Giáo dục học sinh nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, thông qua dạy học phần: Sinh vật và môi trường trong chương trình sinh học 9, tại trường THCS Nga Tiến - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
I. MỞ ĐẦU:

2

1. Lí do chọn đề tài:

2

2. Mục đích nghiên cứu:

3

3. Đối tượng nghiên cứu:

4

4. Phương pháp nghiên cứu:

4

II. NỘI DUNG:

5

1. Cơ sở lí luận:

5

2. Thực trạng:


9

III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ:

7
7
9
9

9
11
13
13
15

1. Kết luận:

15

2. Kiến nghị :

15

1


I. MỞ ĐẦU:
1. Lí do chọn đề tài:
Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa

để hình thành và nâng cao cho các em học sinh ý thức bảo vệ môi trường, thói
quen sống vì một môi trường xanh - sạch - đẹp.
Với nhiều biện pháp được đề ra nhằm bảo vệ môi trường, đã được Đảng
và Nhà Nước ta quan tâm rất nhiều, đối với các em học sinh thì ngành cũng đã
có một số biện pháp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các em như: cho
các em lao động nhặt rác sân trường, tham gia phong trào làm cho thế giới sạch
hơn, tuyên truyền dưới cờ về bảo vệ môi trường … và ở một số môn học cũng
2


được lồng ghép chủ đề môi trường vào giảng dạy, cũng góp phần nào làm sạch
hơn môi trường của chúng ta. Tuy nhiên những hoạt động đó vẫn chưa hiệu quả
lắm vì đa số các em học sinh chưa có ý thức cao trong việc bảo vệ môi trường,
những việc làm của các em chưa có tính tự giác, khi nào giáo viên nhắc nhở yêu
cầu các em mới làm, nếu có thì chỉ có một số ít các em. Nếu một trường mà mỗi
tập thể học sinh ý thức về bảo vệ môi trường còn chưa cao thì việc thực hiện
phong trào thi đua “Xây dựng trường học xanh – sạch – đẹp” khó có thể thực
hiện cho tốt được.
Ở nước ta hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường đang trở nên cấp bách hơn
bao giờ hết vì môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng, gây nên sự mất cân
bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên, sự ô nhiễm không khí, đất,
nguồn nước ở khắp mọi nơi đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống. Các
vấn đề về môi trường ngày càng được coi trọng trong nền giáo dục của Việt
Nam. Một môi trường xanh, sạch, đẹp là vô cùng cần thiết đối với cuộc sống
của chúng ta. Nó đảm bảo cho cuộc sống của chúng ta được tốt đẹp hơn. Những
trẻ em được giáo dục cách tôn trọng môi trường xung quanh sẽ góp phần gìn giữ
môi trường trên toàn trái đất này. Đó là lí do tại sao giáo dục môi trường được
coi là yếu tố chủ chốt trong chương trình giáo dục phổ thông. Lồng ghép giáo
dục môi trường vào các môn học là cách tiếp cận hiệu quả nhất nhằm giáo dục
cho thế hệ trẻ có những quyết định đúng đắn đối với môi trường trong nhiều tình

Áp dụng ở một số bài trong phần 2: “Sinh vật và môi trường” – sinh học
9, góp phần nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh lớp 9, tại trường THCS
Nga Tiến.
4. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài chủ yếu tôi sử
dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát, nghiên cứu thực địa.
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục.
- Phương pháp dạy học đặt và giải quyết vấn đề.
- Phương pháp tổ chức hoạt động nhóm.
- Phương pháp hoạt động thực tiễn.
- Phương pháp nêu gương.

4


II. NỘI DUNG:
1. Cơ sở lí luận:
Chúng ta thực hiện mọi biện pháp, việc làm, cách làm nhằm mục đích là
làm cho môi trường xanh – sạch – đẹp.
Con người tỏ thái độ bàng quan, thiếu quan tâm, cho dù môi trường ô
nhiễm ra sao, coi đó là việc của xã hội, của người khác không phải của mình.
Nguy hại hơn, những suy nghĩ trên không phải của một số ít người, mà của rất
nhiều người. Vì vậy, cần hiểu lại vấn đề, cần có những hành vi ứng xử thật đúng
đắn với môi trường và tài nguyên thiên nhiên là vấn đề cấp bách đang đặt ra, bởi
nếu không, những vấn đề trên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con
người trong hiện tại và cả tương lai nữa.
Cho học sinh hiểu biết những vấn đề tổng hợp về môi trường, tác hại của ô
nhiễm môi trường tới đời sống của con người, sinh vật ở hiện tại và trong tương
lai. Bảo vệ môi trường là một việc làm thiết thực góp phần bảo vệ đất nước và
xem đây là nhiệm vụ quan trọng của học sinh.

+ Mục tiêu tích hợp.
+ Nguyên tắc tích hợp.
+ Nội dung, phương pháp, hình thức tích hợp.
+ Địa chỉ tích hợp.
Đối với bài học mà toàn bộ nội dung có liên quan đến môi trường, ví dụ
chương III và chương IV phần sinh vật và môi trường trong chương trình sinh
học lớp 9. Đòi hỏi giáo viên và học sinh đều phải cập nhật thông tin thường
xuyên thì nội dung bài học mới trở nên phong phú.
2. Thực trạng:
2.1. Về phía giáo viên:
- Hiện nay đa số giáo viên bỏ qua phần liên hệ thực tế là do một trong các
lý do sau:
+ Không căn chuẩn thời gian các phần.
+ Phần liên hệ được coi là phần phụ.
+ Kiến thức thực tế của giáo viên đang còn hạn chế.
Thường ở thông tin này giáo viên bỏ qua vấn đề ô nhiễm môi trường hoặc
chưa có kiến thức thực tế sinh động, nên học sinh chưa ý thức được sự nghiêm
trọng của ô nhiễm môi trường.
Theo cấu trúc chương trình sách giáo khoa sinh học nói chung và sinh học
9 nói riêng, phần có liên quan tới môi trường thường đưa vào mục cuối của bài,
mà người giáo viên hay chú tâm vào những nội dung chính của bài, nếu còn thời
gian mới liên hệ đến phần cuối hoặc bỏ qua phần liên hệ thực tế cho các em.
Thông thường giáo viên chỉ thiết kế nội dung bài học theo sách giáo khoa,
học sinh sẽ cảm thấy không hứng thú vì học sinh hiện nay có rất ít kiến thức
thực tế, sách giáo khoa nói những gì thì học sinh biết điều đó hoặc giáo viên
phải cung cấp thông tin. Từ đó dẫn tới việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho các em chưa đạt được hiệu quả cao.
Từ những lý do đó mà giáo viên chưa nâng cao được ý thức bảo vệ môi
trường cho học sinh. Vậy chúng ta cần phải tìm ra giải pháp có hiệu quả để khắc
phục vấn đề này.

trường tự nhiên.
Tiếp theo giáo viên yêu cầu học sinh tự tìm hiểu những hoạt động của
cộng đồng dân cư nơi mình đang sống có ảnh hưởng tới môi trường như thế
nào? Cuối cùng tìm ra các biện pháp bảo vệ và cải tạo môi trường tự nhiên.
Như vậy ta cứ tiến hành tích hợp ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
vào các bài học liên tục. Từ đó hình thành cho các em thói quen bảo vệ môi
trường trước hết ở phương diện lý thuyết, sau đó sẽ thành hành động cụ thể khi
các em hiểu rõ vấn đề.
3.1.2. Định hướng phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới môi
trường:
Để giảng dạy kiến thức có liên quan đến môi trường, giáo viên cần tích
hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường với kiến
thức môn học thành nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối
liên hệ lí luận và thực tiễn đựơc đề cập trong bài học. Vì vậy kiến thức giáo dục
bảo vệ môi trường không phải muốn đưa vào lúc nào cũng được, mà phải căn cứ
vào nội dung của bài học có liên quan với vấn đề môi trường, mới có thể tìm chỗ
thích hợp để đưa vào. Đối với môn sinh học có thể áp dụng hai dạng khác nhau:

7


* Dạng lồng ghép: Ở dạng này, các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường đã có
trong chương trình sách giáo khoa và trở thành một phần kiến thức môn học.
Trong sách giáo khoa sinh học 9 nội dung này có thể chiếm một vài chương.
Ví dụ chương I: Sinh vật và môi trường; Chương II: Hệ sinh thái; Chương
III: Con người, dân số và môi trường; Chương IV: Bảo vệ môi trường.
Chiếm một mục, một đoạn trong bài học (lồng ghép một phần). Trong
sách giáo khoa sinh học 9 bài 29: Bệnh và tật di truyền ở người, trong bài này ở
mục III có các biện pháp để hạn chế bệnh và tật di truyền ở người: “Đấu tranh
chống sản xuất, thử, sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học và các hành vi gây

thực tế sâu rộng và biết cách tổ chức hoạt động, giao nhiệm vụ trước cho học
sinh.
8


3.1.3. Tích hợp kiến thức bảo vệ môi trường dưới các dạng trò chơi:
Để thay đổi hình thức dạy - học cho học sinh đỡ nhàm chán (đặc biệt đối
với phần sinh học và môi trường sinh học 9) thì ta nên sử dụng phương pháp
này.
Ví dụ bài 58: Sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên - Sinh học 9
Bài này ở 3 nội dung: Sử dụng hợp lý tài nguyên đất.
Sử dụng hợp lý tài nguyên nước.
Sử dụng hợp lý tài nguyên rừng.
Giáo viên giao nhiệm vụ cho các tổ về chuẩn bị các tình huống (mỗi tổ 1
tình huống) sau đó các tổ đưa ra tình huống sử dụng một loại tài nguyên nào đó
và yêu cầu tổ khác giải quyết tình huống đó, xem sử dụng như thế đã hợp lý
chưa, giải thích…
3.1.4. Tổ chức ngoại khoá trong giờ thực hành:
Tổ chức ngoại khoá cho cho học sinh đi đến những nơi mà môi trường có
thay đổi tích cực hoặc tiêu cực là một dịp để các em nắm chắc nội dung bài học,
từ đó tìm ra phương pháp bảo vệ môi trường hiện tại và tương lai.
3.2. Giải pháp cụ thể:
3.2.1. Xác định phương pháp giảng dạy bài học có liên quan tới môi trường:
Giáo dục ý thức quan tâm đến môi trường, trang bị cho các em những
hiểu biết và kĩ năng cần thiết để các em có khả năng xử lý một số vấn đề môi
trường cụ thể.
Việc lựa chọn phương pháp để giáo dục bảo vệ môi trường một mặt phụ
thuộc vào môn học, mặt khác phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của nhà trường.
Ví dụ bài 54 - 55: Ô nhiễm môi trường - Sinh học 9
Để thực hiện nội dung bài học này thì giáo viên phải giao nhiệm vụ cho

+ Do hoạt động của tự nhiên
Hoạt động 2: Các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm và các biện pháp hạn chế gây ô
nhiễm môi trường.
- Yêu cầu học sinh thảo luận theo
nhóm
+ Tổ 1: Ô nhiễm không khí và chất
phóng xạ.
+ Tổ 2: Ô nhiễm nguồn nước và các
tác nhân sinh học.
+ Tổ 3: Ô nhiễm do hoá chất và thuốc
bảo vệ thực vật. Ô nhiễm do thiên tai
và lũ lụt.
+ Tổ 4: Ô nhiễm do chất thải rắn. Ô
nhiễm tiếng ồn.
- Giáo viên yêu cầu đại diện 4 nhóm,
mỗi nhóm 2 học sinh thi giữa các
nhóm hoàn thiện phiếu học tập:
+ Nguyên nhân gây ô nhiễm.
+ Biện pháp hạn chế ô nhiễm
+ Liên hệ thực tế.
- Yêu cầu các nhóm nhận xét, bổ sung.
- Giáo viên nhận xét và cho điểm đội
thắng, có nhiều đáp án đúng.
+ Chúng ta đã làm gì để hạn chế ô
nhiễm môi trường?

- Học sinh làm việc theo nhóm.
- Thảo luận các nội dung.
+ Nguyên nhân gây ô nhiễm.
+ Biện pháp hạn chế ô nhiễm.

rắn.
6. Ô nhiễm do sinh vật
gây bệnh.

động thực vật, rác thải đổ ra
sông...
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật,
chiến tranh: Trừ sâu, diệt cỏ,
nấm, chất độc hóa học...
Các chất phóng xạ: Công
trường khai thác chất phóng xạ,
nhà máy điện nguyên tử...
Được sinh ra từ các hoạt động:
Sinh hoạt gia đình, xây dựng, y
tế, công nghiệp...
Chất thải không được thu gom
và xử lí: Phân, rác, nước thải
sinh hoạt, xác chết sinh vật...

g,k,l,n
d,e,g,h,k,l
g,k,l
c,d,e,g,k,l,m,o

7. Ô nhiễm do hoạt động
Do hoạt động núi lửa, lũ lụt…
g,k
tự nhiên, thiên tai.
Do hoạt động các nhà máy,
8. Ô nhiễm tiếng ồn

Chuẩn bị cơ sở vật chất - thiết bị
Tiến hành trò chơi, hội thi.
Tổng kết, rút kinh nghiệm.

Ví dụ: Dạy bài 58 Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
11


-

Mục II.3: Sử dụng hợp lí tài nguyên rừng
GV tổ chức cho học sinh chơi trò chơi: “Làm thế nào để bảo vệ rừng”
Ý nghĩa của trò chơi: Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi người
GV chọn 15 học sinh: đóng các vai (viết chữ lên giấy A 4 rồi dán lên
trước ngực)
+ Cán bộ kiểm lâm: 2 học sinh
+ Thợ săn: 3 học sinh
+ Người khai thác gỗ lậu: 4 học sinh
+ Người buôn gỗ lậu: 3 học sinh
+ Người dân địa phương: 2 học sinh
+ Thầy lang: 1 học sinh
- GV chuẩn bị 125 cái kẹo: 25 màu đỏ tượng trưng cho các loại gỗ quý,
25 cái màu xanh tượng trưng cho động vật sống trong rừng, 25 cái màu trắng
tượng trưng cho đất rừng, 25 cái màu vàng tượng trưng cho dược liệu, 25 cái
màu tím tượng trưng cho các lâm sản khác.
- Xếp kẹo rải rác trên bàn giáo viên và bàn thứ nhất của học sinh
+ Các cán bộ kiểm lâm cố gắng giữ không cho số kẹo (rừng) mất đi;
những người khác tìm cách để lấy kẹo càng nhiều càng tốt
+ Trò chơi diễn ra khoảng 3 – 5 phút.
- Thảo luận:

- Giáo viên cho học sinh đánh giá chéo giữa các tổ và cho điểm.
- Giáo viên đánh giá và cho điểm các tình huống.
- Kết quả đưa ra tình huống và giải quyết tình huống là nội dung của bài học.
3.2.3. Tăng cường ngoại khoá thực tế trong giờ thực hành, hướng dẫn học
sinh thu thập thông tin thực tế:
Ví dụ để dạy bài 56 – 57. Thực hành: Tìm hiểu tình hình môi trường ở địa
phương - Sinh học 9.
Giáo viên chọn địa điểm gần trường trước 2 ngày sau đó thông báo cho
học sinh chuẩn bị về phương tiện, vật dụng cần thiết, hướng dẫn cho học sinh kẻ
một số bảng biểu cần thiết như:
Bảng 1:
Nhân tố vô sinh

Nhân tố hữu sinh

Hoạt động của con người trong môi
trường.

Bảng 2:
Các nhân tố
gây ô nhiễm

Mức độ ô nhiễm

Nguyên nhân gây ô
nhiễm

Đề xuất biện pháp
khắc phục


Trung bình
Kém
SL
%
SL
%
SL
%
7
24,1
12
41,4
10
34,5
6
21,4
13
46,5
9
32,1
14
41,2
15
44,1
5
14,7
27
29,7
40
43,9

SL
%
65,5
7
24,2
3
10,3
71,4
6
21,5
2
7,1
91,2
3
8,8
0
0,0
76,9
16
17,6
5
5,5

Đối với học sinh từ chỗ các em chưa có ý thức bảo vệ môi trường, thờ ơ
trước vấn đề ô nhiễm môi trường, đến ý thức tốt trách nhiệm của mình, trước
cộng đồng trong việc chung tay bảo vệ môi trường như: đổ rác đúng nơi quy
định, vệ sinh chuồng trại, nhà ở, trường học, trồng, chăm sóc và bảo vệ cây
xanh. Nắm được những kiến thức cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường.
Dần dần hình thành thói quen và kĩ năng phòng chống ô nhiễm môi trường, giữ
gìn cân bằng sinh thái. Tham gia tích cực vào các hoạt động giữ gìn vệ sinh, bảo

hợp áp dụng các phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hoá hoạt động học
tập của học sinh, năm học 2015 - 2016 tôi đã mạnh dạn áp dụng sáng kiến trên
trong kế hoạch giảng dạy của mình, kết hợp với các giáo viên bộ môn khác,
cùng thống nhất áp dụng sáng kiến trên vào công tác giảng dạy ở đơn vị, tôi
nhận thấy hiệu quả giảng dạy được nâng cao rõ rệt.
2. Kiến nghị :
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn xã hội. Nếu môi trường trong
lành thì sẽ tạo điều kiện cho học sinh phấn khởi học tập, phát huy mọi tiềm năng
tư duy, ngược lại nếu môi trường xung quanh bị ô nhiễm sẽ ảnh hưởng xấu đến
học sinh về mọi mặt, học sinh chán trường học dẫn đến chất lượng giáo dục
giảm sút. Chính vì thế giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh
là cần thiết, nhưng phải có sự phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội
thì việc giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho các em mới tốt hơn
nữa.
- Đối với giáo viên cần tích cực học hỏi để nâng cao kiến thức đặc biệt là
kiến thức thực tế về môi trường, tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại
chúng, Internet, trong quá trình giảng dạy cần tích hợp kiến thức giáo dục môi
trường thông qua các phần của bài học.
- Với Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên: Cần chú trọng phong trào “Xanh –
Sạch - Đẹp” trong các trường học và khu dân cư.
- Với nhà trường: Không chỉ có bộ môn sinh học, mà các môn học khác
trong chương trình giáo dục phổ thông THCS, đều thấy có thể tích hợp các nội
dung giáo dục bảo vệ môi trường vào bài học, vì vậy, trong công tác lãnh chỉ
đạo chuyên môn đề nghị nhà trường nhấn mạnh, nhắc nhở thường xuyên sự phối
hợp thống nhất, đồng bộ giữa các môn học về vấn đề tích hợp giáo dục bảo vệ
môi trường trong các bài học. Nên thường xuyên tổ chức các phong trào thi đua
về môi trường cho các em học sinh cùng tham gia. Yêu cầu các em thực hiện tốt
việc thu gom và phân loại rác.

15

3. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-2005)
– Quyển 1. Nhà xuất bản giáo dục.
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kì III (2004-2005)
– Quyển 2. Nhà xuất bản giáo dục.
5. Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn sinh học. Nhà xuất bản
giáo dục, năm 2007.
6. Môi trường và phát triển bền vững, Nguyễn Đình Hòe.
7. Sinh học 9, Nhà xuất bản Giáo dục 2006. Nguyễn Quang Vinh - Vũ Đức Lưu
- Nguyễn Minh Công – Mai Sỹ Tuấn.

17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status