BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
TRONG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TĨNH GIA
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN ĐỨC THUẬN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
TRONG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA KHU VỰC TĨNH GIA
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH: Tổ chức quản lý dược
MÃ SỐ: CK 60 72 04 12
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Phương Nhung
Thời gian thực hiện: 18/07/2016 đến 18/114/2016
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN............................................................................ 3
1.1. Thực trạng về tình hình sử dụng thuốc................................................... 3
1.2. Quy định về kê đơn thuốc và tình hình kê đơn thuốc ........................... 5
1.3. Các chỉ số đánh giá sử dụng thuốc .......................................................... 9
1.3.1. Các chỉ số kê đơn ............................................................................... 9
1.3.2. Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện ................................................. 10
1.3.3. Các nghiên cứu về đánh giá sử dụng thuốc ..................................... 10
1.4. Vài nét về cơ sở nghiên cứu .................................................................... 15
1.4.1. Cơ cấu nhân lực của bệnh viện ........................................................ 15
1.4.2. Sơ đồ tổ chức bệnh viện................................................................... 16
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 18
2.1. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 18
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................... 18
2.3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................ 18
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu ......................................................................... 18
2.3.2. Mẫu nghiên cứu ............................................................................... 18
2.4. Thu thập số liệu ....................................................................................... 19
2.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ................................................ 19
2.6. Các chỉ số và biến số trong nghiên cứu. ................................................ 20
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 29
3.1. Một số đặc điểm của mẫu nghiên cứu ................................................... 29
3.1.1. Đặc điểm về tuổi và giới của bệnh nhân điều trị ngoại trú .............. 29
3.1.2. Một số đặc điểm kê đơn đối với bệnh nhân điều trị ngoại trú ......... 29
3.1.3. Đặc điểm bệnh lý bệnh nhân điều trị ngoại trú................................ 31
3.2. Thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú 32
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Viết tắt
ADR
Tiếng Anh
Adverse drug reaction
Tiếng Việt
Phản ứng có hại của thuốc
BHYT
Bảo hiểm Y tế
BN
Bệnh nhân
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
BYT
Bộ Y tế
DMT
International Nonproprietary Tên chung quốc tế không được
Name
đăng ký bản quyền
KS
Kháng sinh
PTGMHS
Phẫu thuật gây mê hồi sức
SD
Standard Deviation
Độ lệch chuẩn
SL
Số lượng
TB
Trung bình
VNĐ
Bảng 3.18: Số lượng các tương tác có trong đơn .......................................... 42
Bảng 3.19: Mức độ tương tác thuốc trong đơn ............................................. 43
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Sơ đồ chu trình sử dụng thuốc ........................................................... 5
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức của bệnh viện ............................................................ 16
Hình 1.3: Sơ đồ tổ chức khoa Dược bệnh viện ................................................ 17
1.4.4. Vài nét về cơ sở vật chất phục vụ công tác KCB tại bệnh viện ............. 17
Hình 3.4: Biểu đồ phân loại tỷ lệ bệnh theo mã ICD10 ................................... 32
Hình 3.5: Đơn thuốc ghi không đúng quy định trẻ em dưới 72 tháng tuổi
không ghi tháng, không ghi họ tên bố hoặc mẹ ............................................... 34
Hình 3.6: Đơn thuốc ghi không đúng quy định về địa chỉ bệnh nhân ............. 35
Hình 3.7: Đơn thuốc không ghi đường dùng của thuốc ................................... 36
Hình 3.8: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ đơn có tương tác thuốc ................................. 42
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người vì vậy vấn đề sử dụng
thuốc an toàn, hợp lý là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế. Tổ chức Y tế
thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng việc sử dụng thuốc hợp lý đòi hỏi người
bệnh phải nhận được liệu pháp điều trị phù hợp với tình trạng lâm sàng
của họ, với liều lượng phù hợp trong một khoảng thời gian thích hợp, với
chi phí thấp nhất cho họ và cộng đồng [29]. Sử dụng thuốc hợp lý đang trở
thành một vấn đề toàn cầu [25]. Tuy nhiên, tại nhiều quốc gia thực trạng
sử dụng thuốc không hợp lý đang ở mức độ đáng báo động. Ở các nước
đang phát triển ít hơn 40% bệnh nhân được điều trị theo các hướng dẫn
điều trị chuẩn [29]. Một số nghiên cứu đã cho thấy hơn 50% thuốc được
kê đơn hoặc bán không hợp lý [28].
Vấn đề sử dụng thuốc hợp lý cũng là một trong những mục tiêu quan
Khoa khu vực Tĩnh Gia năm 2015” với 2 mục tiêu như sau:
1. Mô tả thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại
trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh Gia năm 2015.
2. Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện đa khoa
khu vực Tĩnh Gia năm 2015.
Từ đó đưa ra một số kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao chất lượng kê
dơn thuốc trong điều trị ngoại trú hướng tới sử dụng thuốc hợp lý, an toàn và
hiệu quả tại bệnh viện.
2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng về tình hình sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc hợp lý là một trong những vấn đề ưu tiên của ngành
y tế và đã được tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa rõ từ những năm
1985 và cũng đã được đưa vào trong văn bản Việt Nam (thông tư
21/2013/TT-BYT) [4, 25].
Sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc đáp ứng được yêu cầu lâm
sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người bệnh (đúng liều,
đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được
những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm
giảm tới mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng [4].
Thực trạng nhu cầu sử dụng thuốc lớn như hiện nay và không ngừng
gia tăng thì sử dụng thuốc hợp lý trở thành một thách thức lớn. Theo báo cáo
của tập đoàn IMS Health, thị trường Bắc Mỹ chiếm tỷ lệ lớn nhất so với các
khu vực khác (khoảng 40% doanh số dược phẩm bán ra trên thế giới hàng
năm), trong khi toàn bộ châu Á, châu Phi, châu Úc chỉ chiếm khoảng 19%
[21]. Tuy nhiên, theo dự báo thị trường mới nổi tại các nước đang phát triển
dự kiến sẽ vượt qua 5 nước EU (Pháp, Đức, Anh, Ý và Tây Ban Nha) về chi
người và nông nghiệp, mà đa phần là tình trạng sử dụng không hợp lý [5].
Bên cạnh đó, việc lạm dụng thuốc, kê quá nhiều thuốc cho bệnh nhân
cũng làm tăng nguy cơ gặp phản ứng có hại. Hậu quả do phản ứng có hại của
thuốc gây ra đã và đang được nhìn nhận là một vấn đề nghiêm trọng gây ảnh
hưởng lớn đến việc điều trị của người thầy thuốc trên lâm sàng. Theo một
nghiên cứu tại Mỹ, ADR là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ tư đến thứ sáu
ở Mỹ [22]. Tại một số quốc gia Châu Âu, tỉ lệ nhập viện do ADR khoảng hơn
10% (Na Uy 11,5%; Pháp 13,0%; Anh 16,0%). Thiệt hại kinh tế gây ra bởi
ADR là đáng báo động. Theo một nghiên cứu thực hiện ở Mỹ vào năm 2002,
chi phí y tế hằng năm cho bệnh tật và tử vong liên quan đến thuốc là khoảng
177,4 tỷ USD. Tại Anh, chi phí này là khoảng 847 triệu USD và tại Đức là
4
588 triệu USD. Gánh nặng do ADR đòi hỏi phải có biện pháp can thiệp tích
cực thông qua hoạt động cảnh giác dược [23, 24]. Vì vậy, Tổ chức Y tế thế
giới khuyến cáo “các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, cần dùng
thuốc hợp lý hơn để sử dụng nguồn lực tài chính có hiệu quả và cung cấp
được nhiều thuốc hơn cho nhân dân” [28].
Như vậy, cần có những đánh giá về tình hình sử dụng thuốc để từ đó
có những can thiệp phù hợp.
1.2. Quy định về kê đơn thuốc và tình hình kê đơn thuốc
Sử dụng thuốc là khâu chủ chốt trong chu trình cung ứng thuốc thể
hiện kết quả của một chuỗi hoạt động đưa thuốc đến người bệnh. Sử dụng
thuốc chịu ảnh hưởng của bốn bước trong chu trình, bao gồm: chẩn đoán, kê
đơn, giao phát và tuân thủ điều trị. Chu trình sử dụng thuốc thể hiện ở sơ đồ
sau [25]:
Chẩn đoán
Tuân thủ
Theo khuyến cáo của WHO, một đơn thuốc phải bao gồm các nội dung
thông tin sau:
Tên, địa chỉ của người kê đơn và số điện thoại (nếu có)
Ngày kê đơn
Tên thuốc khuyến cáo là kê tên gốc, hàm lượng thuốc
Dạng thuốc và số lượng thuốc
Thông tin về thuốc: số thuốc sử dụng 1 lần, tần suất dùng thuốc và
hướng dẫn đặc biệt và cảnh báo
Tên, địa chỉ, tuổi bệnh nhân (trẻ em và người cao tuổi)
Chữ ký của người kê đơn [27].
Việt Nam cũng đã ban hành những văn bản hướng dẫn về kê đơn
thuốc. Luật khám chữa bệnh có hiệu lực từ ngày 01/01/2011 quy định: khi kê
đơn thuốc, người thầy thuốc phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc thông tin
6
về thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng thuốc. Việc kê
đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán bệnh, tình trạng bệnh của người bệnh.
Kê đơn tốt phải đảm bảo sự cân bằng giữa các yếu tố hợp lý, an toàn, hiệu
quả, kinh tế và tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân [12]. Để có thể hướng
dẫn chi tiết hơn về quy định kê đơn thuốc Bộ Y tế đã ban hành Quyết định số
04/2008/QĐ-BYT ban hành quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú
[3]. Căn cứ vào quyết định này nhóm nghiên cứu đã đưa ra tiêu chí đánh giá
đơn thuốc ngoại trú ghi đúng quy định tại bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh
Gia năm 2015 được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.1. Tiêu chí đánh giá đơn thuốc ghi đúng quy định
STT Tiêu chí
1
cách
hoa
dùng
thuốc
Số lượng thuốc hướng tâm thần hoặc tiền chất viết thêm số
0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số (nhỏ hơn 10).
7
Mặc dù, Tổ chức y tế thế giới đã đưa ra những khuyến cáo và mỗi quốc
gia hầu hết đều có ban hành các quy định về kê đơn thuốc. Tuy nhiên, vấn đề
tuân thủ các quy định về kê đơn thuốc thường xuyên vi phạm.
Theo một nghiên cứu của Patel V và cộng sự tại Ấn Độ năm 2005, 990
đơn thuốc khảo sát thì có tới hơn một phần ba trong tổng số đơn thuốc thông
tin xác định bác sỹ điều trị là không rõ ràng, hơn một nửa các đơn thuốc
không ghi đầy đủ các thông tin về bệnh nhân (tình trạng bệnh, địa chỉ, tên
tuổi…). Phần lớn các đơn thuốc chữ viết và hướng dẫn sử dụng thuốc cho
bệnh nhân không rõ ràng. Hơn 90% đơn thuốc chỉ kê biệt dược [26].
Tại Việt Nam, vấn đề vi phạm các quy định thực hiện quy chế kê đơn
thuốc trong điều trị ngoại trú cũng thường xuyên gặp phải tại các bệnh viện.
Tổng hợp một số nghiên cứu về thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc
trong điều trị ngoại trú chúng tôi có bảng số liệu sau:
Bảng 1.2: Chấp hành các quy định về kê đơn thuốc cho bệnh nhân
ngoại trú tại một số bệnh viện
TT
1
2
100,0
0,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
Ghi đầy đủ họ tên, tuổi, giới
tính BN
Đơn ghi địa chỉ bệnh nhân cụ
thể đến số nhà, đường phố
hoặc thôn, xã
Gạch chéo phần đơn trắng/
(INN).
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh.
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm.
Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin.
Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu
do Bộ Y tế ban hành.
9
1.3.2. Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện
Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc
Chi phí tiền thuốc trung bình của mỗi đơn
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm
Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin
Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị
Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe
Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách
quan.
Theo khuyến cáo của WHO, số thuốc trung bình trên một đơn thuốc là
1,6-1,8. Tỷ lệ % thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết yếu lý tưởng là
100,0%. Tỷ lệ % thuốc được kê theo tên generic được khuyến cáo là 100,0%.
Tỷ lệ % đơn có kê kháng sinh là trong khoảng 20,0% - 26,8%. Tỷ lệ % đơn có
kê thuốc tiêm được khuyến cáo trong khoảng 13,4 - 24,1% [19].
1.3.3. Các nghiên cứu về đánh giá sử dụng thuốc
1.3.3.1. Các nghiên cứu về đánh giá sử dụng thuốc trên thế giới
Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới sử dụng bộ chỉ số của
WHO/INRUD để đánh giá về tình hình sử dụng thuốc.
Tại các nước phát triển như Mỹ, tình trạng lạm dụng kháng sinh vẫn
xảy ra đối với nhiều loại bệnh, trên nhiều đối tượng bệnh nhân. Nghiên cứu
Nepal
(2014) [32]
Butan
(2015)
[34]
3,02
2,2
2,77
2,5
24,2
54,2
40,4
41,9
17,5
10,0
0,0
2,9
42,0
% BN viêm đường
hô hấp trên được kê
kháng sinh
Các chỉ số kê đơn trong thực hành của một số quốc gia trên so với
khuyến cáo của WHO có sự khác biệt. Thông thường số thuốc trung bình
trong 1 đơn của các quốc gia này là trên 2 thuốc, cao hơn so với khuyến cáo
của WHO từ 1,6 -1,8 thuốc. Tỷ lệ % thuốc nằm trong danh mục thuốc thiết
yếu của các quốc gia này lại thấp hơn so với khuyến cáo là 100,0%. Tỷ lệ %
thuốc được kê theo tên generic cũng tại các quốc gia trên có sự khác nhau và
thấp hơn so với khuyến cáo (100,0%). Tỷ lệ % đơn có kê kháng sinh tại các
quốc gia trên là cao hơn so với khuyến cáo còn tỷ lệ % đơn có kê thuốc tiêm
thì thấp hơn hoặc nằm trong khuyến cáo của WHO [19].
11
1.3.3.2. Các nghiên cứu về đánh giá sử dụng thuốc tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các nghiên cứu sử dụng chỉ số đánh giá sử dụng thuốc
cũng cho thấy một thực trạng đáng báo động. Các nghiên cứu về một số chỉ
số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú đã thực hiện tại một số bệnh viện
được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 1.4: Kết quả nghiên cứu về một số chỉ số kê đơn của một số
bệnh viện
T
T
Chỉ số
thành phố
Thái Bình
(2015) [9]
2,4 (biên
độ 1-7)
3,2 (biên
độ 1-7)
4,2 (biên độ 18)
3,9 (biên độ
1-6)
39,3
42,7
44,6
39,3
10,0
23,3
50,6
52,5
Trong kê đơn, việc lạm dụng vitamin còn xảy ra phổ biến. Tỷ lệ kê
đơn thuốc vitamin tại các bệnh viện là rất khác nhau. Theo kết quả nghiên
cứu tại bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn cũng trên địa tỉnh Thanh Hoá thì tỷ lệ kê
đơn có vitamin là 50,6% còn tại bệnh viện C Thái Nguyên thì tỷ lệ kê đơn
vitamin thấp, chỉ chiếm 10,0% [2, 8]. Chi phí tiền thuốc vitamin trung bình
trong 1 đơn tại BVĐK Bỉm Sơn là 20.197 VNĐ chiếm tỷ lệ là 12,5% [2].
Tình trạng thuốc được kê theo tên thương mại diễn ra phổ biến đặc
biệt là những thành phố lớn mức thu nhập người dân cao, tỷ lệ thuốc được kê
theo tên gốc thấp. Theo nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Phương Thúy tại
thực hiện tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương năm 2015 thì tỷ lệ kê tên gốc
chỉ là 4,42% [16]. Còn đối với bệnh viện C Thái Nguyên, BVĐK thành phố
Thái Bình tỷ lệ kê tên gốc tương ứng chiếm tới 95,8% và 24,9% với đơn BHYT
[8, 9]. Như vậy, tỷ lệ thuốc được kê theo tên gốc tại các bệnh viện đều không
đạt 100,0% như khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới.
Thuốc tiêm là một dạng thuốc đặc biệt khi sử dụng thường cần phải có
sự giám sát của cán bộ y tế trừ một số dạng bào chế đặc biệt bệnh nhân có
thể tự sử dụng như bút tiêm insulin tuy nhiên chi phí lại đắt. Vì vậy, việc hạn
chế kê đơn thuốc tiêm sẽ tạo thuận lợi cho bệnh nhân và tiết kiệm chi phí
điều trị cho bệnh nhân. Tỷ lệ đơn có kê thuốc tiêm tại một số bệnh viện đều
13
thấp hơn so với khuyến cảo của WHO. Tại bệnh viện đa khoa thành phố
Thái Bình năm 2015 không có đơn nào kê thuốc tiêm với đối tượng BHYT
và bệnh viện C Thái nguyên cũng chỉ có 0,5% đơn có kê thuốc tiêm [8, 9].
Tại bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn năm 2014 tỷ lệ kê đơn thuốc tiêm là 8,2%
với chi phí dành cho thuốc tiêm là 15,8% [2].
Chi phí tiền thuốc trung bình cho một đơn thuốc tại trung tâm và các
bệnh viện cũng có sự dao động. Chi phí tiền thuốc trung bình cho đối tượng
BHYT tại BVĐK Bỉm Sơn Thanh Hoá, BVĐK thành phố Thái Bình tương
có thể gây nguy hiểm tới tính mạng người bệnh nếu sử dụng các thuốc này
cùng nhau [14]. Tỷ lệ tương tác thuốc ở bệnh viện đa khoa thành phố Thái
Bình chỉ là 6,25% đối với đơn BHYT và 9,0% đối với đơn không phải là
BHYT [2]. Đặc biệt đối với bệnh viện C Thái nguyên thì không có tương
tác đối với đơn BHYT [7].
1.4. Vài nét về cơ sở nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh Gia là một bệnh viện đa khoa khu
vực hạng II với quy mô 400 giường bệnh thực tế, 20 khoa phòng, có 8
phòng khám cho bệnh nhân ngoại trú. Tổng số lượt khám chữa bệnh năm
2015 là: 70.137 lượt.
1.4.1. Cơ cấu nhân lực của bệnh viện
Hiện tại, bệnh viện có 256 cán bộ công nhân viên với cơ cấu nhân lực
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.5: Cơ cấu nhân lực tại bệnh viện đa khoa khu vực Tĩnh Gia
STT
Trình độ
Số lượng
Tỷ lệ (%)
1
2
Bác sỹ chuyên khoa II
Thạc sỹ - bác sỹ
1
4
100,0
7
Tổng
15
1.4.2. Sơ đồ tổ chức bệnh viện
Sơ đồ tổ chức của bệnh viện được thể hiện trong hình sau:
BAN GIÁM ĐỐC
Các đoàn thể
Khối lâm sàng
Hội đồng tư vấn
Khối cận lâm sàng
Phòng chức năng
1. Khoa Hồi sức cấp
cứu
1. Khoa Chẩn
đoán hình ảnh
1. Phòng Tổ chức
hành chính
Hình 1.2: Sơ đồ tổ chức của bệnh viện
1.4.3. Khoa Dược bệnh viện
Cơ cấu nhân lực khoa Dược: Khoa Dược có 14 cán bộ với 2 dược sỹ
đại học, 2 dược sỹ cao đẳng, 9 dược sĩ trung học, 1 kỹ thuật viên dược.
Chức năng: Khoa Dược có chức năng quản lý và tham mưu cho Giám
đốc bệnh viện về toàn bộ công tác Dược trong bệnh viện nhằm đảm bảo cung
16
cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện
sử dụng thuốc an toàn, hợp lý.
TRƯỞNG KHOA
DƯỢC
P. TRƯỞNG
KHOA DƯỢC
Thông tin
thuốc –
DLS
Tổ dược
chính
Bộ phận kho
cấp phát
ngoại trú
Bộ phận
phòng khám được trang bị đầy đủ máy móc cũng như các thiết bị khám bệnh
cơ bản như huyết áp, cân, nhiệt kế... để việc chẩn đoán bệnh được chính xác
hơn bệnh viện đã trang bị đầy đủ hệ thống máy móc xét nghiệm cơ bản như
sinh hóa, phân tích tế bào, vi sinh đặc biệt trong năm 2014 mới trang bị thêm
máy miễn dịch tự động hiện đại Cobas E411. Còn về chẩn đoán hình có đầy
đủ máy móc như Xquang, Siêu âm màu, Điện tim, Lưu huyết não, Đo độ
loãng xương và máy Citi từ đó giúp bác sỹ có thêm những thông tin chẩn
đoán chính xác tăng hiệu quả khám chữa bệnh tại bệnh viện.
17