LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Trịnh Thị Thanh Hằng
i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lời biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Phòng Sau
đại học, Ban chủ nhiệm, các thầy, cô giáo Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo, cùng các em học sinh
các trường THPT huyện Hoài Đức - Hà Nội đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ tác
giả trong quá trình làm luận văn này.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Viết
Vượng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn.
Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, người thân,
bạn bè, đồng nghiệp đã động viên chia sẻ cùng tác giả.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả
Trịnh Thị Thanh Hằng
ii
GD
: Giáo dục
GD&ĐT
: Giáo dục và Đào tạo
GDHN
: Giáo dục hướng nghiệp
GDPT
: Giáo dục phổ thông
GV
: Giáo viên
GVCN
: Giáo viên chủ nhiệm
HĐGD
: Hoạt động giáo dục
HĐGDHN
TBDH
: Thiết bị dạy học
THCS
: Trung học cơ sở
THPT
: Trung học phổ thông
iii
MỤC LỤC
Trang
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp..........................................................................94
3.4. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp...................................95
Kết luận chương 3.........................................................................100
1. Kết luận..................................................................................................................101
2. Khuyến nghị...........................................................................................................102
iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp..........................................................................94
3.4. Khảo sát sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp...................................95
nghiên cứu về năng lực nghề nghiệp, đã đề xuất sử dụng phương pháp trắc
nghiệm (TEST) với mục đích giúp học sinh chọn nghề.
Đầu thế kỷ XX ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở
dịch vụ hướng nghiệp. Đặc biệt vào năm 1908 Pason F. giảng viên trường
Đại học Tổng hợp Garvared (Mỹ) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ
“Hướng nghiệp” và đã thành lập ở Boston Hội đồng nghề nghiệp giúp cho
người lao động chọn được nghề phù hợp [14].
Năm 1897 ở Nga ra mắt cuốn sách về hướng nghiệp: “Lựa chọn khoa
qua chương trình đại học tổng hợp” của Kpeev B. F. trong đó nêu rõ ý nghĩa
của việc chọn nghề trước khi quyết định dự thi vào trường đại học.
Trong những năm 1960 - 1970 ở Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức)
các tác giả Rolf Oberliesen, Helmut Keim, Michael Schumann, Gehart,
Duismamn đã có những công trình nghiên cứu về: “phương thức tổ chức cho
học sinh phổ thông thực hành ở các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh
doanh dịch vụ” [14].
Cũng vào thời gian này ở Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) các nhà
khoa học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Giáo dục, như: Heiz Frankiewiez,
1
Bernd Rothe, Ulrich Viets, Germer B., Jaritr K., Marschneider D. đã có các
công trình nghiên cứu đề cập đến cơ sở khoa học của việc tổ chức hoạt động
dạy nghề cho HS. Các tác giả đưa ra phương thức: “phối hợp chặt chẽ giữa
trung tâm giáo dục KTTH và các trường phổ thông trong việc lập kế hoạch
thực hành cho HSPT” [14, tr. 197], đã phân tích nội dung, phương pháp,
hình thức tổ chức lao động nghề nghiệp cho học sinh.
Allan Walker người Australia trong công trình: “Một số vấn đề quản
lý giáo dục ở Australia” đã nhận thấy: “Nhà trường không chỉ là nơi dạy lý
thuyết mà phải là nơi hình thành cho học sinh kỹ năng lao động” [24], tác
giả đã trình bày vấn đề quản lý hoạt động dạy nghề phổ thông cho học sinh
thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [20] đã xây dựng luận chứng
phát triển hệ thống hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước và đề xuất những hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ
sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong hướng nghiệp - dạy nghề cho học sinh
phổ thông.
Tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền trong công
trình: “Hoạt động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong trường THPT” [21]
đã đi sâu phân tích các cơ sở lý luận của GDHN, việc tổ chức các hoạt
động GDHN và giảng dạy kỹ thuật trong nhà trường THPT và xây dựng
hệ thống nguyên tắc, phương pháp và những hình thức giáo dục kỹ thuật
trong trường THPT.
Một hướng nghiên cứu khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn
Viết Sự cùng cộng sự thực hiện về: Động cơ chọn nghề; Hứng thú chọn
nghề; Khả năng thích ứng nghề của học sinh học nghề; Tuổi trẻ và nghề
nghiệp [1]; Đặc điểm tâm sinh lý người lao động của một số nghề dùng làm
tài liệu hướng nghiệp cho học sinh các trường phổ thông.
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “GDHN vừa là một vấn đề cơ bản,
vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông”, “GDHN phải được
quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường. Đó không chỉ là nhiệm vụ
3
của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các
cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội” [3, tr. 35].
Tác giả Nguyễn Như Ất đã nghiên cứu: “Vấn đề phương pháp luận
xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam” [3], xác định
lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN.
Các tác giả Nguyễn Đức Trí và Nguyễn Quang Huỳnh đã đề cập một
loạt vấn đề bức xúc của GDHN, vấn đề phân luồng học sinh phổ thông sau
trung học, sự cần thiết phải có GDHN, cơ sở tâm lý học của GDHN. Các tác
chất lượng, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, khoa học và
công nghệ.
Nước ta đang bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa, trong bối cảnh khoa học - công nghệ thế giới phát triển nhanh như vũ
bão. Sự phát triển của kinh tế - xã hội đang đặt ra những yêu cầu mới cho
nền giáo dục Việt Nam phải đào tạo một lớp người có khả năng làm chủ
được khoa học – kỹ thuật hiện đại, do vậy phải hướng vào “phát triển năng
lực cho người lao động”, nhằm “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao”
cho đất nước.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đẩy mạnh phân
luồng sau trung học cơ sở, định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông”,
“Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có kiến thức
phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở,
trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học
sau phổ thông có chất lượng”[24].
Tuy vậy, hiện nay vấn đề giáo dục hướng nghiệp chưa được các
trường THPT quan tâm đúng mức, hoặc nếu có cũng chỉ dừng lại ở mức
triển khai, phổ biến tuyên truyền bằng văn bản, chưa đi sâu nhiều vào tìm
hiểu tình hình thực tế, nhu cầu của xã hội để đưa ra các biện pháp cụ thể
trong việc hướng nghiệp cho học sinh. Thực tế này xuất phát từ nhiều
5
nguyên nhân: nhận thức của cán bộ quản lý các cấp và giáo viên về giáo dục
hướng nghiệp còn hạn chế, học sinh chưa được chuẩn bị chu đáo để lựa chọn
nghề nghiệp... Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tỉ lệ học sinh sau tốt
nghiệp THPT không xác định được năng lực cá nhân để học tiếp trung cấp
chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học hay trực tiếp đi vào cuộc sống dẫn đến hậu
nghiệp cho học sinh THPT Huyện Hoài Đức – Hà Nội theo định hướng
đổi mới giáo dục” làm luân văn cao học của mình.
3. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng GDHN cho học
sinh ở các trường THPT, luận văn có mục đích đề xuất các biện pháp GDHN
cho học sinh các trường THPT trên địa bàn huyện Hoài Đức – Hà Nội theo
định hướng đổi mới giáo dục.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động GDHN cho học sinh ở các trường THPT theo định hướng
đổi mới giáo dục.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDHN cho học sinh các trường THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục.
5. Giới hạn nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động GDHN cho học sinh THPT ở 4
trường: Trường THPT Hoài Đức A, Trường THPT Hoài Đức B, Trường
THPT Vạn Xuân, Trường THPT Bình Minh của huyện Hoài Đức – Hà Nội.
Các số liệu được khảo sát trong thời gian 3 năm trở lại đây (năm học
2012 – 2013 đến năm học 2014 – 2015).
6. Giả thuyết khoa học
Việc chọn nghề của đa số học sinh ở các trường THPT huyện Hoài
Đức – Hà Nội chủ yếu dựa vào cảm tính, theo phong trào, do nhà trường
chưa làm tốt công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Nếu các trường
7
THPT trên địa bàn huyện Hoài Đức áp dụng các biện pháp giáo dục theo
định hướng đổi mới giáo dục do tác giả đề xuất một cách đồng bộ, phù hợp
với tình hình thực tế hiện nay thì sẽ nâng cao được hiệu quả của công tác
8.3. Nhóm phương pháp hỗ trợ
Đề tài sử dụng các công thức toán thống kê và phần mềm máy tính để
xử lý số liệu điều tra và kết quả nghiên cứu.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, nội dung luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về GDHN cho học sinh THPT theo định
hướng đổi mới giáo dục
Chương 2: Thực trạng GDHN cho học sinh THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục
Chương 3: Biện pháp GDHN cho học sinh THPT huyện Hoài Đức –
Hà Nội theo định hướng đổi mới giáo dục
9
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1.1. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài
1.1.1. Nghề nghiệp
Theo từ điển tiếng Việt, nghề nghiệp là:“công việc chuyên môn làm
theo sự phân công lao động của xã hội” [30].
Theo ngôn ngữ chung, nghề nghiệp được hình thành bởi hai từ ghép:
nghề và nghiệp. Nghề là khái niệm nói về các dạng (loại, kiểu, hình thức) lao
động, bằng kiến thức và kỹ năng đặc trưng, người lao động có thể làm ra các
loại sản phẩm tương ứng, để phục vụ cho cuộc sống cá nhân và nhu cầu tiêu
dùng xã hội. Nghiệp là khái niệm nói về sự nghiệp, là nền tảng của cuộc
“Hướng nghiệp là những mối quan hệ kinh tế - đào tạo, giúp cho từng
thành viên xã hội phát triển năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực
hoạt động cụ thể phù hợp với sự phân bố lực lượng lao động xã hội” [22].
+ Theo quan điểm giáo dục:
Tác giả Đặng Danh Ánh cho rằng: “Hướng nghiệp là một hệ thống các
biện pháp tác động của nhà nước, nhà trường, gia đình và toàn xã hội nhằm
giúp cho học sinh lựa chọn và xác định được vị trí nghề nghiệp của mình
trong cuộc sống trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường, năng lực, của cá
nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế” [1, tr. 128].
Nhà nghiên cứu Phạm Tất Dong cho rằng: “Hướng nghiệp là một hệ
thống tác động của xã hội về giáo dục, về y học, kinh tế học nhằm giúp thế
hệ trẻ chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở
trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản
xuất trong nền kinh tế quốc dân” [10].
11
Theo các tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Thanh Huyền:
“Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy
sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, giúp
cho các em quen biết với số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra
trường, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp
tương lai” [22].
Hoặc “hướng nghiệp là hoạt động của các tập thể sư phạm, của cán
bộ các cơ quan, xí nghiệp tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề
phù hợp với năng lực, thể chất và tâm lý của cá nhân, với nhu cầu kinh tế
xã hội.” [22].
Phân tích các quan điểm trên cho thấy hướng nghiệp là hoạt động của
nhiều cơ quan, tổ chức phối hợp với nhau, giúp cho học sinh chọn được nghề
1.1.4. Phân luồng học sinh
Phân luồng học sinh là việc xác định các mục tiêu và tổ chức hệ thống
giáo dục đào tạo phù hợp với yêu cầu, cơ cấu của lực lượng lao động xã hội
nhằm đáp ứng chiến lược phát triển cân đối, bền vững của mỗi quốc gia, trên
cơ sở đó định hướng cho sự phát triển giáo dục các ngành các cấp học.
Phân luồng học sinh sau mỗi cấp học là giúp cho các em chủ động lựa
chọn con đường tiếp tục học tập hoặc đi vào lĩnh vực nghề nghiệp nào đó
phù hợp với hoàn cảnh, năng lực, hứng thú của các em và phù hợp với yêu
cầu phát triển kinh tế xã hội.
Phân luồng trong giáo dục là biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục
trên cơ sở thực hiện hướng nghiệp trong giáo dục, tạo điều kiện để học sinh
tốt nghiệp trung học cơ sở, THPT tiếp tục học ở cấp học hoặc trình độ cao
hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực và điều
kiện cụ thể của mỗi các nhân và nhu cầu xã hội góp phần điều tiết ngành
nghề của lực lượng lao động phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước.
13
1.1.5. Biện pháp giáo dục hướng nghiệp
Theo từ điển Tiếng Việt: “biện pháp là cách làm, cách giải quyết một
vấn đề cụ thể”[30]. Trong lĩnh vực giáo dục, biện pháp là cách thức tiến
hành một hoạt động giáo dục, là yếu tố hợp thành của phương pháp giáo dục
và đồng thời phụ thuộc vào phương pháp và mục tiêu giáo dục.
Mỗi phương pháp giáo dục có thể bao gồm nhiều biện pháp giáo dục.
Biện pháp giáo dục bao hàm hai tầng bậc: biện pháp lớn là cách giải quyết
các vấn đề có tính khái quát, phạm vi rộng (vĩ mô); biện pháp nhỏ nằm trong
biện pháp lớn, là cách giải quyết, cách làm cụ thể (vi mô). Nhiều biện pháp
khác nhau nhưng cùng loại và để giải quyết một vấn đề chung thường được
gọi là nhóm biện pháp.
Ở các em đã hình thành hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng
chọn nghề cho tương lai. Tuy nhiên, không ít các em chỉ tích cực đối với các
môn học mà các em cho là quan trọng, có ý nghĩa đối với nghề đã chọn và
sao nhãng môn học khác hoặc chỉ cần học ở mức trung bình. Cũng có một số
học sinh tự ti cho rằng, mình không thể vào học đại học được nên chỉ cần
học đạt yêu cầu là đủ.
Ở lứa tuổi THPT, học sinh có nét tâm lí đặc biệt đó là thường băn
khoăn suy nghĩ xác định phương hướng cho tương lai. Các em hay tự hỏi:
“mình sẽ làm gì ?”, “mình là người như thế nào ?”. Một vấn đề quan trọng
của học sinh THPT là việc chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân mà
trước hết là chọn nghề.
Nhiều em đã biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lí, khả năng
của bản thân với yêu cầu của nghề nghiệp. Tuy nhiên, một bộ phận học sinh
còn định hướng chưa đúng vào học ở trường đại học. Xu hướng nghề
nghiệp có tác dụng quan trọng trong việc điều chỉnh, thúc đẩy các hoạt
động của các em.
Nghề nghiệp tương lai chi phối đối với hứng thú môn học. Nhận thức
yêu cầu về nghề nghiệp càng cụ thể đầy đủ, sâu sắc bao nhiêu thì sự chuẩn bị
15
đối với nghề nghiệp tương lai càng tốt bấy nhiêu. Việc lựa chọn nghề nghiệp
đã trở thành công việc khẩn thiết của các em. Càng cuối cấp học thì sự lựa
chọn càng nổi bật. Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai là phụ thuộc vào
chỗ mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không. Dù có
vô tâm đến đâu thì thanh niên mới lớn cũng phải quan tâm, cũng có suy nghĩ
trong chọn nghề. Các em đã biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý,
khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, dù sự hiểu biết về nghề
nghiệp của các em chưa đầy đủ. Do đó, công tác GDHN đối với học sinh
THPT rất quan trọng.
hương, đất nước.
1.2.3. Nội dung GDHN ở trường THPT
Nội dung GDHN ở trường THPT bao gồm những định hướng nhận
thức, thái độ, hướng dẫn học sinh chọn nghề phù hợp với năng lực sở trường
của cá nhân và đáp ứng yêu cầu của xã hội và yêu cầu nghề nghiệp.
- Định hướng nhận thức về nghề nghiệp: là thành phần cốt lõi mang tính
định hướng cho việc chọn nghề của học sinh. Nhận thức nghề nghiệp bao gồm:
nhận thức về những yêu cầu xã hội đối với nghề nghiệp, nhận thức về thế
giới nghề nghiệp, yêu cầu của nghề về phẩm chất, năng lực đối với người lao
động và những đặc điểm cá nhân phù hợp với nghề dự định lựa chọn để ra
quyết định lựa chọn.
- Định hướng thái độ đối với nghề nghiệp: đặc trưng cơ bản nhất của
thái độ nghề nghiệp được biểu hiện trước hết thông qua động cơ chọn nghề.
Động cơ chọn nghề là những yếu tố tâm lý bên trong thôi thúc, chi phối học
sinh xác định cho mình một nghề nghiệp nào đó. Biểu hiện cao nhất của thái
độ nghề nghiệp là nguyện vọng nghề nghiệp. Đó là sự xác định vị trí xã hội
mà các em mong muốn vươn tới trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của bản
thân. Có thể coi nguyện vọng nghề nghiệp như một hình ảnh của nhu cầu trở
thành hiện thực. Chính nhờ đặc điểm này, mà về bản chất nguyện vọng là
luôn hướng tới tương lai chứ không phải hướng về quá khứ.
17
- Tư vấn, hướng dẫn chọn nghề cho học sinh: dựa trên cơ sở năng lực
học tập của học sinh, hoàn cảnh và cá tính của học sinh, nguyện vọng, xu
hướng nghề nghiệp của học sinh, hệ thống thông tin về thế giới việc làm,
giáo viên tư vấn giúp học sinh lựa chọn nghề cho phù hợp với năng lực cá
nhân, đáp ứng yêu cầu xã hội và yêu cầu phát triển nghề nghiệp sau này.
- Cung cấp thông tin về thị trường lao động, nhu cầu nhân lực cho
Trong Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần
VIII Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, chỉ rõ quan điểm chỉ đạo [23]:
- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên
đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.
- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn
đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội
dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi
mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản
trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng,
xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.
- Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát
triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế
giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải
bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và
cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ
trình, bước đi phù hợp.
- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến
thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi
với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục
gia đình và giáo dục xã hội.
19