MỤC LỤC
NỘI DUNG
1. MỞ ĐẦU
1.1
Lý do chọn đề tài
1.2
Mục đích nghiên cứu
1.3
Đối tượng nghiên cứu
1.4
Phương pháp nghiên cứu
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giái quyết vấn đề
2.3.1 Lập bảng địa chỉ tích hợp
2.3.2 Các phương pháp dạy học tích hợp môi trường
2.4.Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục,với
bản thân,đồng nghiệp và nhà trường
3. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
Trang
2
3- 5
5- 7
7-11
11-12
12-14
trường ...). Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại một thảm họa, để khắc phục
thảm họa đó các cuộc hội thảo, hội nghị ở tầm cỡ quốc tế đã diễn ra:
- Từ ngày mồng 5 đến ngày 16 tháng 6 năm 1972 hội nghi quốc tế về môi
trường và con người được tổ chức tại Stốc khôm(Thụy Điển ).
- Từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 10 năm 1975, IEEP đã tổ chức hội thảo hội
thảo quốc tế về giáo dục môi trường ( GDMT ) tại Bêôgrat.
- Tháng 11 – 1976 hội thảo môi trường ở châu Á được tổ chức tại Băng Cốc
(Thái Lan ).
- Ngày 14 đến ngày 26 tháng 10 năm 1977 hội nghị quốc tế về GDMT được
tổ chức tại Tbilisi ( Gru dia ).
- Từ ngày 17 đến ngày 21 tháng 8 năm 1987 UNESCO và UNEP tổ chức hội
nghị quốc tế về GDMT tại Matxcơva.
2
Tất cả những kì hội nghị, hội thảo trên mặc dù diễn ra trong khoảng thời gian
khác nhau nhưng đều có một điểm chung là nhấn mạnh mối quan hệ giữa con
người và sinh quyển trong mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục. Giáo dục
môi trường đã vượt ra khỏi biên giới chính trị, tư tưởng của các quốc gia trên thế
giới.
Ở Việt Nam chương trình Giáo dục môi trường cũng được quan tâm trên
diện rộng đặc biệt trong chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp bậc học. Với tư
cách là một giáo viên, một công dân đang sinh sống và giảng dạy dưới mái trường
của một nước xã hội chủ nghĩa bản thân luôn băn khoăn và nhận thức sâu sắc về
trách nhiệm của mình về vấn đề nói trên.
Xuất phát từ những lí do trên, việc giáo dục môi trường cho các em học sinh
là cần thiết. Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài “Tích hợp giáo dục môi trường
nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh khi học Địa lí lớp 7 ở
trường THCS Nga Yên- Nga Sơn”
1.2. Mục đích nghiên cứu
và sinh vật. Môi trường có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người.
Môi trường không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển mà còn là nơi
lao động và nghỉ ngơi, hưởng thụ và trau dồi nét đẹp văn hóa… của loài người.
Ở nước ta, bảo vệ môi trường cũng đang là một vấn đề lớn được quan tâm
sâu sắc. Ngày 17 tháng 10 năm 2001 thủ tướng chính phủ ra quyết định số
1363/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ
thống giáo dục quốc dân”. Đồng thời Thủ tướng chính phủ cũng đã phê duyệt chiến
lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã
tạo cơ sở pháp lí vững chắc cho những nỗ lực và quyết tâm bảo vệ môi trường theo
định hướng phát triển một tương lai vững bền của đất nước.
Ngày 31/1/2005, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ra chỉ thị về việc tăng
cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường, xác định nhiệm vụ trọng tâm cho giáo
dục phổ thông là trang bị cho học sinh kiến thức, kĩ năng về môi trường và bảo vệ
môi trường bằng hình thức phù hợp trong các môn học, xây dựng mô hình nhà
trrường: Xanh - Sạch - Đẹp.
Các nhà khoa học và quản lí đã xác định một trong những nguyên nhân cơ
bản gây suy thoái môi trường là do sự thiếu hiểu biết, thiếu ý thức của con người.
Vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp hữu hiệu
nhất, kinh tế nhất và có tính bền vững trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu
bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đất nước. Thông qua giáo dục, từng
người và cộng đồng được trang bị kiến thức về môi trường, ý thức bảo vệ môi
trường, năng lực phát hiện và xử lí vấn đề môi trường.
Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy được
triển khai theo phương pháp tích hợp. Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được
tích hợp trong các môn học thông qua các chương, bài cụ thể. Tuy nhiên khi soạn
giáo án, giáo viên cần xem xét, nghiên cứu và chọn lọc nội dung giáo dục môi
trường phù hợp để đưa vào nội dung bài giảng dưới dạng lồng ghép toàn phần, lồng
ghép một phần hoặc liên hệ.
Có rất nhiều phương pháp dạy học mà có thể tích hợp được giáo dục môi
trường trong môn địa lí lớp7:
như đầy đủ.
+ BGH nhà trường rất quan tâm tới công tác chuyên môn, hàng năm có
trang bị thêm những thiết bị, vật tư, tranh ảnh, tài liệu… phục vụ cho nhiệm vụ
Dạy – Học.
- Khó khăn:
+ Nga Yên là xã sát trung tâm huyện Nga Sơn, vì thế có ảnh hưởng không
nhỏ đến chất lượng đầu vào (do đa số học sinh có tố chất ở lớp cuối cấp tiểu học
đều tham gia đăng tuyển vào trường THCS Chu Văn An – Trường trọng điểm của
huyện Nga Sơn). Hàng năm số học sinh đăng tuyển vào THCS Nga Yên đa phần
có tố chất thấp. Điều đó gây khó khăn trong quá trình học tập của học sinh và dạy
học của giáo viên.
+ Nhiều em chưa thật sự tích cực trong học tập, chưa có kỹ năng hoạt động
hợp tác theo nhóm, chưa có những hiểu biết sâu sắc về môi trường, ý thức về môi
trường của các em còn ở mức độ mơ hồ. Chẳng hạn như “Không vào rừng chặt phá
bừa bãi những cây gỗ lớn” là đã bảo vệ môi trường, nhưng bên cạnh đó còn có rất
nhiều vấn đề gần gũi như bảo vệ khuôn viên trường học, đường làng ngõ xóm,
5
trồng nhiều cây xanh... đó là chưa kể nhìn ở góc độ xa hơn là thực trạng đốt rừng tự
nhiên lấy đất trồng hoa màu mà không đi đôi với công tác bảo vệ rừng và trồng
thêm nhiều rừng mới ... Như vậy, nhìn từ phía học sinh nguyên nhân là do các em
chưa hiểu được là phải làm gì để bảo vệ môi trường, còn mơ hồ trong nhận thức,
còn thờ ơ trước những thay đổi theo chiều hướng tiêu cực của môi trường và quá
quen với những phong tục tập quán lạc hậu đã có từ lâu, dẫn đến ý thức về bảo vệ
môi trường còn hạn chế.
Trong chương trình môn địa lí lớp 7, có nhiều phần học, bài học có kiến thức
về môi trường. Vì vậy việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học địa lí lớp 7
là rất cần thiết nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường và tạo hứng thú học tập
cho học sinh. Để làm được điều đó đòi hỏi người giáo viên cũng phải có tâm huyết,
SL
%
SL
%
SL
%
7A (Số học
sinh: 29)
4
13,8
6
20,7
10
34,5
9
Loại giỏi
Loại khá
Loại TB
Loại Yếu
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
4
13,8
7
phương pháp tích hợp giáo dục môi trường
- Lớp 7B: Đối chứng- Giáo viên tổ chức dạy học theo các phương pháp
truyền thống
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1. Lập bảng địa chỉ tích hợp
Để thuận lợi cho việc tích hợp giáo dục môi trường trong dạy học địa lí lớp
7, trước hết giáo viên cần phải lập được một bảng thống kê “ địa chỉ tích hợp” như
dưới đây:
STT
Tên bài
Địa chỉ tích hợp
1 Bài 1: Dân Số
-Mục 2:Dân số thế giới tăng nhanh
trong thế kỷ 19 và 20
-Mục 3: Sự bùng nổ dân số
2 Bài 3: Quần cư, đô thị hóa
-Mục 2: Đô thị hóa các khu đô thị
3 Bài 6: Môi trường nhiệt đới
-Mục 2: Các đặc điểm khác của
môi trường
4 Bài 10: Dân số và sức ép dân số tới tài -Mục 1: Dân số
nguyên môi trường ở đới nóng
-Mục 2: Sức ép của dân số tới tài
nguyên môi trường
5 Bài 11: Di dân và sự bùng nổ đô thị ở -Mục 1: Sự di dân
đới nóng
-Mục 2: Đô thị hóa
STT
Tên bài
Địa chỉ tích hợp
càng mở rộng
Bài 22: Hoạt động kinh tế của con -Mục 2: Việc nghiên cứu và khai
người ở đới lạnh
thác môi trường
Bài 24: Hoạt động kinh tế của con -Mục 2: Sự thay đổi kinh tế xã hội
người ở vùng núi
Bài 30: kinh tế Châu Phi
-Mục 1: Nông nghiệp
-Mục 2: Công nghiệp
Bài 38: Kinh tế Bắc Mỹ
-Mục 1: Nền nông nghiệp tiên tiến
Bài 45: Kinh tế Trung và Nam Mỹ
-Mục 3: Vấn đề khai thác rừng
Ama zôn
Bài 47: Châu Nam Cực- Châu lục lạnh -Mục 1: Khí hậu
nhất thế giới
Bài 55: Kinh tế Châu Âu
-Mục 1: Nông nghiệp
-Mục 2: Công nghiệp
Bài 56: Khu vực Bắc Âu
-Mục 2: Kinh tế
2.3.2. Cách thức tiến hành
Khi dạy đến bài nào có nội dung tích hợp giáo dục môi trường, giáo viên lựa
chọn các phương pháp dạy học thích hợp để truyền tải nội dung làm cho học sinh
lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và tốt nhất. Sau đây là một số phương pháp
mà tôi đã lựa chọn để giảng dạy tích hợp môi trường trong môn địa lí lớp 7:
a. Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại là phương pháp dạy học có lịch sử lâu đời và được sử dụng
thường xuyên trong dạy học địa lý ở trường phổ thông từ trước đến nay. Đàm thoại
- Nêu hậu quả của hiện tượng mưa a xít ?
Học sinh suy nghĩ trả lời, giáo viên nhận xét, tổng hợp kiến thức và kết luận.
Qua đây học sinh phải thấy được sự phát triển công nghiệp và phương tiện
giao thông ở đới ôn hòa làm cho bầu khí quyển bị ô nhiễm nặng nề. Hậu quả là làm
nên những trận mưa a xít làm chết cây cối, ăn mòn các công trình xây dựng và gây
ra các bệnh về đường hô hấp cho con người.
Trong dạy học địa lí, giáo viên triệt để sử dụng những tranh ảnh minh họa
trong sách giáo khoa, bởi đây là những phương tiện minh họa đã được chọn loc để
thể hiện các hiện tượng một cách cụ thể, điển hình nhất.
Ví dụ: Bài 17- Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa
Khi dạy mục 2: Ô nhiễm nước
Giáo viên cho học sinh quan sát 2 hình ảnh 17.3 và 17.4
- Yêu cầu học sinh cho biết nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước các sông
và biển?
- Cách triển khai tốt mục này là cho học sinh trao đổi nhóm, sau đó cho học
sinh trình bày ý kiến của nhóm, cuối cùng giáo viên tổng hợp, bổ sung kiến thức và
hoàn chỉnh kiến thức cho học sinh. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước sông và
9
biển là việc tập trung quá nhiều các siêu đô thị ở ven biển, tai nạn tàu chở dầu, hóa
chất thải từ các nhà máy, lượng phân hóa học, thuốc trừ sâu dư thừa...
Khi sử dụng tranh ảnh giáo viên cần chuẩn bị những câu hỏi hướng dẫn học sinh
khai thác nội dung cần được thể hiện trên bức tranh.
c. Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
Ví dụ: Bài 15- Hoạt động công nghiệp ở đới ôn hòa
Khi dạy xong mục 2: Cảnh quan công nghiệp
- Bước 1: Giáo viên nêu vấn đề, tạo tình hướng có vấn đề:
Hình thức làm nương rẫy với kĩ thuật sản xuất lạc hậu ở một số nước đang
phát triển đã làm suy thoái đất và suy giảm tài nguyên rừng.
quan sát, ghi chép, tập hợp thông tin, kết luận. Đồng thời khơi dậy ở mỗi học sinh ý
thức về môi trường và khuyến khích tham gia hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà
trường.
Ví du: Với bài 9 “ Hoạt động sản xuất nông nghiệp ơ đới nóng”- Địa lí 7 Giáo viên
tổ chức thực địa để hiểu môi trường theo quá trình sau.
- Giáo viên chọn nơi thực địa ( Gần trường )
- Phân công:
Nhóm 1: Thu thập các mẫu vật ( Đất, đá, nước )
Nhóm 2: Thu thập các loài mẫu vật (Cây,côn trùng)
Nhóm 3: Ghi chép
Thảo luận giữa các nhóm đi đến kết luận: Môi trường sống có nhiều đối
tượng: Vô cơ, hữu cơ. Các đối tượng đang bị đe dọa dưới tác động của con người.
Vì vậy cần phải có những việc làm thiết thực, hữu ích để bảo vệ môi trường.
f. Phương pháp thí nghiệm
Dựa trên những kiến thức đã học để minh họa cho một vấn đề đặt ra.
Ví dụ: Dạy bài 17 “ Ô nhiễm môi trường ở đới ôn hòa”– Địa lí 7. Nếu để lí giải
cho nguồn nước ở gần nhà máy bị ô nhiễm thì học sinh sẽ ghi nhớ một cách thụ
động, hãy để học sinh khám phá bằng một thí nghiệm tự làm ở nhà: Lấy hai lọ
nước đựng vào hai lọ thủy tinh chiều dài 20 cm, đường kính rộng 10 cm ở hai vị trí
khác nhau (Một lọ gần lò gạch, một lọ xa lò gạch), hai lọ để gần nhau sau 2 đến 3
giờ đồng hồ cho học sinh quan sát kĩ dưới đáy 2 lọ. Học sinh xác định được lọ nào
nước sạch lọ nào nước bẩn.
2.4. Hiệu quả sáng kiến kinh nghiệm
- Đánh giá và so sánh mức độ hứng thú học tập bộ môn và nhận thức về môi
trường của học sinh khi đã áp dụng đề tài và khi chưa áp dụng đề tài kết quả như
sau:
Lớp
7A
12
41,4
5
17,2
2
6,9
4
18,2
6
27,3
7
31,8
5
22,7
7B
Số học
%
SL
%
9
31,0
10
34,5
8
27,6
2
6,9
3
13,6
6
27,3
đe dọa- một điều chúng ta đang rất cần ở các em, những chủ nhân tương lai của đất
nước.
Sau một thời gian tìm hiểu và vận dụng vào dạy học tôi đã rút ra một số
phương pháp để giáo dục môi trường như sau:
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp sử dụng tranh ảnh
- Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn đề
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp thực địa.
- Phương pháp thí nghiệm.
12
Sự phối hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi
cách thức học tập đối với môn địa lý 7, giúp học sinh có hứng thú với bộ môn hơn,
đồng thời nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của học sinh. Qua đó học sinh có
những hành động đúng đắn hơn với cộng đồng và với môi trường chung sống của
nhân loại.
Đề tài này bản thân ứng dụng với học sinh lớp 7A trường THCS Nga Yên,
tôi thiết nghĩ đề tài này có thể vận dụng ở bộ môn địa lý 7, miễn sao người giáo
viên phải có tâm huyết với nghề, đầu tư nhiều cho công việc của mình, phối hợp
linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho học sinh có hứng thú với bộ môn.
Qua đây bản thân nhận thấy ở các bộ môn ở các bộ môn, không phải chỉ
riêng môn địa lý, khi người giáo viên có nhiệt huyết với công việc của mình, đầu tư
sâu, tổ chức các phương pháp dạy học linh hoạt và phù hợp thì chắc chắn sẽ đem
lại hiệu quả cao. Để làm được điều này đòi hỏi người giáo viên phải căn cứ vào
hoàn cảnh thực tế, đối tượng học sinh của trường mình mà lựa chọn phương pháp
dạy học tích hợp cho phù hợp.
3.2. Kiến nghị
- Với giáo viên: Phải trau dồi kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy, chuẩn bị công
PGS.TS. Đặng Văn Đức. Giáo dục môi trường qua môn Địa Lí ở trường phổ
thông. Nhà xuất bản Hà Nội – 2003.
4. Nguyễn Dực – Phan Huy Xu – Nguyễn Hữu Danh – Mai Phú Thanh. Sách
giáo khoa Địa Lí 7. Nhà xuất bản giáo dục – 2003.
5. Mạng Internet
14