốt
phải các dị vật. Muốn giám sát được sự an toàn của trẻ giáo viên lên kế hoạch
cho các hoạt động.
Giáo viên không nên để trẻ hoạt động một mình dù chỉ trong tích tắc. Trẻ
phải luôn được sự chăm sóc, trông coi của người có trách nhiệm. Cô giáo phải
thường xuyên theo dõi, bao quát trẻ trong mọi hoạt động.

Vì thế cô phải để trẻ ăn trong tâm trạng thật thoải mái, không cố ép trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo hầu hết tự xúc ăn nên dạy trẻ ngoài việc ăn uống lịch
sự. Thì đảm bảo tránh hóc, sặc rất quan trọng, khi ăn cần cho trẻ ăn ở tư thế
ngồi, nhắc trẻ ăn từ từ, nhai kỹ. Giáo dục trẻ và tuân thủ quy định khi ăn không
được vừa ăn, vừa nghịch, nói chuyện dễ bị sặc, nghẹn.
-Hoạt động ngoài trời: Trẻ rất ham chơi nên có thể gặp các tai nạn như:
Chấn thương phần mềm, rách da, gãy xương…nguyên nhân thường do trẻ đùa
nghịch, xô đẩy nhau, dùng que làm kiếm nghịch, đấu kiếm, chọc vào nhau và trẻ
có thể vô tình chọc vào mắt gây chấn thương. Ngoài ra, trẻ còn chơi đùa cầm
gạch, sỏi, đá ném nhau hoặc chạy nhảy va vào các bậc thềm gây chấn thương. Vì
vậy trước khi cho trẻ ra hoạt động ngoài trời giáo viên chú ý đếm trẻ, kiểm tra
khu vực sân trẻ quan sát có chủ đích. Giao hẹn sân chơi quy định, phải đảm bảo
đó là nơi thoáng mát… Không để trẻ chơi gần các bụi rậm, nơi có tổ ong, tổ kiến
để đề phòng rắn cắn, ong đốt, kiến cắn. Loại bỏ các vật sắc nhọn bằng kim loại,
mảnh thủy tinh, gốm, sắt, đá, sỏi…khỏi nơi vui chơi của trẻ, vì vậy cô phải luôn
bao quát ở bên trẻ để đảm bảo trẻ vui chơi mà vẫn an toàn.
Bên cạnh việc đảm bảo an toàn cho trẻ ở trường. Thì các chương trình
tham quan dã ngoại của trẻ rất quan trọng như Tham quan cánh đồng lúa, chợ
Bỉm Sơn, Lữ đoàn 368, công viên, sân bóng, trường tiểu học…Mỗi lần tổ chức
Ban giám hiệu nhà trường kết hợp với phụ huynh bàn bạc đưa ra cách đảm bảo
an toàn và xử lý tình huống khi gặp phải.
Ví dụ: Khi đưa trẻ tham quan cánh đồng lúa phải đảm bảo về phương tiện, khi
trẻ hoạt động đảm bảo trẻ không bị thương tích. Đối với trẻ nhà trẻ yêu cầu có
bố mẹ đi kèm.

9


Các cháu tham quan trải nghiệm cánh đồng lúa
( Thôn Nghĩa môn - Phường Lam Sơn)

nóng)
-Tuần 3: Phòng tránh tai nạn thương tích do đồ vật sắc nhọn (Dao, kéo)….
Ngoài ra hướng dẫn giáo viên trao đổi với phụ huyn như:
+Thông qua một số tình huống không an toàn với trẻ trong thực tế giáo
viên chủ động xây dựng và mời phụ huynh kín đáo quan sát biểu hiện của con
em mình. VD: Lớp 4-5 tuổi ( Cô Lê Thị Nhàn). Vờ bỏ quên ấm đun nước không
cắm điện. Trẻ đã xúm lại rồi rủ nhau vào nhà vệ sinh lấy nước để cắm điện…
Ngay lập tức giáo viên cùng phụ huynh quay trở lại lớp giải thích cho trẻ hiểu
rằng trẻ có thể bị điện giật nếu trẻ tự mình cắm nước uống, trẻ có thể bị ngã khi
vào nhà vệ sinh một mình…Qua một số hình thức tuyên truyền và một vài tình
huống thực tế tận mắt chứng kiến đã làm thay đổi suy nghĩ cơ bản từ phía phụ
huynh. Phụ huynh đã nhận thấy sự thiết thực và tầm quan trọng của việc dạy kỹ
năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ nên tích cực phối hợp với giáo viên
để giáo dục trẻ.
Trong năm học nhà trường tổ chức thi trắc nghiệm về “Một số cách Phòng
tránh và xử trí tai nạn thường gặp ở trẻ mầm non" . Phụ huynh tham gia rất nhiệt
tình và đầy đủ và tặng quà trong chương trình Tập huấn. Nội dung câu hỏi trắc
nghiệm (xem phần phụ lục)

11


Giáo viên và phụ huynh nhận quà trong phần thi trắc nghiệm phòng,
tránh tai nạn thường gặp ở trẻ.
Bản chất việc hình thành kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ
không chỉ dừng lại ở nhận thức, mà nó còn bao gồm cả việc bắt chước những
hành động đúng, nên làm trong thời điểm nào đó. Đồng tình với quan điểm này
của tôi nên dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, giáo viên và phụ huynh đều cố gắng
làm gương cho trẻ từ việc nhỏ nhất. VD: Dùng lót tay khi bắc xoong nồi trên
bếp nóng, đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy, rửa sạch và gọt hoa quả trước khi

biết tìm kiếm sự giúp đỡ của người lớn để giúp bản thân an toàn. Kết quả phân
loại kỹ năng trẻ đạt được như sau:
Stt

Kỹ năng của trẻ

1

Đồ vật, địa điểm gây
nguy hiểm
Biết tránh xa các mối
nguy hiểm
Bình tĩnh, biết tìm kiếm
sự giúp đỡ của người lớn

2
3

Tổng
số trẻ
300
300
300

Tốt
130
(40,3%)
110
(31%)
95

Sau một năm thực hiện đề tài “ Một số biện pháp giáo dục kỹ năng phòng
tránh tai nạn thương tích cho trẻ”, tôi thấy khả năng ứng phó trước các nguy cơ
không an toàn của trẻ nâng cao rõ rệt. Đã không còn tình trạng trẻ bị ngã do
chạy nhảy, va đập…Bên cạnh đó ý thức tránh xa các đồ vật, địa điểm không an
toàn của trẻ cũng được hình thành. Bản thân tôi cũng có thêm những kỹ năng
sống và làm việc vô cùng quý giá, điều này giúp tôi thực hiện tốt hơn việc chỉ
đạo giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích nói riêng và kỹ năng sống
cho trẻ nói chung.
Giáo viên đã nắm vững được nội dung, biện pháp và cách phòng tránh tai nạn
thương tích cho trẻ trong suốt thời gian thực hiện đề tài. Tôi đã rút ra nhiều bài
13


học bổ ích: Giáo viên phải yêu nghề, mến trẻ, có kiến thức, kỹ năng luôn tìm tòi
tạo ra môi trường thật tốt quanh trẻ;Trong lớp không có các đồ dùng đồ chơi gây
nguy hiểm. Từ những đồ dùng, đồ chơi đến bữa ăn, giấc ngủ luôn an toàn với
trẻ; Tạo được niềm tin nơi phụ huynh rằng họ đang có người đồng hành trên con
đường xây đắp hạnh phúc và tương lai phồn thịnh cho thế hệ măng non chủ
nhân của đất nước.
Từ những công văn của Phòng, Sở giáo dục và nội quy của nhà trường về
triển khai các biện pháp phòng tránh tai nạn thương tích trong trường học nhằm
mục đích giúp mọi người biết cách phòng tránh tai nạn thương tích cho trẻ, tránh
được những điều đáng tiếc xảy ra, đảm bảo an toàn về con người và tài sản.
*Kiến nghị:
-Đối với nhà trường:
Xây phòng thể chất để trẻ được rèn luyện thể chất trong môi trường rộng
rãi, an toàn hơn.
Đầu tư xây dựng những môi trường học tập thân thiết với trẻ, tạo cho trẻ
những không gian vui chơi an toàn ngay tại trường như đầu tư thêm đồ chơi một
số góc bằng chất liệu gỗ.


Điểm:...........

CÂU HỎI
PHÒNG CHỐNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH CHO TRẺ MẦM NON
Họ và tên giáo viên/ Phụ huynh……………………………………………… ....
Phụ Huynh Bé.......................................... .......... ...................Lớp:…………
Thời gian nộp bài:
Bạn đạt 1 điểm/ 1 câu Nếu trả lời đúng bằng cách khoanh tròn 1 đáp án duy
nhất:
Câu 1: Môi trường an toàn cho trẻ đó là:
a. An toàn về thể lực sức khỏe
b. An toàn về tâm lí
c. An toàn về tính mạng
d. Cả 3 phương án trên
Câu 2: An toàn về thể lực đó là:
a. Chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, vệ sinh phòng tránh bệnh tật tốt
b. Đảm bảo VSATTP
c. Tại các lớp cần có túi cứu thương, chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ, vệ sinh
và phòng tránh bệnh tật tốt, đảm bảo VSATTP. Nước uống và nước sinh
hoạt dùng cho trẻ phải đảm bảo vệ sinh.
Câu 3: An toàn về tâm lý đó là:
a. Bắt trẻ nghe lời bằng cách dọa trẻ một cách kín đáo
b. Yêu thương và đáp ứng mọi nhu cầu của trẻ. Tạo không khí thân mật, tạo
cảm giác yên ổn cho trẻ. Trẻ tin tưởng rằng cô và mọi người yêu trẻ.
c. Quan tâm đặc biệt ngay lúc đầu, sau đó thì kệ trẻ tự hoạt động.
Câu 4: An toàn về tính mạng đó là:
a. Không để xảy ra tai nạn và thất lạc.
b. Có hàng rào bảo vệ xung quanh khu vực trường, nhà. Sân chơi và đồ chơi
ngoài trời phù hợp.Trường lớp không gần đường giao thông lớn. Bảo đảm

c. Cả 2 cách trên đều đúng.
Câu 8: Khi sơ cấp cứu trẻ bị dị vật đường thở nếu dị vật bật ra mà trẻ
không thở lại bình thường thì phải làm gì?
a. Làm sơ cứu lại
b. Tiến hành hô hấp nhân tạo và chuyển ngay đến y tế.
Câu 9: Nếu sơ cấp cứu dị vật không thoát ra được thì:
a. Phải lấy ngón tay móc dị vật ra
b. Đặt trẻ ngồi vào lòng, một tay đỡ lấy lưng trẻ, tay kia nắm lại thành quả
đấm, ngón cái nằm trong, ấn mạnh vào trong và lên trên ở điểm giữa rố và mũi
ức 4 lần.
c. Áp miệng mình vào miệng trẻ, thổi nhẹ để không khí lọt qua chỗ bị tắc.
Đồng thời nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu.
d. Lần lượt từ a-b-c nếu dị vật vẫn chưa ra được.
Câu 10: Khi trẻ bị điện giật cứu trẻ thoát khỏi dòng điện bằng cách:
a. Nhanh chóng ngắt cầu giao hoặc rút cầu chì.
b. Dùng gậy gỗ ( tre) khô gỡ dây điện khỏi cơ thể trẻ.
c. Kéo trẻ khỏi nguồn điện bằng cách đeo găng tay cao su, hoặc cuốn ni
lông, vải khô; chân đi guốc dép khô hoặc đứng trên tấm ván khô.
d. Tất cả các phương án trên đều đúng.
Câu 11: Nếu trẻ ngạt thở tim ngừng đập trong khi chờ y tế đến hoặc trước khi
đưa trẻ đi bệnh viện, phải: Khẩn trương, kiên trì thổi ngạt và xoa bóp tim
ngoài lồng ngực cho tới khi trẻ thở lại ( Có khi phải làm 3-4 giờ mới hồi phục
được)
a. Đúng
b. Sai
Câu 12: Khi trẻ bị đuối nước cần xử trí tại chỗ như thế nào?
a. Dùng dụng cụ hút nước trong cơ thể trẻ ra.
b. Vớt trẻ lên rồi cởi nhanh quần áo ướt. Làm thông đường thở bằng cách
dốc ngược đầu trẻ xuống thập rồi lay mạnh, ép vào lồng ngực để tháo nước ở
16

chọn cách sau không?
*Hà hơi thổi ngạt:
Sau khi làm thông đường thở ta quỳ bên trái ngang đầu trẻ. Ta hít một hơi
dài, bịt hai lỗ mũi trẻ và mở rộng miệng trẻ, sau đó áp miệng mình vào miệng
trẻ, thổi nhẹ nhàng, rồi bỏ miệng mình ra để cho hơi thở ở lồng ngực trẻ thoát ra,
lấy hơi tiếp 1 lần nữa. Mỗi phút khoảng 20 - 25 lần. Tiếp tục Hà hơi cho đến khi
trẻ thở được.
Lưu ý:
- Quan sát khi thổi vào, lồng ngực trẻ phồng lên là được, nếu lồng ngực
không nhô lên là có dị vật làm tắc khí quản và cần lấy dị vật ra và móc miệng lại
cho hết đờm rãi.
- Thổi vừa phải, không thổi quá mạnh, vì như vậy sẽ làm rách phế nang
gây chảy máu
- Đầu trẻ trong suốt thời gian này phải ngửa hết ra sau.
* Xoa bóp tim ngoài lồng ngực:
17


Trong trường hợp tim ngừng đập phải xoa bóp tim
- Đặt trẻ nằm ngửa trên nền cứng ( Giường hoặc ván)
- Xác định vị trí để bóp tim: Điểm giữa của mũi ức và phần đáy của cổ
Bóp tim ngoài lồng ngực: Dùng gót bàn tay ấn sâu 2,5 - 3 cm rồi thả ra, nhịp 3
lần/ 2 giây( Mỗi lần ép đếm từ 1 đến 5). Chỉ ép lồng ngực sau 1 động tác thổi
ngạt và xoa bóp tim, thấy trẻ hồi tỉnh dần lại là tốt. Tiếp tục làm như vậy cho đến
khi tim đập đều và trẻ thở được.
a. Có.
b. Không.
Câu 18: Khi trẻ có hiện tượng sau bạn chuẩn đoán xem nguyên nhân gây ra
là gì?
" Chỉ vài phút sau xung quang vết cắn bị phù nề, tấy đỏ. Trẻ thấy nhức

2

Nội dung

2

2.1

Cơ sở lí luận

2

2.2

Thực trạng của vấn đề

3

Thuận lợi

3

Khó khăn

3

Khảo sát

3



12

Kết luận, kiến nghị

13

Kết luận

13

Kiến nghị

13

Phụ lục

15

4
6
8

TÀI LIÊU THAM KHẢO
19


1. Tạp trí giáo dục Mầm non từ 2013 đến 2016.
2. Hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình giáo dục mâm non các độ tuổi.
3. Bồi dưỡng thường xuyên Mudule 37 – Quản lý nhóm/ lớp học mầm non.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status