Truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ (Tại thị trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ) - Pdf 41

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘITRƢỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------

NGUYỄN THU TRANG
TRUYỀN THÔNG DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG NHẰM
NÂNG CAO NHẬN THỨC CHĂM SÓC SỨC KHỎE
SINH SẢN CỦA PHỤNỮ(Tại thịtrấn Phong Châu, huyện
Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ)
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01

Giảng viên hƣớng dẫn: PGS.TS. Trịnh Văn Tùng
Hà Nội –2016
MỤC LỤC


PHẦN MỞĐẦU..............................................................................................2
1. Lý do chọn đềtài...........................................................................................2
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu..................................................................4
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu...........................................13
4. Đối tƣợng, khách thểvà phạm vi nghiên cứu.............................................14
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụnghiên cứu...........................................15
6. Câu hỏi nghiên cứu.....................................................................................16
7. Giảthuyết nghiên cứu.................................................................................16
8. Phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................................17
9. Kết cấu của luận văn...................................................................................22
NỘI DUNG.....................................................................................................23
CHƢƠNG 1. CƠ SỞLÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU..........23
1.1. Một sốkhái niệm công cụ......................................................................23
1.1.1. Truyền thông.........................................................................................23

thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.....Error! Bookmark not
defined.
2.1.1. Nhận thức của phụ nữ về phòng tránh thai an toànError!
defined.

Bookmark not

2.1.2. Nhận thức của phụ nữ về các bệnh lây truyền qua đường tình
dục.........................................................................Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Nhận thức của phụ nữ về làm mẹ an toànError!
defined.

Bookmark

not

2.1.4. Nhận thức của phụ nữ về nạo phá thai an toànError! Bookmark not
defined.
2.1.5. Mức độ quan tâm và sự thiếu hụt kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của
phụ nữ tại địa phương..............................Error! Bookmark not defined.
2.2. Thực trạng công tác truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe
sinh sản của phụnữtại thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ...........................................................Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông đại
chúng..............................................................................................Error! Bookmark
not defined.


2.2.2. Thực trạng công tác truyền thông hiện nay qua kênh truyền thông trực
tiếp.....................................................................................Error! Bookmark not


not

3.3.3. Thiết kếthông điệp truyền thông dựa vào cộng đồngError! Bookmark not
defined.


3.3.4. Biện pháp tiến hành truyền thông dựa vào cộng đồng..................Error!
Bookmark not defined.
KẾT LUẬN....................................................Error! Bookmark not defined.
KHUYẾN NGHỊ............................................Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................25
PHỤLỤC.......................................................Error! Bookmark not defined

PHẦN MỞĐẦU


1.Lý do chọn đềtàiChăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữđang là một vấn đềrất
đƣợc quan tâm và chú ý hiện nay. Trong giai đoạn đất nƣớc phát triển hiện nay,
mỗi ngày trên thếgiới có khoảng hơn 3000 phụnữtửvong cũng nhƣ đang gặp phải
các vấn đềdo sức khỏe sinh sản. Tính riêng tại Việt Nam bình quan mỗi ngày có
khoảng 20 đến 25 phụnữđang phải chung sống với các vấn đềvềsức khỏe sinh
sản cũng nhƣ mắc mới. Các nguyên nhân hàng đầu khiến các con sốcao nhƣ vậy
là do: chịem còn thiếu kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản, ngại nói ra hay đến
các cơ sởy tếkhám chữa bệnh vì là vấn đềtệnhị, do hạn chếvềđiều kiện kinh tế, địa
hình sinh sống nên chƣa thểtiếp cận các dịch vụy tếvà công tác truyền thông cung
cấp kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản,... [4, tr 26].Đặc biệt là trong vấn
đềnhận thức và công tác truyền thôngchăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân vẫn còn
nhiều hạn chếdẫn đến những hậu quảtiêu cực cần khắc phục. Đểkhắc phụnhững
hạn chếtrên thì trƣớc tiên phải nâng cao chất lƣợng giáo dục, nâng cao sức

vấn đềtruyền thông vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữsẽgóp phần quan
trọng trong việc nâng cao nhận thức, khắc phục những thiếu hụt kiến thức cũng
nhƣ phòng ngừa những nguy cơ liến quan đến các vấn đềsức khỏe sinh sản của
chịem phụnữ.Trong những năm qua, thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh
Phú Thọđã thực hiện đƣờng lối đổi mới của Đảng và Nhà nƣớcđã từng bƣớc tăng
trƣởng kinh tếbền vững, các dịch vụy tế, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân đã
từng bƣớc đƣợc nâng cao. Bên cạnh đó các nhu cầu và nguyện vọng của ngƣời
dân đã đƣợc quan tâm và chú trọng hơn[46]. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu
đã đạt đƣợc không thểkhông nhắc đến những điểm hạn chếvẫn còn tồn tại nhƣ hạn
chếtrong công tác thăm khám, bảo vệsức khỏe sinh sản của phụnữđịa phƣơng và
truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khóe sinh sản của phụnữ. Trong
vòng 5 năm trởlại đây, thực trạng chịem phụnữthiết hụt kiến thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản dẫn đến những hậu quảđáng tiếc vẫn còn tồn tại[33]. Mặc dù các
cấp chính quyền cùng các cơ quan đoàn thể, tổchức xã hội đã có những biện pháp
nhằm ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng trên nhƣng trong thức tếthì hiệu
quảvẫn chƣa cao. Tại thịtrấn Phong Châu, qua quá trình thực tiễn chúng tôi thấy
rằng nhận thức của chịem phụnữvềvấnđềchăm sóc sức khỏe sinh sản còn thấp, còn
nhiều thiếu hụt kiến thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của chính bản thân
mình. Từthực tếđóchứng minh cho chúng ta thấy sựcần thiết phải có một nghiên
cứu thực tiễn đểtìm ra một mô hình truyền thông hiệu quảnhằm nâng cao nhận
thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ.Nhận thức đƣợc tầm quan trọng
cũng nhƣ ý nghĩa của vấn đềxã hội trên, tôi chọn đềtài“Truyền thông dựa vào
cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại
thi trấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”làm đềtài luận văn tốt nghiệp
của mình với mong muốn tìm hiểu thực trạng nhận thức và công tác truyền thông
chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại địa phƣơng, kèm theo đó là xác định
những nguyên nhân thựctrạng đó và cuối cùng là đánh giá các nguồn lực trong
công tác truyền đểtừđó đềxuất kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng
đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ, cải thiện


phụnữtửvong do các bệnh vềsức khỏe sinh sản trên 100.000 dân thì ởcác nƣớc
chậm pháttriểnhay các nƣớc đang phát triển ởkhu vực Đông Nam Á thì con sốnày
lại cao hơn rất nhiều lên đến 1000 phụnữ. Bện cạnh đó nghiên cứu cũng chỉra rằng
không chỉtỉlệphụnữtửvong vì các vấn đềliên quan đến sức khỏe sinh sản cao mà
những phụnữhiệnvẫn đang chung sống cùng bệnh tật đƣờng sinh sản cũng là rất
lớn với con sốlà 25.000 phụnữtrên 100.000 thậm chí có trƣờng hợp đã thăm
khám nhƣng chƣa khỏivà có cảnhững trƣờng hợp không có sựcan thiệp vềy tếdo
nhiều yếu tốtác động khác nhau [19, tr 42].Mỗi ngày, trên khắp thếgiới cuộc sống


của ngƣời phụnữluôn phải đối mặt với rất khó khăn và yếu tốtác động đến hành vi
chăm sóc sức khỏe sinh sản của bản thân. Vấn đềtrên đã đƣợc đềcập đến rất nhiều
trong các nghiên cứu khoa học hay nhƣ hiện nay nó còn đƣợc nâng cao thành một
môn học trong trƣờng đại học vơi tên gọi hết sức cụthểvà khoa học là “Nhân học
y tế”. Không nhƣ những y, bác sĩ, các nhà nhân học y tếkhông nhất thiết phải hiểu
các kiến thức vềy khoa, mà đƣợc đào tạđểbiết cách áp dụng những kiến thức khoa
học xã hội vào việc giúp hiểu rõ hơn vềcác vấn đềsức khỏe của mọi ngƣời cũng
nhƣ cách thức mọi ngƣời tiếp nhận và xửtrí các vấn đềsức khỏe của họ. Nhân học
y tếlà một chuyên ngành nghiên cứu đến cảhai khía cạnh sinh học và vănhóa –xã
hội của hành vi, nhận thức của loài ngƣời, đặc biệt nghiên cứu những cách thức
mà hai khía cạnh này tƣơng tác với nhau trong suốt quá trình giải quyết các vấn
đềliên quan đến nhận thức, hành vi của
con ngƣời. Trong đó nó cũng nhấn mạnh đến nhữngtác động gây ảnh hƣởng đến
những thói quen của con ngƣời đặc biệt là ngƣời phụnữtrong việc chăm sóc sức
khỏe sinh sản của bản thân nhƣ tập tục sinh hoạt, kiến thức của bản thân và ngƣời
trong gia đình,...[2, tr 135].Chỉ số nhân khẩu học và chỉ số kinh tếđã nói lên thành
công của Việt Nam, tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa nhanh chóng và mức độ
di chuyển dân cƣ ra thành thị tăng đang dần làm thay đổi cơ cấu và chức năng của
xã hội. Hậu quả là hiện đang tồn tại sự khác biệt lớn giữa tình trạng sức khỏe của
bà mẹ ở nông thôn và thành thị, với 44% phụ nữ nông thôn vẫn sinh con tại nhà,

thông đã nỗ lực nâng cao nhận thức của ngƣời dân nhƣng rõ ràng họ chƣa thực sự
thay đổi đƣợc hành vi của mình. Nhiều bạn gái trẻ thiếu kiến thức cơ bản về tình
dục hoặc không tin tƣởng vào việc dùng bao cao su hay không yêu cầu bạn tình sử
dụng bao cao su. Hơn nữa, sự nhìn nhận một cách tiêu cực về nạo phá thai đã gây
nên tình trạng nhiều phụ nữ tiến hành nạo phá thai ở nơi bí mật và bất hợp pháp. Ở
Việt Nam mỗi tuần có 1 phụ nữ tử vong vì nạo phá thai không an toàn[19, tr
83].Quỹ dân số liên hợp quốc (UNFPA) đã nêu ra các vấn đề chủ yếu sau trong
lĩnhvực sức khỏe sinh sản ở Việt Nam:Tỷ lệ tránh thai phổ biến cao (75%), trong
đó đa số chị em phụ nữ sử dụng vòng tránh thai (IUDs) và các biện pháp tránh thai
tự nhiên. Việc tiếp cận các biện pháp tránh thai hiện đại còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ
sử dụng biệnpháp tránh thai hiện đại là 52,6%[30, tr 39]. Không phải tất cả ngƣời
dân Việt Nam đều dễ dàng tiếp cận các thông tin và dịch vụ về sức khỏe sinh sản.
Vị thành niên, thanh niên chƣa lập gia đình, và những ngƣời dân sống ở vùng sâu,
vùng xa, đặc biệt đối mặt với những khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận các
thông tin và dịch vụ sức khỏe sinh sản có chất lƣợng.Tỷ lệ phụ nữ ở độ tuổi sinh
sản mắc các bệnh nhiễm khuẩn đƣờng sinh sản (20%) và nhiễm khuẩn lây truyền
qua đƣờng tình dục cao (25%). Nhữngđóng góp của y tế công đã góp phần làm
giảm tỷ lệ tử vong mẹ và con, tuy nhiên tử vong mẹ vẫn còn ở mức cao
(29,9/1000), đặc biệt ở miền trung cao nguyên và các tỉnh miền núi phía bắc. [30,
tr 78]Trong cuốn “Nhân học -một quan điểm vềtình trạng nhân sinh” của Amily
A. và Robert H. đã luôn có một cách nhìn hết sức bao quát vềcon ngƣời từxƣa đến
nay cảvềthểchất và những đòi hỏi vềtinh thần trong cuộc sống. Con ngƣời luôn
có những nhu cầu thiết yếu vềchăm sóc sức khỏe cho bản thân và những ngƣời
xung quanh nhằm


nâng cao chất lƣợng cuộc sống của chính bản thân họ. Trong nghiên cứu và đánh
giá của cảhai tác giảđã cùng nhận thấy yếu tốxã hội hay văn hóa tập tục của
con ngƣời trong môi trƣờng sống luôn có sựảnh hƣởng không hềnhỏđến mức
độnhận thứchay các hành vi sinh hoạt thƣờng ngày của ngƣời dân. Chính vì vậy ta

tâm đúng mức vì hiện nay vẫn còn rất trƣờng hợp đã có điều trịvềy tếnhƣng
vẫn phải sống chung với bệnh tật cảđời hoặc là đểlại những hậu quảnghiêm
trọng cảvềsức khỏe và tâm lí cho ngƣời phụnữ. Theo các báo cáo của Tổng cục


dân số-kếhoạch hóa gia đình(Bộy tế), trong quý I năm 2010 vềtình trạng sức khỏe
sinh sản của phụnữcủa 53 tỉnh thành và báo cáo của 57 bệnh viện , có 286.380
trƣờng hợp phụnữnhập viện trong đó có 125.340 trƣờng hợp bệnh nhân có liên
quan đến vấn đềsức khỏe sinh sản. Các trƣờng hợp này có rất nhiều nguyên nhân
khác nhau: Các bệnh phụkhoa, nạo phá thai, áp dụng các biện pháp tránh thai, tai
biến sản khoa, các bất thƣờng trong quá trình thai sản. Đểkhắc phục thực trạng
trên, Bộy tếđã cho xây dựng hệthống giám sat vềmắc và tửvong do các vấn đềliên
quan đến sức khỏe sinh sản đƣợc thiết lập trên phạm vi toàn quốc[33, tr 25].Hiện
nay Bộy tếđã có rất nhiều hỗtrợtrong việc giảm thiểu tỉlệtửvong hay mắc bệnh liên
quan đến sức khỏe sinh sản của phụnữnhƣviệc liên tục ban hành các chƣơng trình
quốc gia vềnâng cao sức khỏe sinh sản của phụnữvới thời gian 10 năm/
chƣơng trình. Bổsung, cung cấp các thiết bịy tếđến tận tuyến y tếđịa phƣơng (364
máy siêu âm/ năm, 120 xe chuyên dụng, 150 máy nội soi), khuyến khích và bổsung
đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn vềtuyến y tếđịa phƣơng [28, tr 65].Bên cạnhđó
Bộy tếcũng đã chủđộng phối hợp với các địa phƣơng tổchức tập huấn phổbiến
kiến thức, kĩ năng xửtrí với các ván đềliến quan đến sức khỏe sinh sản của
phụnữcho các cán bộtrực tiếp liên tại các tuyến cơ sở, tập trung bồi dƣỡng đội ngũ
cán bộy tế, lồng ghép trong chƣơng trình xây dựng chuẩn quốc gia vềy tếhuyện, xã
và xây dựng nông thôn mới. Bên cạnh đó công tác truyền thông , giáo dục sức
khỏe sinh sản đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục thông qua các phƣơng tiện
thông tin đại chúng , khẩu hiệu, tờrơi, tài liệu cầm tay, cộng tác viên tuyên
truyền tại địa phƣơng, xây dựng các mô hình mẫu an toàn, khỏe mạnh, hạnh phúc
nhằm giảm thiểu đến mức thấp nhất các nguy cơ mắc và tửvong do bệnh liên quan
đến sức khỏe sinh sản ởphụnữ.
Mặc dù đã đạt đƣợc những kết quảnhất định, song công tác tuyên truyền nâng cao

các đối tƣợng, đặc biệt chú ý các vùng khó khăn và các đối tƣợng chính sách.Dự
phòng có hiệu quả để làm giảm số mắc mới và điều trị tốt các bệnh nhiễm khuẩn
đƣờng sinh sản và các bệnh lây qua đƣờng tình dục, kể cả HIV/AIDS và tình trạng
vô sinh.Cải thiện tình hình sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục của vị thành niên,
thông qua việc giáo dục, tƣ vấn và cung cấp các dịch vụ CSSKSS phù hợp với lứa
tuổi.Tăng cƣờng truyền thông nâng cao sự hiểu biết của phụ nữ và nam giới về
giới tính và tình dục để thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm sinh sản, xây dựng
quan hệ tình dục an toàn, có trách nhiệm, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau nhằm
nâng cao sức khoẻ sinh sản và chất lƣợng cuộc sống [3].Để tăng cƣờng quản lí và
phong chống các bệnh liên quan đến sức khỏe sinh sản của phụ nữ, ngành y tế đã
phối hợp với chính quyền địa phƣơng các tỉnh thành phố trên cả nƣớc thực hiện
các chƣơng trình tuyên truyền nâng cao kiến thức chăm sóc sức khỏe sinh sản với
rất nhiều nội dung khác nhau nhƣ: các bệnh lây qua đƣờng tình dục, quá trình thai
sản và cách chăm sóc, biện pháp phòng tránh thai an toàn,... Trên cả nƣớc đã diễn
458 chƣơng trình tuyên truyền, có 657.480 áp phích đƣợc sử dụng tuyên truyền,
595.382 cuốn cẩm nang kiến sức sức khỏe sinh sản của phụ nữ đã đƣợc phát đi,
gần 120 tin bài truyền hình, truyền thanh đƣợc đăng tải nhằm góp phần nâng cao
nhận thức về chăm sóc sức khỏe sinhsản của phụ nữ trên cả nƣớc đặc biệt là các
chị em tại các địa phƣơng nông thôn, dân tộc[45]. Đây là những bƣớc tiến không
nhỏ thể hiện sự quan tâm và chú trọng vào công tác nâng cao sức khỏe cho chị em
phụ nữ hiện nay của các cấp chính quyền từ Trung ƣơng đến địa phƣơng nhằm


giảm thiểu những nguy cơ tử vong và mắc các bệnh về sức khỏe sinh sản của phụ
nữ, góp phần không nhỏ giải quyết những mặt hạn chế và bất lợi trong việc làm thế
nào để nâng cao nhận thức của phụ nữ về chắm sóc sức khỏe sinh sản. Nghiên cứu
tại tỉnh Thái Nguyên cho thấy, tỉnh cũng là một đơn vị đã chú trọng tới công tác
truyền thông nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữtrực
tiếp tại cộng đồng. Hội phụ nữ tỉnh cũng đã tổ chức 06 buổi truyền thông trực tiếp
với cộng đồng về công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ tại 4 địa bàn cơ

thông dƣới góc độphát triển cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản cho phụnữtại địa bàn thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh
Phú Thọ.Trong tất cảnhững nghiên cứu trƣớc đấy vềtruyền thông nâng cao nhận
thức chăm sóc sức khỏe sinh sảncủa phụnữvẫn chỉlà những nghiên cứu vềcác
côngtác tuyên truyền đơn thuần do một hoặc hai tổchức đoàn thểxã hội tại địa
phƣơng nhận thấy sựcần thiết của vấn đềnên thực hiện mà chƣa biết cách kết nối
và tận dụng những nguồn lực cộng đồng sẵn có tại địa phƣơng nhƣ tài lực, vật
lực và nhân lực sẵn cótại địa phƣơng đểmởrộng phạm vi và chất lƣợng của công
tác truyền thông. Các công tác truyền thông trƣớc đây chủyếu mới chỉlà truyền
thông một chiều mà chƣa có đƣợc kết quảphản hồi của ngƣời nhận thông tin
truyền thông, từđó chƣa nắm bắt đƣợc nhu cầu thiết thực, hiệu quảcủa các thông
tin truyền thông. Từnhững hạn chếđó nghiên cứucủa chúng tôi sẽđềcập đến một
khía cạnh khác hơn đó là đánh giá và tận dụng các nguồn lực truyền thông tại
cộng đồngvà từđó kiến tạo một mô hìnhtruyền thông dựa vào cộng đồng nhằm
nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtại thịtrấn Phong Châu,
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.3.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên
cứu3.1.Ý nghĩa khoa họcTrong đềtài này chúng tôi cốgắng vận dụng những lí
thuyết của mộtvài ngành khoa học gần gũi nhƣ: Xã hội học, tâm lí học xã hộivà
một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồngđểtìm hiểu, phân tích nguyên nhân và
đánh giá thực trạng vềnhận thức, đánh giá nhu cầu và nguồn lực truyền thông
đểtừđó kiến tạo một mô hình can thiệp nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản của phụnữtại địa bàn thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh
Phú Thọ.3.2.Ý nghĩa thực tiễnTrong quá trình thực hiện, đềtài nghiên cứu “Truyền
thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chămsóc sức khỏe sinh sản
của phụnữtại thịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ”đã thực
sựmang lại một sốmặt ƣu điểm trong cuộc sống
Nâng cao nhận thức của chính bản ngƣời phụnữđịa phƣơng vềtầm quan trọng
của việc chăm sóc sức khỏe sinh sảntừđó cũng có nhƣng tác động không nhỏđến
nhận thức của gia đình và cộng đồng địa phƣơng trong các vấn đềvềsức khỏe của
ngƣời phụnữ, đặc biệt là phụnữnông thôn.Từnhững sốliệu và kết quảđiều tra

dựa vào cộng đồngNghiên cứu kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng
đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnƣ.5.Mục đích
nghiên cứu và nhiệm vụnghiên cứu5.1.Mục đích nghiên cứuNghiên cứu nhằm tìm
hiểu thực trạng nhận thức của phụnữtại địa bàn thịtrấn Phong Châu, huyện Phù
Ninh, tỉnh Phú Thọvềchăm sóc sức khỏe sinh sản, nguyên nhân, nhu cầu nâng
cao, nguồn lực của cộng đồng trong truyền thông,... Trên cơ sởđó kiến tạo một
kếhoạch, mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức
chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ.5.2.Nhiệm vụnghiên cứuXây dựng cơ sởlí
luận truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe
sinh sản của phụnữPhân tích thực trạng nhận thức của phụnữđịa phƣơng vềchăm
sóc sức khỏe sinh sảnPhân tích những nguyên nhân của thực trạng nhận thức
trênĐánh giá nhu cầu nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của
phụnữđịa phƣơng
Đánh giá nguồn lực của cộng đồng trong lĩnh vực truyền thôngXây dựng một
kếhoạch truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thƣc chăm sóc sức


khỏe sinh sản của phụnữtại thịtrân Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọ.6.Câu hỏi nghiên cứuThực trạng và nguyên nhân nhận thức chăm sóc sức
khỏe sinh sản của phụnữhiện nay tại địa phƣơng nhƣ thếnào?Nhu cầu tìm hiểu và
nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữnhƣ thếnào?Cộng đồng
có những nguồn lực truyền thông gì đểphục vụcho việc nâng cao nhận thức
chăm sóc khỏe sinh sản của phụnữ?Làm thếnào đểkết nối đƣợc nguồn lực truyền
thông dựa vào cộng đồng?7.Giảthuyết nghiên cứuHiện nay thực trạng nhận thức
của phụnữtại thịtrấn Phong Châu vềchăm sóc sức khỏe còn ởmức thấp (Ví dụnhƣ
trong nội dung đánh giá kiến thức vềthai sản của chịem tại địa phƣơng thì có đến
79,3% ngƣời không biết thời gian dễthụthai trong chu kì kinh nguyệt, 85,7%
ngƣời không có kiến thức đúng vềcác dấu hiệu có thai sớm,... )Nguyên nhân nhận
thức vềchăm sóc sức khỏe sinh sản của chịem phụnữcòn thấp do: trình độdân
trí chƣa đồng đều, địa hình đi lại khó tiếp cận thông tin và các dịch vụy tế, ngƣời

nghiên cứu của đềtài. Tài liệu thu thập đƣợc từcác báo cáo tổng kết năm của
Thịtrấn Phong Châu, Uỷban Nhân dân huyện Phù Ninh phản ánh tình hình kinh tếxã hội của huyện. Ngoài ra, còn sửdụng một sốtài liệu của Trung tâm Y tếhuyện;
sốliệu thống kê của Hội liên hiệp phụnữhuyện trong 03 năm trởlại đây và sửdụng
một sốtài liệu liên quan tới sức khỏe sinh sản của phụnữnhƣ Tạp chí xã hội học,
Tạp chí dân sốvà phát triển, tài liệu chuyên ngành dân số, Y tế. Các thông tin trong
các tài liệu này đƣợc xửlý, phân tích và nêu ra nhằm giải quyết các vấn
đềtrong giảthuyết nghiên cứu. Những nghiên cứu vềtruyền thông nâng cao nhận
thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữđƣợc sửdụng ởphần đánh giá trong các
chƣơng hai và ba của luận văn và đính kèm ởphần phụlục.8.2.2.Phương pháp quan
sátPhƣơng pháp này đƣợc sửdụng đểtìm hiểu địa bàn thông qua tri giác trực tiếp.
Chúng tôi tiến hành quan sát trong cộng đồng những tập tục sinh hoạt hàng
ngày của ngƣời dân đặc biệt là ngƣời phụnữ, những buổi sinh hoạt cộng đồng của
phụnữ. Những quan sát này không chỉcung cấp cho chúng tôi một thực trạng rõ nét
thói quen, trình độnhận thức của ngƣời phụnữđịa phƣơng trong việc tựchăm sóc
sức khỏe sinh sản của bản thân mà còn cho chung tôi thấy đƣợc những sinh hoạt
cộng đồng của chịem đƣợc tổchức nhƣ thếnào, các mặt hậu cần và chi phí do
những đối tƣợng nào chuẩn bị, thành phần nào là ngƣời chủtrì và có tiếng nói đối
với chịem. Từtất cảnhững hình ảnh chúng tôi quan sát đƣợc giúp chúng tôi xác
định đƣợc phƣơng thức và những điểm tích cực, hạn chếtrong công tác truyền
thông và sinh hoạt cộng đồng tại địa phƣơng. Bên cạnh đó chúng tôi cũng xác
định đƣợc những thành viên có khảnăng tham gia làm nòng cốt trong công tác
truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm nâng cao nhận thƣc chăm sóc sức khỏe sinh
sản của phựnữtại địa phƣơng. Đây là điều rất cần thiết cho việc đánh giá các
nguồn lực truyền thông và kiến tạo một mô hình truyền thông dựa vào cộng đồng
nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữtạchƣơng ba của
luận văn.8.2.3.Phương pháp phỏng vấn sâuTrong quá trình nghiên cứu chúng tôi
tiến hành phỏng vấn sâu 7 đối tƣợng (10 ngƣời) bao gồm:04 ngƣời là nữgiới
trong độtuổi từ18 tuổi đến 40 tuổi (độtuổisinh sản phổbiến của nữgiới tại địa
phƣơng Gồm: Nữgiớitừ18 tuổi đến 22 tuổi (Độtuổi đủtuổi đƣợc đăng kí kết hôn
hợp pháp)Nữgiớitừ22 tuổi đến 35 tuổi (Độtuổi sinh sản phù hợp và đƣợc

đểkết nối các nguồn lực địa phƣơng.
Thứba:Đánh giá của họvềtính khảdụngcủa các nguồn lực tại cộng đồng đểtừđó có
thểdựa vào xây dựng mô hình và thực hiện truyền thông dựa vào cộng đồng nhằm
nâng cao nhận thức chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụnữ.Những thông tin thu
đƣợc chúng tôi sẽsửdụng trong chƣơng 2 và chƣơng 3 của luận văn.8.2.4.Phương
pháp khảo sát bằng bảng hỏiSửdụng bảng hỏi cầm tay khảo sát 150 phụnữlà ngƣời
dân địa phƣơng Tìm hiểu nhận thức của ngƣời dân vềviệc sựtồn tại và hiệu quảcủa
các biện pháp truyền thông tại cộng đồngTìm hiểu các phƣơng thức truyền thông
đã và đang đƣợc sửdụngNhu cầu và mức độsẵn sàng của ngƣời dân khi tham
giatiến hành truyền thông cộng đồng8.3.Mẫu nghiên cứu8.3.1.Phương pháp chọn
mẫu nghiên cứuChúng tôi chọn mẫu nghiên cứu ngẫu nhiênđơn giảntừdanh sách


nhân khẩu của thịtrấn Phong, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọđểchọn ra 150 ngƣời
(độtuổi từ18 tuổi đến 40 tuổi)Lý do chọđộtuổi của mẫu nghiên cứu:Đây có thểnói
là độtuổi sinh sản phù hợp nhất. 18 tuổi là độtuổi mà nguời con gái Việt Nam đƣợc
pháp luật công nhận khi kết hôn, 22 tuổi là độtuổi mà cảsức khỏe vềmặt tâm lí và
sinh lí đều phát triển phù hợp nhất và đƣợc khuyến khích đây là độtuổi bắt đầu
mang thai tốt nhất, 35 tuổi đến 40 tuổi là độtuổi mà cơ thểngƣời phụnữđã có
những thay dổi nhất định và là độtuổi mà y học không còn khuyến khích sinh
đẻ.8.3.2.Giới thiệu mẫu nghiên cứuQua các nghiên cứu phân tích các sốliệu điều
tra có sẵn của Hội Liên hiệp phụnữthịtrấn Phong Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú
Thọta có thểthống kê các đặc tính của đối tƣợng nghiên cứu tại địa phƣơng nhƣ
sau

Bảng số liệu trên cho chúng ta một cái nhìn khái quát nhất về các đặc điểm về độ
tuổi, nghề nghiệp,số con và trình độ học vấn của mẫu nghiên cứu. Qua phân tích số
liệu trên cho ta thấy sô lƣợng ngƣời trong độ tuổi sinh đẻ tốt nhất (22 –30 tuổi) là
rất lớn, chiếm 31,3%; bên cạnh đó thì số lƣợng thanh niên bắt đầu bƣớc vào độ
tuổi kết hôn (18 –22 tuổi)chiếm tỉ lệ nhiều nhất 42,6%. Từ những số liệu trên cho

nhau đểtăng sựhiểu biết lẫn nhau.Trong đềtài nghiên cứu này nhân tốcon ngƣời
trong truyền thông là vô cùng cần thiết. Đây là yếu tốquan trọng và có thểnói là
nhân tốchính giúp quá trình truyền thông đƣợc diễn ra thuận lợi và hoàn thiện
hƣớng đến kết quảtích cực nhất.-Nguồn lực truyền thôngPhát triển cộng đồng dựa
vào tài sản và nguồn lực trong cộng đồng là khởi điểm các tài sản và nguồn sức
mạnh hiện có của cộng đồng, đặc biệt là sức mạnh vốn có trong các hội, nhóm
cộng đồng và mạng lƣới xã hội trong cộng đồng. Nguồn lực cộng đồng đƣợc
xem nhƣ là một trong những sựlựa chọn các phƣơng pháp tiếp cận dựa vào nhu
cầu đểphát triển.Vậy nguồn lực truyền thông tham gia vào phát triển cộng đồng đó
là toàn bộnguồn lực vật chất và tinh thần, nhân lực và vật lực tham gia vào quá
trình truyền thông.Với mỗi địa bàn gay địa phƣơng nghiên cứu khác nhau thì
những nguồn lực truyền thông là khác nhau. Tuy nhiên do đại bàn Thịtrấn Phong
Châu, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọlà một thịtrấn có trình độdân trí khá cao, địa


hình không quá phức tạp và có các cơ sởkinh tếkhá ổn định nên nguồn lực truyền
thông tại đây khá dồi dào và thực sựhữu hiệu trong công tác truyền thông đựa vào
cộng đồng nhằm nâng cao nhận thức chăm sóc
sức khỏe sinh sản của phụnữ. Nguồn lực truyền thông tại địa phƣơng trong đềtài
nghiên cứu này đƣợc xác định gồm: Tài lực, vật lực, nhân lực và kiến thức kĩ
năng.Với nguồn lực vềtài chính ởđây đƣợc xác định chính là các nguồn quỹchính
cho phụnữtại địa phƣơng, kèm theo đó là một sốnguồn quỹủng hộcủa các các nhân
hay tập thểcó tấm lòng và ý nghĩ tích cực đóng góp...Với nguồn lực vềvật lực:
Trong việc truyền thông dực vào cộng đồng theo đềtài nghiên cứu thì nguồn vật
lực ởđây không cần quá nhiều, chủyếu cần địa điểm truyền thông và một sốvật
dụng hỗtrợtrong quá trình nói chuyện, chia sẻđểđạt đƣợc hiệu quảcao hơn nữa.Với
nguồn lực vềnhân lực: Đây có thểnói là nguồn lực quan trọng là cần thiết nhất
trong quá trình truyền thông dựa vào cộng đồng của đềtài. Nguồn nhân lực ởđây
đƣợc huy động từchính các chịem phụnữtại địa phƣơng, các cán bộy tế, cũng có
thếlà từnhững ngƣời chồng đã từng có vợốm bệnh vì nhữngvấn đềsức khỏe sinh

007, Viện khoa học xã hội, Bô lao động –thƣơng binh xã hội (2013)10.Hội phụ nữ
tỉnh Vĩnh Phúc (2013), Báo cáo tổng kết công tác tuyên truyền sức khỏe sinh sản
và kế hoạch hóa gia đình cuối năm11.Korten –1987,Xã hội con người và những
biến động theo sự phát triển kinh tế, Nguyễn Đinh Huân dịch, Tạp chí y tế công
cộng (2006)12.Lê Vũ Anh, Phạm Trí Dũng, Quản lí & phòng chống HIV lây qua
đường tình dục cho phụ nữ, Nxb Y học, Hà Nội (2004)13.Lê Vũ Anh, Bùi Thu Hà,
Tăng cường khả năng quản lí các hoạtđộng CSSKSS phụ nữ cho các cán bộ tuyến
huyện, Nxb lao động –Hà Nội (2005)14.GS.TS Lê Thị Quý, Giáo trình XH học
giới, Nxb Giáo dục VN(2009)
15.Lê Hà Thu, Thiếu thốn trong điều trị và chăm sóc sức khỏe phụ nữ vùng
cao,Tạp chí y tế công cộng (2014)16.Liên Hợp Quốc (1982), Công ước CEDAW –
Công ước về quyền bình đẳng thức sự cho phụ nữ, NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội)17.Malcome Payne (2007), Modern social work theories, palgrave,
London, Bản dịch Tiếng Việt, TS Trần Văn Kham(Lí thuyết công tác xã hội hiện
đại)18.Nghiên cứu y học và xã hội của Uganda (2008), Những khó khăn trong tiếp
cận tiến bộ khoa học về chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam,Tổ chức y tế thế giới
19.Nghiên cứu y tế công cộng của Bồ Đào Nha (2006), Thực trạng các baajnh lấy
truyền qua đường tình dục ở các nước Đông Nam Á, Tổ chức y tế thế
giới20.Nguyễn Thu Hồng, Những tác động và nguyên nhân ảnh hưởng đến sức
khỏe sinh sản phụ nữ giai đoạn 2010 –2015,Tạp chí y tế công cộng, Hà Nội
(2015)21.Nguyễn Văn Dững (2006), Truyền thông, lý thuyết và kĩ năng cơ
bảnNXB Líluận và chính trị, Hà Nội)22.Nguyễn Thị Oanh, Phát triển cộng đồng,
Đại học mở bán công TP.HCM(2006)23.Nguyễn Thị Oanh (2005), Tâm lí truyền
thông và giao tiếp, Đại học mở bán công TP.HCM)24.Nguyễn Thị Oanh, Cộng
đồng và những cách thức tiếp cận, Đại học mở bán công thành phố Hồ Chí Minh
(2009)25.Nguyễn Duy Nhiên, Nhập môn công tác xã hội, NXB Lao động
(2008)26.Phạm Văn Quyết, Nguyễn Qúy Thanh (2001), Phương pháp nghiên cứu
xã hội học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)27.Phòng dân số -kế hoạch hóa gia
đình huyện Phù Ninh(2012), Báo cáo thực trạng CSSKSS cho phụ nữ huyện Phù
Ninh28.Sở y tế tỉnh Phú Thọ (2009), Chiến lược phát triển dịch vụ chăm sóc sức

sở,Hà Nội (2012)46.Uỷ ban nhân dân huyện Phù Ninh (2012),Phù Ninh thực hiện
kế hoạch phát triển giai đoạn 2011 –202047.Uỷ ban nhân dân thị trấn Phong Châu,
huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ (2015), Báo cáo tổng hợp tình hình kinh tế và xã
hộicuối nămthị trấn Phong Châu




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status