SỰ THAM GIA của NGƯỜI dân TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN lý rác THẢI đảm bảo PHÁT TRIỂN bền VỮNG đô THỊ (NGHIÊN cứu TRƯỜNG hợp QUẬN HOÀN KIẾM và HUYỆN ỨNG hòa, hà nội) - Pdf 41

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn
khoa học của PGS.TS Vũ Cao Đàm và PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, đảm bảo tính
khách quan, khoa học, dựa vào kết quả khảo sát thực tế. Các tài liệu tham khảo đều
có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2014

Ký tên

Nguyễn Thị Kim Nhung


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Thảo luận nhóm

TLN

Phỏng vấn sâu

PVS


MỞ ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là quy luật tất yếu trong quá trình phát triển đô thị của mỗi quốc
gia. Dân số đô thị ngày một tăng nhanh, ước tính chiếm tới 70% tổng số dân trên
toàn thế giới vào năm 2050 [Shen và cộng sự, 2011]. Quá trình đô thị hóa diễn ra
mạnh mẽ đã dẫn tới nhiều hệ quả kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục và môi trường
đối với khu vực đô thị nói riêng và tình hình phát triển chung của mỗi quốc gia. Đô
thị hóa một mặt đã đem tới sự phát triển và diện mạo mới cho cơ cấu kinh tế vùng,
các loại hình công việc và dịch vụ mới, thay đổi phương thức sản xuất;mặt khác,
cũng tạo ra nhiều vấn đề như thất nghiệp hay tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” trong
các khu đô thị hiện nay. Về phương diện xã hội, đô thị hóa đã tạo ra một số những
thay đổi liên quan đến các vấn đề như: cơ sở hạ tầng thiếu thốn, tắc nghẽn giao
thông đô thị, thiếu việc làm cho người lao động, vấn đề nhà ở và các tiện nghi vệ

4


sinh, bất bình đẳng trong xã hội đô thị, các tệ nạn xã hội, khoảng cách giữa nông
thôn-đô thị [Trịnh Duy Luân, 2005, tr. 81-82]. Đối với môi trường đô thị, quá trình
đô thị hóa đã dẫn tới ô nhiễm không khí, đất, nước, tiếng ồn, hay nhiều nhà cao
tầng mọc lên thay cho công viên và cây xanh. Một trong những vấn đề của môi
trường đô thị dưới tác động của đô thị hóa là quá trình quản lý rác thải đô thị còn
chưa hiệu quả và thiếu tính bền vững.
Hoạt động quản lý rác thải là một quá trình liên tục, từ phân loại rác thải tại
nguồn, thu gom, tập kết, vận chuyển đến quá trình xử lý, tái chế và tái sử dụng rác.
Hoạt động này có thể được xem xét ở các chiều cạnh như: (1) chiều cạnh các bên
liên quan, bao gồm: chính quyền địa phương, tổ chức phi chính phủ, người sử dụng
dịch vụ, khu vực tư nhân phi chính thức, khu vực tư nhân chính thức và các tổ chức
quyên góp, hỗ trợ; (2) chiều cạnh các nhân tố của hệ thống quản lý rác thải gồm: sự

và ý thức tham gia của cộng đồng [Nguyen Phuoc Dan&Nguyen Trung Viet, 2009],
[Nguyen Phuc Thanh cùng cộng sự, 2010]. Trước thực tế này, để giảm thiểu lượng rác
thải trên địa bàn thành phố, bên cạnh những giải pháp kỹ thuật, công nghệ xử lý, cần có
những giải pháp mang tính xã hội, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của người dân và các
bên liên quan trong hoạt động quản lý rác thải. Bởi lẽ, thái độ và hành vi cũng như cách
ứng xử của người dân với môi trường sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
môi trường sống của chính họ và tính bền vững của môi trường tự nhiên. Những hành vi
và cách ứng xử của người dân đối với hoạt động quản lý rác thải chính là biểu hiện cho
sự tham gia từ phía cộng đồng. Vì thế, tìm hiểu sự tham gia của cộng đồng chính là tìm
hiểu các hành vi và cách ứng xử của cộng đồng đối với các quá trình phân loại, thu gom
đến vận chuyển và xử lý rác thải. Các giải pháp tiếp cận từ dưới lên trên (bottom-up) sẽ
mang tính bền vững và lâu dài hơn, đồng thời cũng là nhằm thực hiện mục tiêu dân chủ
và phát triển bền vững, trong đó đề cao quyền lực công dân, đảm bảo cho các tầng lớp
dân cư trong xã hội có tiếng nói bình đẳng như nhau trong quá trình xây dựng và thực
thi các quyết định có liên quan trực tiếp đến cuộc sống của họ.
Với những lý do trên đây, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sự tham gia của người
dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị” (nghiên cứu
trường hợp quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, Hà Nội) làm đề tài luận án tiến sĩ của
mình.

6


1.2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trong luận án này, các kết quả nghiên cứu đã phản ánh và góp phần làm
sáng tỏ các chiều cạnh của lý thuyết, từ lý thuyết hành động xã hội nhằm nhận diện
các động cơ và yếu tố chi phối hành vi môi trường của cá nhân, đến lý thuyết cạnh
tranh chức năng môi trường và lý thuyết phát triển bền vững giúp phát hiện các rủi
ro, xung đột tiềm ẩn và thách thức trong quá trình huy động sự tham gia của cộng
đồng trong quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị. Đồng thời, luận án

- Đề xuất những giải pháp thúc đẩy sự tham gia của người dân trong hoạt
động phân loại, thu gom và xử lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát
triển bền vững đô thị
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Người dân

- Nhóm chính quyền

- Nhóm tự quản cấp cơ sở

- Đoàn thể xã hội

- Nhóm công ty, công nhân VSMT

- Người thu mua phế liệu

3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian:
Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8/2008, Hà Nội hiện nay gồm
12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành. Việc tiến hành nghiên cứu toàn bộ các
quận và huyện ngoại thành Hà Nội là một việc làm không khả thi đối với một cá
nhân khi thực hiện một công trình nghiên cứu, do những hạn chế về nguồn lực, vật
lực và tài chính. Vì thế, tác giả lựa chọn nghiên cứu trường hợp. Hai địa bàn
nghiên cứu được tác giả lựa chọn là quận Hoàn Kiếm (đại diện cho khu vưc nội
thành) và huyện Ứng Hòa (đại diện cho khu vực ngoại thành). Quận Hoàn Kiếm là
quận trung tâm của khu vực nội thành, với những đặc trưng về lối sống, văn hóa của
những người dân gốc Hà thành trong các khu phố cổ, bên cạnh những đặc điểm

sự tham gia của nhóm chủ thể thải rác – các hộ gia đình với đại diện là các cá nhân.
Vai trò và sự tham gia của các bên liên quan khác được xem như những yếu tố ảnh
hưởng đến sự tham gia của nhóm trực tiếp thải rác – người dân (hộ gia đình).
4. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
4.1. Câu hỏi nghiên cứu

9


Câu hỏi nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải ở quận Hoàn Kiếm và
huyện Ứng Hòa có những khác biệt gì?
Câu hỏi nghiên cứu 2: Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý
rác thải đô thị được biểu hiện qua những hoạt động nào? Có sự khác biệt về mức độ
thực hiện giữa các nhóm xã hội không? Trong quá trình ra các quyết định về quản
lý rác thải ở khu dân cư, người dân có tham gia hay không? Nếu có thì tham gia ở
mức độ nào?
Câu hỏi nghiên cứu 3: Những yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ tham gia
của người dân trong hoạt động quản lý rác thải?
4.2. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết nghiên cứu 1: Hoạt động quản lý rác thải ở quận Hoàn Kiếm và
huyện Ứng Hòa có sự khác biệt về đặc điểm xã hội của đội thu gom và cách thức
thu gom rác.
Giả thuyết nghiên cứu 2: Người dân đã có biểu hiện tham gia trong các hoạt
động trực tiếp phân loại, thu gom và xử lý rác; và các hoạt động gián tiếp như đóng
phí vệ sinh, tuyên truyền, vận động, kiểm tra, giám sát và ra các quyết định về quản
lý rác thải tại khu dân cư.
- Những người có thành viên trong gia đình tham gia quản lý đoàn thể xã hội
và nhóm tự quản cơ sở có mức độ tham gia cao hơn những người không có thành
viên nào trong gia đình tham gia các tổ chức và quản lý ở cộng đồng. Nữ giới hoạt
động tích cực hơn nam giới và mức độ tham gia của những người lớn tuổi cao hơn

được thực hiện với 3 nhóm đối tượng: người dân, nhóm tự quản cấp cơ sở (tổ
trưởng tổ dân phố/trưởng thôn), cán bộ xã/phường, nhóm công nhân vệ sinh môi
trường/ đội thu gom. Kết quả là tác giả đã tiến hành được 24 phỏng vấn sâu cá
nhân, bao gồm: 12 người dân, 3 cán bộ tự quản cấp cơ sở, 5 cán bộ xã/phường, 3
công nhân VSMT/đội thu gom, 1 người thu mua phế liệu. Mỗi nhóm xã hội có nội
dung khai thác thông tin khác nhau.
(i) Đối với nhóm người dân, tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
phân loại, thu gom và xử lý rác thải của người dân và quá trình ra các quyết định
rác thải tại khu vực sinh sống của người dân.
(ii) Đối với nhóm cán bộ tự quản cấp cơ sở, bên cạnh việc tìm hiểu sự tham
gia của họ trong hoạt động quản lý rác với tư cách là một thành viên của cộng đồng,
11


tác giả còn tìm hiểu quá trình các thành viên trong tổ tự quản vận động người dân
tham gia phân loại, thu gom và xử lý rác thải người dân.
(iii) Đối với nhóm cán bộ xã/phường, tác giả tìm hiểu quá trình ban hành các
quyết định liên quan tới vấn đề rác thải, như thu phí vệ sinh môi trường (đối với
trường hợp huyện Ứng Hòa), vận động người dân tham gia quét dọn vệ sinh hàng
tuần...
(iv) Đối với nhóm công nhân VSMT/đội thu gom, từ góc độ của người cung
cấp dịch vụ thu gom rác thải, tác giả tìm hiểu quá trình thực hiện thu gom rác và
đánh giá của nhóm này về mức độ thực hiện đầy đủ các quy định về thu gom rác
thải của người dân.
(v) Đối với người thu mua phế liệu, tìm hiểu vai trò của người thu mua phế
liệu trong hoạt động phân loại rác thải đô thị hiện nay,và nhận thức của nhóm người
này về thái độ của người dân đô thị đối với nhóm nhập cư khi tham gia quản lý rác
thải đô thị.
5.3. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung được sử dụng nhằm thu thập thêm

Những nguyên nhân khiến cho tính bền vững của dự án không cao. Các giải pháp
nâng cao hiệu quả của dự án, nếu dự án tiếp tục được triển khai và nhân rộng, (ii) Ý
thức của người dân trong phường đối với hoạt động phân loại và thu gom rác thải.
Những yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân trong những hoạt động này,
và (iii) Vai trò của các đoàn thể xã hội, đặc biệt là Hội phụ nữ trong việc tăng
cường, vận động sự tham gia của người dân trong các hoạt động phân loại và thu
gom rác thải, giữ gìn vệ sinh môi trường nói chung.
Đối với phường Hàng Mã, tác giả thực hiện thảo luận nhóm với nhóm người
dân, tập trung tìm hiểu các vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân trong
khu dân cư, nhận thức của người về việc hình thành tổ thu gom rác của phường,
hoạt động của tổ thu gom rác của phường, ý thức của người dân trong khu dân cư
về hoạt động thu gom rác đúng quy định và quá trình người dân tham gia quyết
định việc đóng phí vệ sinh để thuê người quét dọn khu tập thể.
5.4. Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi
Phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi được tác giả thực hiện trong khoảng
thời gian từ tháng 4/2013 đến tháng 8/2013. Kết quả của cuộc khảo sát là nguồn số
liệu được sử dụng chính thức trong luận án.

13


Những câu hỏi trong bảng hỏi đưa ra nhằm thu thập các số liệu định lượng
tìm hiểu thực trạng tham gia của người dân trong các hoạt động phân loại, thu gom
và xử lý rác thải. Đây sẽ là bộ dữ liệu chính cho các kết quả tác giả trình bày trong
chương 2 của luận án. Nội dung chính được đưa ra trong bảng hỏi bao gồm:
(i) Mô tả thực trạng quản lý rác thải tại địa phương, thông qua các hoạt động
phân loại, thu gom, xử lý rác thải và đóng phí vệ sinh môi trường của người dân
(ii) Sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải, thông qua
mức độ tham gia trong hoạt động phân loại, thu gom và xử lý rác thải; mức độ tham
gia đóng góp ra các quyết định liên quan tới vấn đề quản lý rác thải


Giới tính

14

%

Ứng Hòa
Số
Tỷ lệ %
lượng


2

3

4

- Nam

97

47,5

87

40,8

- Nữ

- THCS

16

8,0

89

42

- THPT

49

24,4

66

31,1

- Trung cấp

19

9,5

12

5,7



- Từ 30 – 45 tuổi

44

22,2

48

22,7

- Từ 46 – 61 tuổi

69

34,8

99

46,9

- Trên 61 tuổi
Đặc điểm nghề nghiệp chính

45

22,7

52


0

-Không cố định thời gian làm việc

57

27,9

131

62,1

- Không tạo thu nhập

9

4,4

22

10,4

- Nghỉ hưu

62

30,4

34


cầu/giá trị, và
đặc điểm xã
hội

Nhóm yếu tố
chủ quan

1. Phân loại, thu gom và xử lý
rác
2. Đóng phí vệ sinh môi trường
3. Tuyên truyền, vận động
4. Kiểm tra, giám sát
5. Thảo luận ra quyết định
quản lý rác thải

CÁC YẾU TỐ
ẢNH HƯỞNG
16

Chính sách,
văn hóa, thói
quen, truyền
thông

Các bên liên
quan trong
hoạt động
QLRT

Nhóm yếu tố


17


của đô thị hóa đến vấn đề quản lý rác thải đô thị cũng được đề cập trong chương
một.
Chương 2: Thực trạng tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác
thải đô thị. Chương 2 có hai nội dung chính, gồm (i) giới thiệu khái quát hoạt động
quản lý rác thải đô thị tại quận Hoàn Kiếm và huyện Ứng Hòa, và (ii)mô tả các hoạt
động tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải
Chương 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân trong
hoạt động quản lý rác thải đảm bảo phát triển bền vững đô thị. Chương này sẽ nhận
diện các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của người dân, phân tích,
đánh giá các yếu tố và mối quan hệ của các yếu tố; và lồng ghép các phân tích trong
ba chiều cạnh của phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và môi trường.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

Trong phần viết này, tác giả sẽ trình bày những kết quả được ghi nhận trong
các công trình nghiên cứu trước đó. Những nghiên cứu này được chia thành 3 chủ
đề, gồm: những nghiên cứu về hoạt động quản lý rác thải nói chung, nhóm nghiên
cứu về sự tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải và nhóm nghiên
cứu về phát triển bền vững đô thị.
2.1.Những nghiên cứu về hoạt động quản lý rác thải
Xét từ góc độ lý luận, nhiều công trình nghiên cứu đã phân tích và chỉ ra các
phương diện của khái niệm “quản lý rác thải” và “quản lý rác thải bền vững”.
Những nghiên cứu này đều chỉ ra sự cần thiết của một tiếp cận tổng hợp và có tính
hệ thống đối với hoạt động quản lý rác thải [Hoffman&Muller, 2001], [Seadon,
2010]. Vận dụng các tiếp cận này khi đưa vào phân tích tình hình thực tiễn, nhiều
công trình nghiên cứu đã tập trung mô tả thực trạng phân loại, thu gom, tập kết, vận
chuyển, xử lý rác thải; đồng thời chỉ ra những tồn tại trong công tác quản lý từ các

Dựa trên việc xác định các nguyên nhân, khó khăn và thách thức đối với hoạt
động quản lý rác thải, nhiều tác giả đã đề xuất các giải pháp từ nhiều chiều cạnh
khác nhau như kỹ thuật, kinh tế, cơ chế thể chế và xã hội [Skinner, 1993],
[Price&Joseph, 2000], [Kaosol, 2009], [Ozkan, 2010], [Jalil, 2010], [Ibrahim cùng
cộng sự, 2012]. Các nhóm giải pháp được đưa ra chủ yếu là (1) nhóm giải pháp về
kỹ thuật như tái sử dụng, tái chế rác thải; đồng thời có thể tạo ra năng lượng từ các
hoạt động này hướng tới phát triển bền vững cho vùng đô thị; (2) nhóm giải pháp
kinh tế như giảm thiểu các nhu cầu tiêu thụ của người dân, (3) nhóm giải pháp thể
chế nhằm phát huy vai trò của các cấp chính quyền trong việc thu gom, tập hợp rác,
tạo dựng một trung tâm xử lý rác thải với công nghệ hợp lý và giảm chi phí xử lý
dựa trên lượng rác thải phát ra; (4) nhóm giải pháp từ phía cộng đồng cần giáo dục
nâng cao nhận thức cộng đồng trong việc chứa đựng và xử lý rác thải. Có những tác
giả nhấn mạnh hơn đến các giải pháp từ cộng đồng và đề cao vai trò của các hộ gia
đình với tư cách là các chủ thể thải rác [Memon, 2010], [Nahman&Godfrey, 2010],
trong đó vai trò của người dân là chủ động tham gia chứ không phải bị động thực
hiện do chịu sự quản lý của luật pháp [Ozkan, 2010].
Quản lý rác thải ở Việt Nam cũng là một vấn đề quan tâm của người nghiên
cứu và các nhà quản lý và hoạch định chính sách môi trường. Một mặt, các nghiên
cứu đã mô tả thực trạng quản lý rác thải ở Việt Nam, chủ yếu tập trung vào các vấn
đề cơ sở hạ tầng hay kỹ thuật và công nghệ xử lý. Mặt khác, các nghiên cứu đã chỉ

19


ra những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý rác thải, do công nghiệp hóa tăng
nhanh và đô thị hóa không có kiểm soát như: rác thải rắn không được phân loại tại
nguồn phát rác, bãi rác như lượng mùi thải ra, ô nhiễm đất và nước quanh khu bãi
rác [Nguyen Phuoc Dan&Nguyen Trung Viet, 2009], [Nguyễn Đức Khiển, 2009],
[Nguyen Phuc Thanh cùng cộng sự, 2010). Dựa trên những vấn đề nảy sinh hiện
nay trong quản lý rác thải tại đô thị, một số tác giả cũng đã đề ra các giải pháp khắc

trong bối cảnh của những nước nghèo và kém phát triển. Vì thế, ông đã đề xuất một
thang đo riêng cho nhóm những nước này. Sự khác biệt trong mô hình của Choguill
là đã bổ sung thêm cấp độ thấp nhất trong bậc thang, đó là sự “tự quản lý” của
chính cộng đồng với sự trợ giúp của các tổ chức phi chính phủ bất chấp những phản
đối của chính quyền. Dựa trên các thang bậc nghiên cứu sự tham gia, nhiều công
trình nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khác nhau đã phân tích mức độ tham gia của
cộng đồng trong các kế hoạch chiến lược xây dựng và phát triển của cộng đồng.
Trong lĩnh vực môi trường, yếu tố sự tham gia của cộng đồng cũng đuợc coi trọng.
Phần lớn các nghiên cứu về sự tham gia trong lĩnh vực môi trường đã đề cập đến sự
tham gia của cộng đồng trong việc ra các quyết định môi trường hay triển khai và
thi hành chính sách về môi trường. Trong quá trình thực hiện các dự án phát triển,
rất nhiều các công cụ đo lường, đánh giá ảnh hưởng của dự án đến môi trường và
tác động đến sức khỏe của người dân đã được thực hiện, như đánh giá tác động môi
trường (environmental impact assessment – EIA) và đánh giá chiến lược môi trường
(strategic environmental assessment – SEA) [O’Faircheallaigh, 2010], [Ran, 2012],
[Spengler, 2009].
Riêng đối với hoạt động quản lý rác thải, sự tham gia của cộng đồng được
chia ra nhiều nhóm, dựa trên việc xác định các bên liên quan trong quá trình này.
Đó là mối quan hệ của nhà nước và tư nhân trong quá trình quản lý rác thải tại các
đô thị, trong đó nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của các tổ chức tư nhân, đơn lẻ
trong quá trình quản lý rác thải, đặc biệt trong bối cảnh khu vực nhà nước không đủ
khả năng đáp ứng các yêu cầu về dịch vụ quản lý rác thải [Ahmed&Ali, 2006],
[Chakrabarti cùng cộng sự, 2009], [Kruljac, 2012]. Hoặc các nghiên cứu về chủ thể
thải rác là các hộ gia đình. Các hộ gia đình, dù với tư cách cá nhân từng thành viên
hay là sức mạnh của tập thể cộng đồng thì cũng đều có vai trò quan trọng trong việc
thải rác, phân loại, thu gom và tái chế rác thải. Tuy nhiên, sự tham gia mạnh hay

21



22


yếu tố ảnh hưởng tới cách ứng xử của họ và đem lại lợi ích mà họ mong muốn trong
khuôn khổ phù hợp với chuẩn mực văn hóa môi trường. Hostovsky cùng cộng sự
[2010] cho rằng sự tham gia của cộng đồng trong đánh giá tác động môi trường ở
Việt Nam vẫn trong giai đoạn sơ khai, không có dấu hiệu của việc tham gia ở thời
kỳ đầu của lập kế hoạch và ra quyết định. Tác giả nhấn mạnh đến những đặc điểm
văn hóa ở Việt Nam mà khi triển khai đánh giá tác động môi trường cần quan tâm
tới như: việc sợ "mất mặt" của người Việt Nam khi trình bày hay phát biểu ý kiến
hoặc một lỗi sai nào bị bắt được, hoặc thói quen đi đến họp dân đều được cho tiền.
Nhìn chung, các nghiên cứu về sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt
động môi trường nói chung và hoạt động quản lý rác thải nói riêng đã chỉ ra được
khá đầy đủ những chiều cạnh khác nhau của vấn đề. Các nhóm nghiên cứu chủ yếu
gồm : (1) Mô tả thực trạng phân loại và thu gom rác thải của người dân, nhận diện
các yếu tố tác động đến hiệu quả thực hiện và đề xuất các giải pháp; (2) Phân tích
sự tham gia và mức độ tham gia của cộng đồng trong việc ra các quyết định môi
trường; xem xét sự tham gia như mục tiêu hay công cụ, như một giải pháp hay vấn
đề mới nảy sinh.
2.3. Những nghiên cứu về phát triển đô thị bền vững
Trên thế giới, những nghiên cứu về phát triển bền vững đô thị cũng được
chia ra nhiều nhóm chủ đề khác nhau. Các nghiên cứu về phát triển bền vững đô thị
từ tiếp cận hệ thống đã chỉ ra những thành phần của bền vững đô thị, bao gồm các
yếu tố kinh tế, xã hội, và môi trường. Bên cạnh đó, một số tác giả còn bổ sung thêm
các nhân tố như văn hóa [Basiago, 1999], đạo đức và chính trị [Smith, 2011] hay tài
nguyên thiên nhiên [Alpopi cùng cộng sự, 2011]. Bên cạnh đó, một chủ đề cũng
nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả nghiên cứu là phân tích các yếu tố
thúc đẩy và cản trở sự bền vững đô thị, bao gồm những yếu tố thuộc về đời sống đô
thị, từ kinh tế, thể chế, chính trị, quy mô dân số, cơ sở hạ tầng đô thị… [Banister,
1998], [Bai cùng cộng sự, 2010], [Nour, 2011], [Fitzgerald, 2012]. Từ đó, một số

môi trường đô thị vẫn chưa được giải quyết triệt để như vấn đề rác thải đô thị, thu
gom và xử lý rác, hệ thống thoát nước gây úng ngập ở đô thị vẫn tiếp diễn. Lê Hồng
Kế [2009] lại chỉ ra những khó khăn về thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị còn
chưa đạt yêu cầu: tỷ lệ đất dành cho giao thông nhỏ bé, tỷ lệ thu gom chất thải rắn
tại các đô thị lớn nhỏ chưa cao, từ đó, nảy sinh ra nhiều thách thức cho công tác quy

24


hoạch phát triển đô thị như các vấn đề về đất đai, cấp nước, rác thải, giao thông
đường bộ, công ăn việc làm cho người dân, và tính công bằng xã hội giữa các nhóm
dân cư...Ngoài ra, có một số công trình khác đã tập trung phân tích từng khía cạnh
của sự phát triền bền vững , như bền vững về mặt xã hội [Trịnh Duy Luân, 2006],
[Giang Thanh Long, 2012], hay bền vững môi trường [Vincoli, 1996], [Nguyen Thi
Binh

Minh

cùng

cộng

sự,

2001],[Huge

cùng

cộng



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status